bai thuyet trinh tai chinh tien te - Pdf 16

TÓM TẮT NỘI DUNG THUYẾT TRÌNH
NHÓM THỰC HIỆN:
NHÓM 8
TRƯỜNG CĐ CÔNG THƯƠNG THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
KHOA: QUẢN TRỊ KINH DOANH
LƠP: QTKD 32D
• I) Tổng quan Thị trường Bảo hiểm ở Việt Nam
• II) Các loại hình Bảo hiểm
• 1) Khái niệm Bảo hiểm
• 2) Phân loại các loại hình Bảo hiểm
• III) Kết luận Thị Trường Bảo Hiểm ở Việt Nam.
Các thành viên nhóm 8:
- Hồ Quang Toàn
- Nguyễn Anh Dũng
- Lại Văn Mến
- Nguyễn Đức Linh
- Đoàn Quá
- Nguyễn Mạnh Linh
- Trần Thị Thới
- Trương Thị Phúc
- Đặng Thị Thu Hiền
- Nguyễn Văn Hiếu
- Nguyễn Thị Hương
- Nguyễn Thị Kim Hồng.
- Nguyễn Văn Nhã
I) TỔNG QUAN THỊ TRƯỜNG BẢO HIỂM Ở VIỆT NAM
Bảo hiểm là một lĩnh vực rất quan trọng đối với các quốc gia nói chung
và với Việt Nam nói riêng. Không chỉ là một biện pháp di chuyển rủi ro,
bảo hiểm ngày nay đã trở thành một trong những kênh huy động vốn hiệu
quả cho nền kinh tế. Thực tế hoạt động kinh doanh bảo hiểm thời gian
qua đã cho thấy sự lớn mạnh không ngừng của ngành bảo hiểm và nhiều

khu vực. Một số công ty bảo hiểm tuy mới đi vào hoạt động nhưng cũng
đã đạt được tốc độ tăng trưởng cao như Bảo Minh, Prudential, PJICO…
Vốn đầu tư cho hoạt động kinh doanh bảo hiểm tăng lên và theo đó khả
năng giữ lại phí bảo hiểm trong nước cũng được nâng lên tương ứng. Qui
định của nhà nước về tái bảo hiểm bắt buộc qua VINARE đã giúp mức
phí giữ lại của toàn thị trường tăng đều qua các năm. Tổng mức phí giữ
lại chiếm khoảng 70% tổng phí bảo hiểm gốc, giảm được một lượng
không nhỏ phí bảo hiểm chảy ra nước ngoài. Theo đánh giá của
HHBHVN, hiện nay doanh thu phí bảo hiểm của thị trường mới đạt mức
trên 2% GDP trong khi các nước phát triển trong khu vực thường đạt mức
8-10% GDP (bình quân thế giới khoảng 8%) do đó, tiềm năng phát triển
của các DN bảo hiểm vẫn còn rất lớn.
Các công ty bảo hiểm Việt Nam đang tích cực hợp tác, giúp đỡ nhau cùng
có lợi. Các công ty bảo hiểm đã có được bản đồng thoả thuận về khai thác
bảo hiểm cháy và các rủi ro đặc biệt. Đặc biệt, sự ra đời của Hiệp hội bảo
hiểm Việt Nam đại diện cho các doanh nghiệp cũng thể hiện những bước
tiến tích cực của bảo hiểm ViệtNam.
II) CÁC LOẠI HÌNH BẢO HIỂM
1) Khái niệm bảo hiểm:
Bo him l mt nghip v qua ú, mt bờn l ngi c bo
him cam oan tr mt khon tin gi l phớ bo him thc hin mong
mun cho mỡnh hoc cho mt ngi th 3 trong trng hp xy
ra ri ro s nhn c mt khon n bự cỏc tn tht c tr bi mt
bờn khỏc: ú l ngi bo him. Ngi bo him nhn trỏch nhim i
vi ton b ri ro v n bự cỏc thit hi theo cỏc phng phỏp ca
thng kờ.
Núi cỏch khỏc: Bo him cú th nh ngha l mt phng sỏch h
gim ri ro bng cỏch kt hp mt s lng y cỏc n v i
tng bin tn tht cỏ th thnh tn tht cng ng v cú th d
tớnh c.

