Đề tài " Chính sách tỷ giá hối đoài ở Việt Nam " - Pdf 16

Đề tài
Chính sách tỷ giá hối đoài
ở Việt Nam
1
Contents
Đề tài 1
Chính sách tỷ giá hối đoài ở Việt Nam 1
Contents 2
2
LỜI MỞ ĐẦU
Tỷ giá hối đoái là một phạm trù kinh tế tổng hợp có liên quan đến các phạm
trù kinh tế khác và đóng vai trò như là một công cụ có hiệu lực, có hiệu quả trong
việc tác động đến quan hệ kinh tế đối ngoại của mỗi nước, đồng thời là yếu tố cực
kỳ quan trọng đối với chính sách tiền tệ quốc gia. Đã bao thời nay, loài người đã và
đang tiếp tục đứng trước một vấn đề có tầm quan trọng đặc biệt này và cố gắng
tiếp cận nó, mong tìm ra một nhận thức đúng đắn để từ đó xác định và đưa vào vận
hành trong thực tế một tỷ giá hối đoái phù hợp, nhằm biến nó trở thành một công
cụ tích cực trong quản lý nền kinh tế ở mỗi nước.
Tỷ giá hối đoái, như các nhà kinh tế thường gọi là một loại "giá của giá" , bị
chi phối bởi nhiều yếu tố và rất khó nhận thức, xuất phát từ tính trừu tượng vốn có
của bản thân nó. Tỷ giá hối đoái không phải chỉ là cái gì đó để ngắm mà trái lại, là
cái mà con người cần phải tiếp cận hàng ngày, hàng giờ, sử dụng nó trong mọi
quan hệ giao dịch quốc tế, trong việc xử lý những vấn đề cụ thể liên quan đến các
chính sách kinh tế trong nước và quốc tế. Và do vậy, nhận thức một cách đúng đắn
và sử lý một cách phù hợp một cách tỷ giá hối đoái là một nghệ thuật.
Trong điều kiện nền kinh tế thế giới ngày nay, khi mà quá trình quốc tế hoá
đã bao trùm tất cả các lĩnh vực sản xuất kinh doanh và trong cuộc sống, thì sự gia
tăng của hợp tác quốc tế nhằm phát huy và sử dụng những lợi thế so sánh của mình
đã làm cho việc quản lý đời sống kinh tế của đất nước và là mối quan tâm đặc biệt
của chính phủ các nước trong quá trình phục hưng và phát triển kinh tế.%
3

Có cầu về tiền của nước A trên thị trường ngoại hối khi dân cư từ các nước
khác mua hàng hoá và dịch vụ được sản xuất ra tại nước A. Một nước xuất khẩu
càng nhiều thì cầu đối với đồng tiền nước đó càng lớn trên thị trường ngoại hối.
4
Đường cầu về một loại tiền là hàm của tỷ giá hối đoái của nó xuống dốc phía
bên phải, điều này cho thấy nếu tỷ giá hối đoái càng cao thì hang hoá của nước ấy
càng trở lên đắt hơn đối với những người nước ngoài và ít hàng hoá xuất khẩu hơn.
b) Cung về tiền trên thị trường ngoại hối
Để nhân dân nước A mua được các sản phẩm sản xuất ra ở nước B họ phải
mua một lượng tiền đủ lớn của nước B, bằng việc dùng tiền nước A để trả. Lượng
tiền này của nước A khi ấy bước vào thị trường quốc tế.
Đường cung về tiền là một hàm của tỷ giá hối đoái của nó, dốc lên trên về
phía phải. Tỷ giá hối đoái càng cao thì hàng hoá nước ngoài càng rẻ và hàng hoá
ngoại được nhập khẩu ngày càng nhiều.
3. Phân loại tỷ giá hối đoái
Trong thực tế tuỳ từng nơi từng lúc khi quan tâm đến một khía cạnh nào đó
của tỷ gía hối đoái người ta thường gọi đến tên đến loại tỷ giá đó. Do vậy cần thiết
phải phân loại tỷ giá hối đoái.
