Bài Thuyết trình Tài chính quốc tế - Pdf 55

Bài Thuyết trình
Tài chính quốc tế
Câu11: bình luận các biện pháp bình ổn tỷ giá( liên hệ Việt Nam)
I. Các định nghĩa cơ bản
Khái niệm:
Chính sách tỷ giá là những hoạt động của chính phủ( mà đại diện thường là NHTW) thông qua 1 chế
độ tỷ giá nhất định hay cơ chế điều hành tỷ giá) và hệ thống các công cụ can thiệp nhằm duy trì một
mức tỷ giá cố định hay tác động để tỷ giá biến động đến một mức cần thiết phù hợp với mục tiêu
chính sách kinh tế quốc gia.
Mục tiêu:
- ổn định tỷ giá trong phạm vi 1 biên độ dao động nhất định nhằm góp phần ổn định thương
mại, ổn định đầu tư và cán cân thanh tóan quốc tế
- góp phần thực hiện chuyển dịch cơ cấu kinh tế và mục tiêu của các chính sách vĩ mô khác
- đảm bảo sự ổn định của dự trữ quốc gia để thực hiện các nghĩa vụ TCQT
- ổn định sự phát triển của thị trường ngoại hối
- giữ vững chủ quyền quốc gia, nâng cao vị thế đồng nội tệ.
II. nội dung:
nội dung các chính sách tỷ giá(công cụ của chính sách tỷ gía)
a. công cụ trực tiếp
a.1 hoạt động của ngân hàng trung ương trên thị trường ngoại hối nhằm can thiệp trực tiếp vào cung-
cầu ngoại tệ
khái niệm:
Chính sách hối đoái: đây là biện pháp trực tiếp mà NHTW tác động tới tỷ giá hối đoái. Thông qua các
tổ chức kinh doanh ngoại hối, nhà nước đã chủ động tác động vào cung cầu ngoại tệ băng việc trực
tiếp mua bán vàng và ngoại tệ điều chỉnh tỷ gía
Khi tỷ gía ở mức cao( tức đồng nội tệ giảm giá ) tới mức làm ảnh hưởng tới các hoạt động kinh tế
trong nước cũng như các hoạt động kinh tế đối ngoại, NHTW sẽ bán ngoại tệ ra để thu nội tệ về. khi
đó cung ngoại tệ tăng tác động làm giảm tỉ giá, kéo tỷ giá xuống. ngược lại khi tỷ giá hối đoái giảm
xuống, NHTW sẽ mua ngoại tệ vào, kích thích cầu ngoại hối khi cung chưa kịp biến động để nâng tỷ
giá lên tới mức hợp lý.
ảnh hưởng

lợi cho xuất khẩu. Thêm vào đó, nhập khẩu trong quí 1 lại tăng đột biến (cho dù chủ yếu là nhập khẩu
máy móc thiết bị và nguyên vật liệu cho sản xuất) đã làm cho thâm hụt cán cân ngoại thương trở nên
trầm trọng hơn.
Đứng trước áp lực nêu trên, cộng với việc mong muốn gia tăng số lượng ngoại tệ dự trữ phòng khi
bất trắc xảy ra, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đã tung tiền đồng để mua vào một lượng lớn ngoại tệ
mà theo ước tính của Ngân hàng Thế giới, chỉ trong quí 1, dự trữ ngoại hối của Việt Nam tăng khoảng
3 tỉ Đôla, tương đương với gần 50.000 tỉ đồng được đưa vào lưu thông.
Có lẽ nhờ việc mua vào ngoại tệ mà trong những ngày đầu tháng 6/2007, tỷ giá đồng Việt Nam so
với đồng Đôla đã tăng trở lại lên mức trên 16.100, thay vì chỉ quanh con số 16.000 như thời gian
trước. Việc gia tăng ngoại tệ cho dự trữ quốc gia là điều cần thiết, nhưng việc bơm thêm một lượng
lớn tiền đồng vào nền kinh tế sẽ làm áp lực lạm phát gia tăng, khi mà mới năm tháng đầu năm chỉ số
giá tiêu dùng trong nước đã tăng 7,3% so với cùng kỳ năm ngoái (WB 2007).