trong quá trình sử dụng nó tạo ra khoản lời cho nhà Bảo hiểm, nó đợc sử
dụng hết vào viẹc trả tiền Bảo hiểm khi có sự cố bảo hiểm xảy ra.
Thực tế ở Việt Nam hiện nay làm thế nào dể cho mọi ngời hiểu biết
rõ về Bảo Hiểm nhân thọ và thấy đợc lợi ích to lớn của nó từ đó thu hút đ-
ợc nhiều ngời tham gia Bảo hiểm nhân thọ đủ lớn và hiệu quả sử dụng của
nó có ý nghĩa đối với đời sống xã hội, đây là một vấn đề đang gạp nhiêù
khó khăn nó phải đợc sự quan tâm chung của mọi tổ chức xã hội, không
chỉ riêng ngành Bảo Hiểm. Xuất phát từ những suy nghĩ đó nên việc chọn
đề tài Bàn về nghiệp vụ Bảo hiểm nhân thọ và các loại hình Bảo hiểm
nhân thọ đang đợc triển khai ở Việt Nam hiện nay là rất thiết thực và
có ý nghĩa to lớn về mạt lý luận trong lĩnh vực Bảo hiểm nói chung và
trong Bảo hiểm nhân thọ nói riêng.
Với những u điểm của bảo hiểm nói chung và bảo hiểm nhân thọ nói
riêng thì việc tham gia loại hình này luôn là vấn đề cần thiết.
Thực tế ở Việt Nam hiện nay làm thế nào dể cho mọi ngời hiểu biết
rõ về Bảo Hiểm nhân thọ và thấy đợc lợi ích to lớn của nó từ đó thu hút đ-
ợc nhiều ngời tham gia Bảo hiểm nhân thọ đủ lớn và hiệu quả sử dụng của
nó có ý nghĩa đối với đời sống xã hội, đây là một vấn đề đang gạp nhiêù
khó khăn nó phải đợc sự quan tâm chung của mọi tổ chức xã hội, không
chỉ riêng ngành Bảo Hiểm. Xuất phát từ những suy nghĩ đó nên việc chọn
đề tài Bàn về nghiệp vụ Bảo hiểm nhân thọ và các loại hình Bảo hiểm
nhân thọ đang đợc triển khai ở Việt Nam hiện nay là rất thiết thực và
có ý nghĩa to lớn về mạt lý luận trong lĩnh vực Bảo hiểm nói chung và
trong Bảo hiểm nhân thọ nói riêng.
Bảo hiểm nhân thọ và nguyên tắc hoạt động:
1- Bảo Hiểm Nhân thọ là gì?
a- Khái niệm:
Bảo hiểm nhân thọ là sự cam kết giữa công ty bảo hiểm với ngời
tham gia bảo hiểm mà trong đó công ty bảo hiểm có trách nhiệm trả số
tiền bảo hiểm (số tiền bảo hiểm) cho ngời tham gia khi nguơì tham gia có