Dựa vào những căn cứ khác nhau người ta chia ra nhiều loại tỷ giá khác
nhau:
a)Căn cứ vào phươ ng ti ện chuyển ngoại hối, tỷ giá được chia ra làm hai
loại:
• Tỷ giá điện hối: là tỷ gía mua bán ngoại hối mà ngân hàng có trách nhiệm
chuyển ngoại hối bằng điện( telegraphic transfer -T/T)
• Tỷ giá thư hối: là tỷ giá mua bán ngoại hối mà ngân hàng có trách nhiệm
chuyển ngoại hối bằng thư ( mail transfen M/T)
b) Căn cứ vào chế độ quản lý ngoại hối, tỷ giá hối đoái chia ra các loại
• Tỷ giá chính thức: là tỷ giá do nhà Nước công bố được hình thành trên cơ sở
ngang giá vàng.
• Tỷ giá tự do là tỷ giá hình thành tự phát trên thị trường do quan hệ cung cầu

chịu sự tác dộng của nhiều yếu tố khác nhau. Các yếu tố này thường tác động lên
cung và cầu ngoại tệ, từ đó tá động đến tỉ giá. Theo kinh nghiệm và quan sát của
các chuyên gia, tỉ giá thường chịu tác động của các yếu tố sau đây:
1. Cán cân thươ ng m ại:
Trong các điều kiện khác không đổi nếu nhập khẩu của một nước tăng thì
đường cung về tiền của nước ấy sẽ dịch chuyển về phía bên phải, tỷ giá hối đoái
giảm xuống; nếu xuất khẩu tăng thì đường cầu về tiền của nước ấy sẽ dịch chuyển
sang trái tỷ giá hối đoái tăng lên.
2.Tỷ giá lạm phát tươ ng đ ối:
nếu tỷ lệ lạm phát của một nước cao hơn tỷ lệ lạm phát của một nước khác
thì nước đó sẽ cần nhiêù tiền hơn để mua một lượng tiền nhất định của nước kia.
Điều này làm cho cung tiền dịch chuyển sang phải và tỷ giá hối đoái giảm xuống.
3.Sự vận động của vốn:
khi người nước ngoài mua tài sản tài chính, lãi suất có ảnh hưởng mạnh. Khi
lãi suất của một nước tăng lên một cách tương đối so với nước khác thì các tài sản
của nó tạo ra tỷ lệ tiền lời cao hơn và có nhiều người dân nước ngoài muốn mua tài
sản ấy. Điều này làm cho đường cầu về tiền của nước đó dịch chuyển sang phải và
làm tăng tỷ giá hối đoái của nó. ây là một trong những ảnh hưởng quan trọng nhất
tới tỷ giá ở các nước phát triển cao.
4.Dự trữ, phươ ng ti ện thanh toán, đầu cơ :
tất cả đều có thể làm dịch chuyển đường cung và cầu tiền tệ. Đầu cơ có thể
gây ra những thay đổi lớn về tiền, đặc biệt trong điều kiện thông tin liên lạc hiện
6
đại và công nghệ máy tính hiện đại có thể trao ddổi hàng tỷ USD giá trị tiền tệ mỗi
ngày.
Trên đây là 4 nguyên nhân cơ bản gây lên sự dịch chuyển đường cung và
cầu trên thị trường ngoại hối. Sự dịch chuyển này đến lượt nó sẽ gây ra những dao
động của tỷ giá hối đoái, và như vậy phản ứng dây chuyền, những biến động của tỷ
giá hối đoái lại tác động đến nền kinh tế trong nước.
III. Các chế độ tỷ giá hối đoái

vào thị trường ngoại tệ bằng cách mua bán ngoại tệ nhằm ổn định tỷ giá qui định.
7
Sau mỗi thời gian nhất định, mức tỷ giá hối đoái lại được điều chỉnh cho phù hợp
và duy trì ổn định.