Điều này làm cho mục tiêu khống chế mức tăng giá trong năm 2007 ở con số 6,5% trở nên khó
khăn hơn. Một trong những nhiệm vụ quan trọng nhất của Ngân hàng Nhà nước đang gặp thử thách.
Để giảm bớt áp lực gia tăng của chỉ số giá trong thời gian còn lại của năm 2007, chỉ có cách rút bớt
tiền ra khỏi nền kinh tế. Tăng dự trữ bắt buộc là giải pháp được lựa chọn. Với việc tăng tỷ lệ dự trữ
bắt buộc tiền gửi bằng đồng Việt Nam từ 5% lên 10% thì theo ước tính sẽ có khoảng 40.000-50.000 tỉ
đồng, tương đương với số tiền bỏ ra để mua 3 tỉ Đôla nêu trên, quay trở lại kho của Ngân hàng Nhà
nước.
Như vậy, với hai biện pháp can thiệp được đưa ra, ít nhất ba mục tiêu đã đạt được gồm: đảm bảo
mục tiêu ổn định tỷ giá, tăng được lượng dự trữ ngoại hối quốc gia nhưng lại không gây áp lực lạm
phát vì tiền chảy vào đã được đem cất trong “két” nên chẳng có điều gì xảy ra cả!
Bất kì chính sách tiền tệ nào của ngân hàng trung ương cũng dẫn đến hậu quả nhất định và để giải
quyết hậu quả đó NHTW thường chọn một gói chính sách gồm nhiều công cụ và dĩ nhiên các công cụ
này có mối liên hệ với nhau.
a.2 công cụ hành chính:
2
 Bp kết hối:
Là việc chính phủ quy định đối với các thể nhân và pháp nhân có nguồn thu ngoại têh phải bán
một tỷ lệ nhất định cho các tổ chức đựơc phép kinh doanhơp ngoại hối.

Theo ghi nhận, đầu phiên giao dịch hôm trước, tỉ giá USD trên thị trường tự do tại Hà Nội đạt mức
cao, đến sát 19.900 VND/USD. Ngay sau khi có thông tin giảm biên độ tỉ giá mà Ngân hàng Nhà
nước công bố, giá đồng USD đã giảm mạnh. Đến 12 giờ trưa, cũng tại thị trường tự do, một USD chỉ
còn 19.600 đồng bán ra và 19.400 đồng mua vào.
 Quy định hạn chế đối tượng mua ngoại tệ:
nhằm mục đích giảm cầu ngoại tệ, hạn chế đầu cơ và tác động giữ cho tỷ giá ổn định
Tất cả các biện pháp này đều nhằm mục đích giảm cầu ngoại tệ, quy định hạn chế thời điểm
được mua ngoại tệ
2007
Ngân hàng Nhà nước đã mua một lượng ngoại tệ cho dự trữ ngoại hối để vừa đảm bảo khả năng can
thiệp trong tương lai vừa để duy trì khả năng cạnh tranh của hàng xuất khẩu, tránh sự lên giá của đồng
Việt nam.
2008:
từ 26/03 – 16/07/2008:tỷ giá usd/vnd Tăng với tốc độ chóng mặt tạo cơn sốt USD trên cả thị trường
liên ngân hàng lẫn thị trường tự do.
Cung ngoại tệ thấp do NHNN không cho phép cho vay ngoại tệ đối với doanh nghiệp xuất khẩu (theo
quyết định số 09/2008/QĐ, NHNN không cho phép vay để chiết khấu bộ chứng từ xuất khẩu, vay
3
thực hiện dự án sản xuất xuất khẩu) giảm hiện tượng doanh nghiệp xuất khẩu vay ngoại tế bán lại trên
thị trường.