bị thơng tật toàn bộ vĩnh viễn do tai nạn thì công ty sẽ dừng thu phí nhng
hợp đồng vẫn đợc duy trì và công ty Bảo hiểm sẽ trả toàn bộ số tiền bảo
hiểm khi hết hạn hoạt động.
Mặt khác hoạt động của Bảo hiểm nhân thọ cũng dựa trên quy luật
số đông bù số ít, cụ thể đó là trong trờng hợp ngời tham gia không phải
đống phí nhng hoạt động vẫn đợc duy trì. Khi đó Bảo hiểm nhân thọ sẽ
dựa vào số đông ngời để xan xẻ để bù đắp sự thiếu hụt đó và khắc phục
dần trong nhiều năm. Nó thể hiện tính chất xã hội hoá rất cao đồng thời
còn mang cả tính nhân đạo nhân văn cao cả bởi vì Bảo hiểm nhân thọ luôn
ở bên cạnh mỗi cá nhân, mỗi tập thể những lúc họ gặp khó khăn.
Bảo hiểm nhân thọ còn đảm bảo đợc nguyên tắc trung thực và tín
nhiệm tuyệt đối, luôn tạo cơ hội và hỗ trợ cho ngời tham gia có đợc những
ích lợi đích thực, đảm bảo cho cả hai bên cùng có lợi.
Sự cần thiết và tác dụng của bảo hiểm nhân thọ:
Tại sao cần thiết mua bảo hiểm nhân thọ
Có thể khẳng định rằng các sản phẩm bảo hiểm nhân thọ chắc chắn
mang lại lợi ích cho các chủ hợp đồng khi họ tham gia. Mặt khác còn góp
phần tăng trởng và phát triển kinh tế. Tuy nhiên áp dụng ở Việt Nam
nghiệp vụ này cho thấy bảo hiểm nhân thọ ra đời đáp ứng đợc những vấn
đề cơ bản sau:
Trờng hợp ngời tham gia không may bị chết, gia đình có tiền để trả
nợ trả những khoản chi phí mai táng chôn cất. Bù đắp dợc những khoản
thu nhập thờng xuyên cho gia đình. Khi ngời chủ gia đình bị chết hoặc là
ngời tham gia là ngời có thu nhập chính trong gia đình nay không còn có
thu nhập nữa.
Trờng hợp ngời tham gia không may bị thơng tật vĩnh viễn hoặc bị
ốm đau, gia đình sẽ có tiền chi phí để cứu chữa (nh tiền thuốc, tiền nằm
viện, phẫu thuật). Đối với cuộc sống bình thờng: gia đình sẽ có tiền để trả
học phí và các khoản lệ phí khác trong trờng hợp còn học đại học, cới xin,
khởi nghiệp kinh doanh Và có đợc khoản tiền để trả nợ nếu mua một

Tên nớc Tổng phí %bảo hiểm nhân thọ %so với GDP
Hàn quốc 36, 1 79 8, 68
Nhật bản 320 73 5, 6
Đài loan 9. 9 69 6, 0
Mĩ 522 41 3, 4
Anh 192 64, 5 7, 1
Đối với xã hội: bảo hiểm nhân thọ góp phần tạo thêm công ăn việc
làm cho ngời lao động nâng cao phúc lợi cộng đồng. Nh ở hàn quốc có
hơn một ngời làm việc ở các công ty bảo hiểm nhân thọ.
các loại hình bảo hiểm nhân thọ cơ bản:
Bảo hiểm sinh mạng có thời hạn:
Khái niệm:
- Bảo hiểm sinh mạng có thời hạn đợc hiểu là loại hình bảo hiểm mà
trong đó công ty bảo hiểm có trách nhiệm trả số tiền bảo hiểm cho ngời
tham gia khi họ không may bi chết. Đó là lúc công ty sẽ thanh toán toàn
bộ số tiền bảo hiểm.
Ví dụ: Một chủ thầu xây dựng đầu t một phần lớn tài sản của mình
vào một dự án. Nếu ông ta sống thì sẽ thu đợc món lợi lớn từ dự án, nhng
nếu không may ông ta chết thì vốn đầu t của ông ta sẽ mất và gia đình
ông ta sẽ gặp khó khăn về tài chính. Vì thế ông ta có thể mua hợp đồng
bảo hiểm sinh mạng có thời hạn để bảo vệ cho công việc đầu t xây dựng
của mình cho đến khi hoàn thành.
Bảo hiểm nhân thọ suốt cuộc đời:
Khái niệm:
Bảo hiểm nhân thọ suốt cuộc đời có số tiền bảo hiểm sẽ đợc trả khi
ngời đợc bảo hiểm chết, với điều kiện đã đóng đủ phí bảo hiểm cho đến
khi chết và nếu chết trớc tuổi 100. Giá trị của hợp đồng bảo hiểm nhân
thọ suốt cuộc đời tăng đều và sẽ bằng số tiền bảo hiểm nếu ngời dợc bảo
hiểm còn sống và đã nộp phí đầy đủ cho đến tuổi 100. Nếu chủ hợp đồng
sống đến 100 tuppỉ và hợp đồng vẫn còn hiệu lực nh hợp đồng bảo hiểm