* Luận cứ lựa chọn chế độ tỷ giá hối đoái
Sự quản lý tối ưu của tỷ giá hối đoái phụ thuộc vào các mục tiêu kinh tế của
các nhà hoạch định chính sách, vào nguồn gốc của các cơn sốc đối với nền kinh tế
và đặc trưng cơ cấu của nền kinh tế đang xét. Vì vậy các giả thiết khác nhau về
nhân tố đó có thể dẫn đến sự thay đổi về mức độ tối ưu của chế độ tỷ giá hối đoái.
Các yêu cầu khi lựa chọn chế độ tỷ giá hối đoái:
Một số tiêu chuẩn quy định tỷ giá phụ thuộc vào bản chất của cơn sốc lên
nền kinh tế cũng như đặc trưng cơ cấu của nền kinh tế. Tuy vậy trong thực tế khó
mà áp dụng đó cho các trường hợp cụ thể. Các khó khăn đó không những lên quan
đến các vấn đề thực tiễn, sự nhận biết nguồn gốc các cơn sốc và các đặc trưng cơ
cấu mà còn liên quan đến mâu thuẫn tiềm tàng giữa các mục tiêu chính sách khác
nhau. Tiêu chuẩn để lựa chọn một chế độ tỷ giá hối đoái thích hợp còn phụ thuộc
vào các mục tiêu chính sách do chính phủ đặt ra.
V.Sự can thiệp của nhà nước vào tỷ giá hối đoái :
Việc thực hiện một chế độ tỷ giá linh hoạt vừa phải có sự kiểm soát với một
mức tỷ giá gọi là tỷ giá chính thức được công bố bởi ngân hang nhà nước, cùng với
một biên độ quy định cho các mức tỷ giá giao dịch trên thị trường so với tỷ giá
chính thức đòi hỏi chính phủ nói chung và ngân hàng nhà nước nói riêng cần phải
có sự can thiệp điều phối thị trường để duy trì biên độ quy định trong hoạt động
can thiệp đó cần phải chú ý một số vấn đề sau:
_ Ngân hàng nhà nước luôn phải xác định mình là một thành phần chủ chốt,
thường trực của các giao dịch trên thị trường liên ngân hàng.
_Trong công tác điều hành hệ thống tỷ giá hối đoái nói chung và thị trường
ngoại hối nói riêng, ngân hàng nhà nước cần có sự phân tích rõ ràng giữa hai chức
năng: chức năng ngân hàng đại diện cho nhà nước với chức năng can thiệp thị
trường. Trong đó chức năng ngân hàng đại diện cho nhà nước là để thực hện các

để hạn chế về thanh toán qua nhiều : trung gian mà trước hết là hệ thống thanh toán
nội bộ của chính các ngân hàng, các tổ chức tín dụng.
_Bổ sung vào cơ chế điều hành tỷ giá mới một nội dung hết sức quan trọng
vào đầu năm, ngân hàng nhà nước vào công bố tỷ giá hối đoái danh nghĩa hang
năm, hàng quý trên cơ sở điều chỉnh mức tỷ giá giao dịch thực té bình quân của thị
trường ngoại tệ liên ngân hàng được xác lập theo cơ chế mới. Dựa vào đó các cơ
quan chức năng có đầy đủ căn cứ để xác lập cân đói lớn, vĩ mô của nền kinh tế.
_ Mục đích can thiệp của ngân hàng trung ương không hoàn toàn giống
nhau, điều này phụ thuộc vào tình hình, ý đồ chiến lược của mỗi nước, ngay ở một
quốc gia thì mục đích can thiệp ở mỗi thời kỳ cũng khác nhau. Để thực hiện điều
chỉnh tỷ giá hối đoái đã và đang tồn tại nhiều phương pháp khác nhau, sau đây là
một vài phương pháp phổ biến:
1. Phươ ng pháp lãi su ất chiết khấu:
Đây là phương pháp thường được sử dụng để điều chỉnh tỷ giá hối đoái trên
thị rường. Với phương pháp này, khi tỷ giá hối đoái đạt đến mức "báo động" cần
phải can thiệp thì ngân hàng trungương nâng cao lãi suất chiết khấu. Do lãi suất
chiết khấu tăng, lãi suất cho vay trên thị trường cũng tăng lên. kết quả là vốn vay
ngắn hạn trên thị trường thế giới sẽ dồn vào để thu lãi cao hơn. Nhờ thế mà sự căng
thẳng về nhu cầu ngoại tệ sẽ bớt đi, tỷ giá hối đoái không có cơ hội để tăng nữa.