Nhận thấy tình trạng sốt USD đã ở mức báo động, lần đầu tiên trong lịch sử, NHNN đã công khai
công bố dự trữ ngoại hối quốc gia 20,7 tỷ USD khi các thông tin trên thị trường cho rằng USD
đang trở nên khan hiếm. Biện pháp;Nhờ có sự can thiệp kịp thời của NHNN, cơn sốt USD đã
được chặn đứng.
từ 17/07 – 15/10/2008: Giảm mạnhvà dần đi vào bình ổn.
đồng thời lúc này, NHNN đã ban hành một loạt các chính sách nhằm bình ổn thị trường ngoại tệ như
kiểm soát chặt các đại lý thu đổi ngoại tệ (cấm mua bán ngoại tệ trên thị trường tự do không đăng ký
với các NHTM), cấm mua bán USD thông qua ngoại tệ khác để lách biên độ, cấm nhập khẩu vàng và
cho phép xuất khẩu vàng; bán ngoại tệ can thiệp thị trường thông qua các NHTM lớn.
(từ 16/10 đến hết năm 2008): tỷ giá USD tăng trở lại

thiệp hành chính ngày càng trở nên không phù hợp- thiên về sử dụng các công cụ thị trường
 hiện nay công cụ trực tiếp vẫn đang được sử dụng nhiều hơn
4
Tuy nhiên:các hoạt động can thiệp của ngân hàng TƯ tạo ra hiệu ứng thay đổi thay đổi cung ứng
tiền trong lưu thông , có thể tạo ra áp lực lạm phát hay thiểu phát trong nền kinh tế, chính vì vậy
đi kèm theo hoạt động can thiệp trực tiếp, NHTW thường cần phải sử dụng thêm 1 nghiệp vụ thị
trường mở để hấp thu lượng dư cung hay bổ sung phần thiếu hụt tiền tệ trong lưu thông.do có
những hạn chế nhất định, nên các NHTW của các nước phát triển đang dần chuyển từ can thiệp
trực tiếp sang can thiệp gián tiếp mà chủ yếu là thông qua công cụ lãi suất chiết khấu, tái chiết
khấu
b. Công cụ gián tiếp
1. lãi suất chiết khấu, tái chiết khấu:
Lãi suất là Công cụ điều chỉnh tỷ giá
khái niệm: Lãi suất là công cụ được các ngân hàng trung ương sử dụng để điều chỉnh tỷ giá hối đoái
trên thị trường, điều chỉnh giá trị đối ngoại của nôi tệ.
Chính sách lãi suất cao: có xu hướng hỗ trợ sự lên giá của nội tệ, bởi vì nó hấp dẫn các luồng vốn
nước ngoài chảy vào trong nước,( nếu lãi suất trong nước cao hơn so với lãi suất nước ngoài hay lãi
suất ngoại tệ sẽ dẫn đến những dòng vốn chảy vào hay sẽ làm chuyển lượng hóa ngoại tệ trong nền
kinh tế sang đồng nội tệ để hưởng lãi suất cao hơn). Điều này làm cho tăng cung ngoại tệ trên thị
trường (cũng có nghĩa làm tăng cầu đối với đồng nội tệ), từ đó đồng ngoại tệ sẽ có xu hướng giảm giá
trên thị trường, hay đồng nội tệ sẽ tăng giá. \
Trong trường hợp ngược lại, nếu lãi suất trong nước thấp hơn so với lãi suất nươc ngoài hay lãi
suất ngoại tệ, đồng ngoại tệ có xu hướng tăng giá trên thị trường hay đồng nội tệ sẽ giảm giá.
Phương pháp dùng lãi suất tái chiết khấu để điều chỉnh tỷ giá hối đoái có thể nó là phương pháp
thường được sử dụng với mong muốn có những thay đổi cấp thời về tỷ giá.