bảo hiểm hu trí và mua ngay hợp đồng bảo hiểm trợ cấp hu trí để đảm bảo
cuộc sống khi về hu cho đến khi chết.
Các loại hình:
Có hai loại trợ cấp hu trí đó là:
+Trợ cấp theo số tiền cố định.
+Số tiền trợ cấp có thể thay đổi.
các loại hình bảo hiểm nhân thọ đang đ ợc triển khai ở n ớc
ta hiện nay
bảo hiểm nhân thọ ở việt nam - khả năng và triển
vọng phát triển:
- Hợp đồng bảo hiểm nhân thọ là những hợp đồng dài hạn 5 năm, 10
năm, 17 năm Do đó sản phẩm chỉ thực sự đợc đánh giá là tốt vào thời điểm
kết thúc hợp đồng.
- Trong thời gian hợp đồng có hiẹu lực, nếu Bảo Việt thờng xuyên có
những cải tiến nâng cao chất lợng sản phẩm và phấn đấu hạ giá thành thì
chắc chắn sẽ sớm có đợc con số hàng trăm ngàn hợp đồng. Cha kể trên cơ
sở các sản phẩm hiện có, Bảo Việt lại phân ra một loạt các sản phẩm bảo
hiểm nhân thọ mới phù hợp với thị hiếu của khách hàng.
Xu hớng hoạt động và triển khai bảo hiểm nhân thọ ở nớc ta đã đạt
đợc những kết quả khả quan
Bảng 2: Thống kê phí bảo hiểm năm 1993
ở một số nớc trên thế giới
Tên nớc
Tổng số phí
bảo hiểm
Cơ cấu phí bảo hiểm (%)
Tỷ lệ phí
Bảo hiểm
nhân
thọ/GDP

Để nghiệp vụ ngày càng phát triển thì công ty phải không ngừng cố
gắng trong mọi khâu, mọi qui trình công việc triển khai nghiệp vụ để đáp
ứng yêu cầu đổi mới, hoàn thiện và nâng cao.
Bảng : Cơ cấu tình hình khai thác
Tháng Hợp đồng bảo Hợp đồng bảo Tăng giảm liên hoàn
hiểm có thời hạn
(%)
hiểm trẻ em (%)
bảo hiểm có
thời hạn (%)
bảo hiểm trẻ em
(%)
1 41, 92 58, 08 - -
2 39, 11 60, 89 - 12, 86 - 2, 06
3 40, 34 59, 66 19, 67 13, 68
4 43, 24 56, 76 35, 61 20, 37
5 43, 02 56, 98 52, 52 53, 84

Bảo hiểm PHI NHN TH và nguyên tắc hoạt động:
Tổng quan về bảo hiểm phi nhân thọ
1. Sự cần thiết về tác dụng của Bảo hiểm phi nhân thọ
Bảo hiểm phi nhân thọ là sự cam kết giữa ngời tham gia bảo hiểm
với ngời bảo hiểm mà trong đó, ngời bảo hiểm sẽ trả cho ngời tham gia
hoặc ngời thụ hởng quyền lợi bảo hiểm một số tiền nhất định khi có các
sự kiện đã định trớc xảy ra, còn ngời tham gia phải nộp phí bảo hiểm đầy
đủ, đúng hạn.
ví dụ nh:
- Các rủi ro do môi trờng thiên nhiên: Bão, lụt, động đất, rét, hạn, s-
ơng muối, dịch bệnh v.v
- Các rủi ro xảy ra do sự tiến bộ và phát triển của khoa học và kỹ