Vào năm 1971 đến năm 1973 USD rơi vào khủng hoảng. Tổng thống Mỹ Nich-xơn
9
đã phải áp dụng những biện pháp khẩn cấp để cứu nguy cho USD banừg cách tăng
lãi suất chiết khấu lên rất cao để thu hút vốn ngắn hạn trên thị trường tiền tệ quốc
tế. Tuy nhiên chính sách lãi suất chiết khấu cũng có những hạn chế nhất định, vì
quan hệ giữa lãi suất và tỷ giá chỉ là quan hệ tác động qua lại gián tiếp, chứ không
phải quan hệ trực tiếp nhân quả.
2. Các nghiệp vụ thị trường hối đoái:
Thông qua các nghiệp vụ mua bán ngoại tệ điều chỉnh tỷ giá hối đoái là một
trong những biện pháp rất quan trọng của nhà nước để giữ vững sự ổn định sức
mua của đồng tiền quốc gia. Đây là biện pháp trực tiếp tác động vào tỷ giá hối

CHÍNH SÁCH TỶ GIÁ HỐI ĐOÁI Ở VIỆT NAM
I- Nhìn lại cơ ch ế điều hành tỷ giá VIệt nam
Trong quan hệ với các nước thuộc khối XHCN trước đây, tỷ giá của Việt
Nam được tính theo đồng Rúp clearing (sau này đổi là rúp chuyển khoản-
transferable ruble) đồng tiền ghi sổ dùng trong thanh toán mậu dịch giữa các nước
thuộc khối XHCN tự quy định với nhau để làm sao cho tài khoản các bên, sau khi
trao đổi ngoại thương theo khối lượng đã được quy định trong hiệp định ký kết vào
đầu năm thì cuối năm không còn số dư.
Đặc trưng của chế độ tỷ giá Việt nam trong thời kỳ này là cố định, đã bộc lộ
nhiều mặt bất hợp lý, nó không những không thể hiện vai trò điều tiết tỷ giá hối
đoái trong việc cân bằng cán cân thanh toán, điều tiết tái sản xuất mà còn kìm hãm
các hoạt động kinh tế đối ngoại của nước ta là nguyên nhân dẫn đến tình trạng trì
trệ kinh tế trong một thời gian dài.
Từ năm 1989 trở về sau cho đến nay, nhà nước ta đã có những chủ trương và
giải pháp đổi mới trong quan hệ đối ngoại, và chính sách tỷ giá đã từng bước xoá
bỏ cơ chế độc quyềnngoại thương, cho phép các tổ chức kinh tế được phép xuất
nhập khẩu trực tiếp với nước ngoài. Số lượng các công ty được trực tiếp kinh
doanh xuất nhập khẩu không ngừng tăng lên, cùng với việc mở rộng ngoại thương
chế độ tỷ giá cũng có những thay đổi căn bản; chuyển sang cơ chế quản lý kinh tế
mới bản thân cơ chế điều hành tỷ giá hối đoái đã được nhanh chóng thay đổi phù
hợp với bối cảnh thực tế. Từ một cơ chế đa tỷ giá, mang nặng tính chủ quan bao
cấp, xa rời với thị trường; tỷ giá hối đoái đã được điều chỉnh theo các quan hệ và
điều kiện của các quy luật kinh tế thị trường. Cơ chế một tỷ giá linh hoạt, có sự
điều tiết của nhà nước đã phát huy được vai trò vừa là một phạm trù kinh tế vận
động theo quy luật cung cầu của nền kinh tế vừa là một công cụ điều tiết vĩ mô
quan trọng của nhà nước. Nhà nước đã áp dụng chính sách tỷ giá linh hoạt có sự
quản lý của nhà nước nhưng việc điều hành của nhà nước trong từng năm có khác
nhau, ta có thể chia ra 3 giai đoạn:
1. Giai đoạn thả nổi tỷ giá: 1989-1993
Trong giai đoạn này, tỷ giá hối đoái VND/USD thể hiện qua bảng 1 dưới

hiệu lực ngay khi vừa mới công bố. Giai đoạn này, ngân hàng không kiểm soát
được lưu thông ngoại tệ.