Cơ chế tác động của công cụ này đến tỷ giá hối đoái như sau:
Trong thế cân bằng ban đầu của cung cầu ngoại tệ trên thị trường, khi lãi suất tái chiết khấu thay
đổi, sẽ kéo theo sự thay đổi cùng chiều của lãi suất trên thị trường. Từ đó, tác động đến xu hướng dịch
chuyển của các dòng vốn quốc tế làm thay đổi tài khoản vốn (trong cán cân thanh toán quốc tế) hoặc
ít nhất cũng làm những người sở hữu vốn trong nước chuyển đổi đồng vốn của mình sang đồng tiền

5
Lãi suất lên cao có thể thu hút vốn ngắn hạn của nước ngoài chạy vào, nhưng khi tình hình chính
trị, kinh tế và tiền tệ trong nước không ổn định, thì không nhất thiết thực hiện được, bởi vì với vốn
nước ngoài, vấn đề lúc đó lại đặt ra trước tiên là sự đảm bảo an toàn cho số vốn chứ không phải là vấn
đề thu hút được lãi nhiều.
Để minh hoạ vấn đề này, có thể sử dụng hai ví dụ điển hình trong lịch sử.
Một là, trước thế chiến 2, Anh là một trong những nước điển hình về việc sử dụng lãi suất chiết khấu
để can thiệp vào thị trường hối đoái và đã thu được nhiều kết quả đáng kể, do nền kinh tế và tiền tệ
nước Anh lúc đó khá ổn định.
Hai là, có thể lấy cuộc khủng hoảng USD thời kỳ 1971-1973 làm ví dụ. Tổng thống Mỹ Nixon, đã
phải áp dụng những biện pháp khẩn cấp để cứu nguy cho USD bằng cách tăng lãi suất chiết khấu lên
rất cao để thu hút vốn ngắn hạn trên thị trường tiền tệ quốc tế. Vào lúc này, mặc dù lãi suất trên thị
trường New York cao gấp rưỡi thị trường London, gấp 3 lần thị trường Frankfurk, nhưng vốn ngắn
hạn cũng không được chuyển vào Mỹ mà lại đưa đến Tây Đức và Nhật Bản, dù rằng các nước này
thực hiện chính sách lãi suất thấp, vì lúc đó USD đang đứng bên bờ của nguy cơ mất giá.
Như vậy, chính sách lãi suất chiết khấu cũng chỉ có ảnh hưởng nhất định và có giới hạn đối với tỷ
giá hối đoái, bởi vì giữa tỷ giá và lãi suất chỉ có quan hệ lôgic chứ không phải quan hệ nhân quả, lãi
suất không phải là nhân tố duy nhất quyết định sự vận động vốn giữa các nước.
Tuy nhiên, không nên hoàn toàn coi thường chính sách chiết khấu. Nếu tình hình tiền tệ của các
nước đều đại thể như nhau, thì phương hướng đầu tư ngắn hạn vẫn hướng vào những nước có lãi suất
cao. Do vậy, hiện nay chính sách lãi suất chiết khấu vẫn có ý nghĩa của nó. Đồng thời, can thiệp vào
tỷ giá là phải có một thị trường vốn (nhất là thị trường vốn ngắn hạn) đủ mạnh, tự do và linh hoạt: tài
khoản vốn đã được mở cửa.
Liên hệ ở Việt Nam
Trong quý 1/2008, có những lúc tỷ giá USD liên ngân hàng xuống dưới 16.000 và tỷ giá thị
trường tự do thậm chí còn thấp hơn trong ngân hàng. Trong khoảng thời gian này, Chính phủ và
NHNN đang đẩy mạnh việc kiềm chế lạm phát, sử dụng biện pháp tiền tệ thắt chặt, tăng lãi suất cơ
bản từ 8,25%/năm (tháng 12/2007) lên 8,75%/năm (tháng 2/2008). NHNN không thực hiện mua
ngoại tệ USD nhằm hạn chế việc bơm tiền ra lưu thông, tăng biên độ tỷ giá USD/VND từ 0,75%/năm
lên 1%/năm trong ngày 10/03/2008.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status