+ Nhóm các biện pháp tài trợ rủi ro bao gồm các biện pháp chấp
nhận rủi ro và bảo hiểm. Đây là các biện pháp đợc sử dụng trớc khi rủi ro
xảy ra với mục đích khắc phục các hậu quả tổn thất do rủi ro gây ra nếu
có.
+ Chấp nhận rủi ro: Đây là hình thức mà ngời gặp phải tổn thất tự
chấp nhận khoản tổn thất đó. Một trờng hợp điển hình của chấp nhận rủi
ro là tự bảo hiểm. Có rất nhiều cách thức khác nhau trong biện pháp chấp
nhận rủi ro, tuy nhiên có thể phân chia làm hai nhóm: chấp nhận rủi ro
thụ động và chấp nhận rủi ro chủ động.
- Bảo hiểm: Đây là một phần quan trọng trong các chơng trình quản
lý rủi ro của các tổ chức cũng nh cá nhân. Theo quan điểm của các nhà
quản lý rủi ro, bảo hiểm là sự chuyển giao rủi ro trên cơ sở hợp đồng.
Theo quan điểm xã hội, bảo hiểm không chỉ là chuyển giao rủi ro mà còn
là sự giảm rủi ro do việc tập trung một số lớn các rủi ro cho phép có thể
tiên đoán về các tổn thất khi chúng xảy ra. Bảo hiểm là công cụ đối phó
với hậu quả tổn thất do rủi ro gây ra, có hiệu quả nhất. Nh vậy, bảo hiểm
ra đời là đòi hỏi khách quan của cuộc sống, của hoạt động sản xuất kinh
doanh.
Vì vậy, khái niệm "bảo hiểm" trở nên gần gũi, gắn bó với con ngời,
với các đơn vị sản xuất kinh doanh. Có đợc quan hệ đó vì bảo hiểm đã
mang lại lợi ích kinh tế xã hội thiết thực cho mọi thành viên, mọi đơnvị có
tham gia bảo hiểm.
Tác dụng đó đợc thể hiện:
- Ngời tham gia bảo hiểm (cá nhân hay tổ chức) đợc trợ cấp, bồi th-
ờng những thiệt hại thực tế do rủi ro, bất ngờ gây ra thuộc phạm vi bảo
hiểm. Nhờ đó họ nhanh chóng ổn định kinh tế, khôi phục đời sống và sản
xuất kinh doanh
- Nhờ có bảo hiểm những ngời tham gia đóng góp một số phí tạo
thành nguồn quỹ bảo hiểm lớn ngoài chi trả hay bồi thờng còn là nguồn
vốn để đầu t phát triển kinh tế