Trước tình hình đó, từ năm 1992 chính phủ đã chọn con đường thay đổi cách
quản lý ngoại tệ và đổi mới cơ chế điều hành tỷ giá hối đoái VND/USD. Nội dung
chính của những thay đổi về chính sách và cơ chế nêu trên là:
_ Thay thế biện pháp hành chính, bắt buộc các đơn vịkinh tế quốc doanh có
ngoại tệ phải bán cho ngân hàng theo tỷ giá ấn định băngf biện pháp kinh tế: mở
trung tâm giao dịch ngoại tệ để cho các doanh nghiệp và ngân hàng trao đổi mua
bán ngoại tệ với nhau theo giá thoả thuận.
_ Bãi bỏ hình thức quy định tỷ giá nhóm hàng trong thanh toán ngoại thương
giữa ngân sách với các tổ chức kinh tế tham gia xuất nhập khẩu. Thay vào đó, trên
cơ sở tỷ giá hình thành tại các phiên giao dịch ngoại tệ, ngân hàng nhà nước công
bố tỷ giá chính thức. Cơ chế hình thành và quản lý tỷ giá hối đoái mềm dẻo như
vậy cộng với sự can thiệp điều tiết của ngân hàng nhá nước đối với lượng ngoại tệ
mua bán tại các phiên giao dịch đã giải toả được tâm lý đầu cơ ngoại tệ, ngăn được
xu hướng tăng quá mức giá Đôla Mỹ trên thị trường. Từ tháng 3/1992 giá USD bắt
đầu giảm.
12
2. Giai đoạn cố định tỷ giá 1993 - 1996:
Bảng 2: Lạm phát và tỷ giá Việt nam qua các năm 1993-1996
Năm Tỉ giá
USD/VND
So sánh % năm
trước
Tốc độ lạm phát
(%)
1993 10.835,00 100% 5.2
1994 11.050,00 +1.98% 14.7
1995 11.040,00 0% 12.7
1996 11.060,00 +0.18% 4.5

lượng lớn cạnh tranh với hàng nội địa, thể hiện qua sự gia tăng thâm hụt cán
thương mại quốc tế của nước ta trong những năm 1993-1996 từ nhập siêu 939 triệu
USD năm 1993 lên 1,7 tỷ USD năm 1994 lên 2,7 tỷ USD năm 1995 lên 3,8 tỷ USD
năm 1996 .
Đứng trước tình hình đó, ngay từ năm 1997 cho đén nay nhà nước đã có
những chỉ đạo:
+ Chỉ đạo xử lý nợ quá hạn từ năm 1994, hạn chế kịp thời tình trạng mở LC
thanh toán tràn lan và cuối năm 1996 thông qua khống chế mức mở LC At Sight là
chủ yếu, hạn chế mở LC trả chậm, xem xét cho nhập khẩu những mặt hàng cần
thiết chủ yếu là những mặt hàng về tư liệu sản xuất, dựa vào huy động vốn trung và
dài hạn ngày càng được nâng cao và huy động vốn bằng mọi biện pháp thông qua
mức ký quỹ bắt buộc.
+ Điều hành tỷ giá linh hoạt theo tín hiệu của thị trường.
3. Quá trình đi tới một chính sách tỷ giá hối đoái tự chủ theo cơ ch ế thị
trường (1992 - 1997)
Vào thời điểm cuối năm 1992, do kết quả sự can thiệp của ngân hang nhà
nước vào thị trường ngoại tệ, tỷ giá VND/USD dần dần ổn định khiến cho lượng
ngoại tệ của các doanh nghiệp được giải toả khỏi yếu tố đầu cơ, hướng mạnh vào
kinh doanh xuất nhập khẩu. Đồng thời ngoại tệ từ bên ngoài vàonhiều nên kinh
doanh cung cầu ngoại tệ đảo ngược so với cùng kỳ mội năm, giá Dola giảm mạnh,
mức giá phổ biến trên thị trường tư nhân Hà nội năm 1993 là 10.300 đến 10.400.