hiểm trách nhiệm dân sự nh : bảo hiểm TNDS của chủ xe cơ giới ,bảo
hiểm TNDS của chủ lao động , Bảo hiểm trách nhiệm sản phẩm , bảo
hiểm trách nhiệm công cộng, Theo luật dân sự , trách nhiệm dân sự của
một chủ thể ( nh chủ tài sản, chủ doanh nghiệp, chủ nghề nghiệp) đợc
hiểu là trách nhiệm phải bồi thờng các thiệt hại về tài sản, về con ngời
gây ra cho ngời khác do lỗi của ngời chủ đó. Trách nhiệm dân sự bao gồm
trach nhiệm dân sự trong hợp đồng và trách nhiệm dân sự ngoài hợp
đồng. Thông thờng các dịch vụ bảo hiểm cung cấp sự bảo đảm cho các
trách nhiệm dân sự ngoài hợp đồng.
Ngời thứ ba trong bảo hiểm trách nhiệm dân sự là những ngời có
tính mạng, tài sản bị thiệt hại trong sự cố bảo hiểm và đợc quyền nhận bồi
thờng từ ngời bảo hiểm với t cách là ngời thụ hởng. Ngời thứ ba có quan
hệ về mặt trách nhiệm dân sự với ngời đợc bảo hiểm nhng chỉ có mối
quan hệ gián tiếp với ngời bảo hiểm.
Ví dụ, đó là ngời lao động gặp tai nạn lao động trong bảo hiểm
trách nhiệm dân sự chủ lao dộng đối với ngời lao động.
. Bảo hiểm con ngời phi nhân thọ
Mặc dù cũng là loại hình bảo hiểm con ngời, nhng bảo hiểm con
ngời phi nhân thọ trong BHTM có những đặc điểm chủ yếu sau đây:
- Hậu quả của những rủi ro mang tính chất thiệt hại vì rủi ro bảo
hiểm ở đây là tai nạn, bệnh tật, ốm đau thai sản liên quan đến thân thể và
sức khoẻ của con ngời. Những rủi ro ở đây khác với 2 sự kiện sống và
chết trong bảo hiểm nhân thọ và vì thế tính chất rủi ro đợc bộc lộ khá rõ
còn tính chất tiết kiệm không đợc thể hiện.
- Ngời đợc bảo hiểm thờng đợc quy địn trong một khoảng tuổi nào
đó, các công ty bảo hiểm không chấp nhận bảo hiểm cho những có độ
tuổi quá thấp hoặc quá cao tình trạng rủi ro diễn biến phức tạp, xác suất
rủi ro cao, việc kiểm soát và quản lý rủi ro rất khó thực hiện. Chẳng hạn ở
nớc ta, các công ty bảo hiểm không chấp nhận bảo hiểm cho những em bé
dới 12 tháng tuổi và những ngời trên 65 tuổi. Nhng ở nớc Anh lại quy

định của nhà nước về tái bảo hiểm bắt buộc qua VINARE đã giúp mức
phí giữ lại của toàn thị trường tăng đều qua các năm. Tổng mức phí giữ
lại chiếm khoảng 70% tổng phí bảo hiểm gốc, giảm được một lượng
không nhỏ phí bảo hiểm chảy ra nước ngoài. Theo đánh giá của
HHBHVN, hiện nay doanh thu phí bảo hiểm của thị trường mới đạt mức
trên 2% GDP trong khi các nước phát triển trong khu vực thường đạt mức
8-10% GDP (bình quân thế giới khoảng 8%) do đó, tiềm năng phát triển
của các DN bảo hiểm vẫn còn rất lớn.
Các doanh nghiệp bảo hiểm Việt Nam đã có đủ khả năng phục vụ các
ngành kinh tế, các tầng lớp nhân dân với việc tham gia vào nhiều hợp
đồng có mức trách nhiệm lớn tới hàng tỷ USD như bảo hiểm trong các
lĩnh vực hàng không; dầu khí; Nhà máy xi măng Chinfon, Nhà máy điện
Phú Mỹ, các toà nhà, khách sạn lớn cùng với hàng nghìn nhà xưởng, văn
phòng… Hoạt động đầu tư của các công ty đang tạo ra một nguồn vốn
lớn cho xã hội.
Các công ty bảo hiểm Việt Nam đang tích cực hợp tác, giúp đỡ nhau cùng
có lợi. Các công ty bảo hiểm đã có được bản đồng thoả thuận về khai thác
bảo hiểm cháy và các rủi ro đặc biệt. Đặc biệt, sự ra đời của Hiệp hội bảo
hiểm Việt Nam đại diện cho các doanh nghiệp cũng thể hiện những bước
tiến tích cực của bảo hiểm ViệtNam.
Tuy nhiên, cũng cần phải nhận thấy rằng, thị trường bảo hiểm Việt Nam
vẫn chưa thực sự đáp ứng được yêu cầu của quá trình phát triển kinh tế -
xã hội. Năng lực hoạt động của các doanh nghiệp bảo hiểm và môi giới
bảo hiểm còn khá nhiều hạn chế. Việc cạnh tranh không lành mạnh giữa
các DN bảo hiểm đang ở tình trạnh báo động. Do cạnh tranh gay gắt, các
DN bảo hiểm đã hạ phí bảo hiểm, tăng phần trợ cấp cho các đại lý, làm
giảm hiệu quả kinh doanh. Công tác giải quyết bồi thường chưa được
thực hiện tốt, chưa đảm bảo tối đa quyền lợi của khách hàng khi gặp thiệt
hại. Các sản phẩm bảo hiểm tuy đã đa dạng hơn trước, nhưng vẫn còn hạn
chế, chưa phát triển trong nhiều lĩnh vực quan trọng như thiên tai, nông

tác quản lý Nhà nước phải có những cải cách phù hợp. Do vậy, việc đào
tạo và đào tạo lại nhằm nâng cao trình độ của đội ngũ quản lý Nhà nước
về lĩnh vực bảo hiểm là rất cấp thiết.
Đồng thời, Nhà nước cần tiếp tục hoàn thiện cơ chế, chính sách về hoạt
động kinh doanh bảo hiểm để thị trường phát triển lành mạnh, an toàn,
phù hợp với yêu cầu hội nhập; bảo đảm tính chủ động và tự chịu trách
nhiệm của các doanh nghiệp kinh doanh bảo hiểm. Một chính sách phù
hợp để khuyến khích việc tham gia bảo hiểm của các cá nhân, tổ chức,
khuyến khích việc mở rộng thị trường, phạm vi hoạt động của các công ty
bảo hiểm là rất cần thiết.
2. Về phía các công ty bảo hiểm
Đối với một công ty bảo hiểm, năng lực về vốn, công nghệ, trình độ quản
lý, kinh doanh… là những yếu tố rất quan trọng tạo nên sức mạnh. Nếu
không tự hoàn thiện và nâng cao năng lực, các công ty bảo hiểm trong
nước sẽ khó có thể đứng vững và thành công trong điều kiện cạnh tranh
ngày càng trở nên gay gắt như hiện nay. Ngay từ bây giờ, các công ty bảo
hiểm trong nước cần tự tạo cho mình một vị thế vững chắc, duy trì và mở
rộng thị phần, tạo niềm tin ở khách hàng. Các công ty bảo hiểm không chỉ
phải đa dạng hoá sản phẩm, nâng cao chất lượng dịch vụ, mà còn phải
chú trọng đến việc chăm sóc khách hàng, giải quyết nhanh chóng, hợp lý
công tác bồi thường tổn thất trong các trường hợp xảy ra rủi ro được bảo
hiểm. Việc tăng cường đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ, phong cách phục
vụ, nâng cao đạo đức nghề nghiệp cho các cán bộ kinh doanh, đại lý môi
giới bảo hiểm cũng rất cần thiết. Các công ty bảo hiểm cần nhanh chóng
nắm bắt và ứng dụng các thành tựu của khoa học công nghệ, đặc biệt là
công nghệ thông tin vào quá trình khai thác và quản lý hoạt động kinh
doanh nhằm nâng cao hiệu quả kinh doanh, tiết kiệm chi phí quản lý, hạ
phí bảo hiểm một cách hợp lý. Hoạt động đầu tư cũng cần được đẩy mạnh
một cách có hiệu quả, bằng cách tận dụng tối đa các công cụ đầu tư tài
chính, tham gia tích cực vào thị trường chứng khoán. Khi tham gia đầu tư

rõ ràng hơn về tầm quan trọng của bảo hiểm, đồng thời, tích cực chủ
động tham gia mua bảo hiểm cho tài sản, con người, cũng như trách
nhiệm dân sự. Nhiều lĩnh vực bảo hiểm thiết yếu như bảo hiểm cháy nổ,
bảo hiểm trong nông nghiệp… chưa được các cá nhân, đơn vị quan tâm
một cách đúng mức. Đặc biệt, với những lĩnh vực có tiềm năng lớn như
bảo hiểm hàng hoá xuất nhập khẩu, bảo hiểm hàng không… các công ty


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status