Tình trạng giá USD giảm mạnh đã ảnh hưởng xấu đến xuất khẩu và kích thích
nhập khẩu quá mức, nên ngân hàng nhà nước lại phải can thiệp nhằm tăng giá đồng
USD. Trong hầu hết các phiên giao dịch của quý I năm 1993, hệ thống ngân hang
phải mua Dola vào nhằm ngăn chặn xu hướng giảm giá của đồng tiền này. Từ
tháng 3/1993 USD đã lên giá dần và duy trì xu hướng lên giá một cách ổn định (ở
đây nói về tỷ giá danh nghĩa VND/USD).
Tháng 10/1994 khi thị trường ngoại tệ đã phát triển đến một giai đoạn nhất
định, xét trên khía cạnh phạm vi cũng như cơ cấu tổ chức, hai trung tâm giao dịch
ngoại tệ không còn phù hợp. Số lượng ngân hàng tham gia vào giao dịch tăng

phát triển của nền kinh tế theo hướng thị trường cần xem xét kỹ lợi và hạn chế
trong cơ chế điều hành tỷ giá hiện nay để đưa ra giải pháp tối ưu trong thời gian
tới.
4. Giai đoạn điều hành tỷ giá linh hoạt có sự điều tiết của Nhà nước từ
năm 1997 đến nay.
Giao dịch trên thị trường ngoại tệ liên Ngân hàng cũng như thị trường ngoại
tệ nói chung bị giảm sút. Thực tế sáu tháng cuối năm 1997 nhu cầu mua ngoại tệ
luôn cao hơn nhu cầu bán ngoại tệ và hoạt động của thị trường lúc ngưng trệ.
Doanh số mua 6 tháng cuối năm 1997 đạt 2,5 tỷ USD, giảm 5% so với 6 tháng đầu
năm 1997, doanh số bán đạt 2,6 tỷ USD giảm 1% so với 6 tháng đầu năm 1997,
nhiều doanh nghiệp không mua được ngoại tệ đã phải mua với giá cao và chịu lỗ
rất lớn do tỷ giá tăng đột biến. Ngoại tệ tăng giá mạnh đã làm tăng nhu cầu vay vốn
VNĐ do lãi xuất thấp hơn và không chịu rủi ro về tỷ giá đã gây mất cân đối cung
cầu VNĐ trên thị trường.
Nhà nước ta đã mở rộng liên độ giao dịch của các Ngân hàng thương mại từ
1% đến 5% rồi đến 10%. Những giải pháp này cũng đã kịp thời góp phần giảm sức
ép đối với tỷ giá hối đoái VNĐ.
Năm 1997 dư nợ LC ngắn hạn chỉ còn gần 700 triệu USĐ so với 1,4 tỷ USĐ
vào tháng 6 năm 1996. Tuy nhiên cuộc khủng hoảng tiền tệ ở khu vực châu á đã
ảnh hưởng gây sức ép VNĐ do yếu tố đầu cơ của thị tường, đã đẩy tỷ giá ở thị
trường tự do tăng mạnh có lúc lên đến 14600 VNĐ/USĐ.
15
Nhìn lại chặng đường đã qua có thể nói rằng năm 1997 là năm có ý nghĩa
đặc biệt quan trọng trong tiến trình đổi mới và phát triển của hệ thống Ngân hàng
Việt Nam, một năm với những khó khăn và thử thách trên hầu hết các lĩnh vực
Mặc dù có những tổn thất mất mát nhưng hoạt động Ngân hàng vẫn tiếp tục đạt
được những thành tựu quan trọng, tạo đà thúc đẩy sự phát triển của hệ thống Ngân
hàng Việt Nam trong những năm tiếp theo. Những kết quả nổi bật này được thể
hiện qua một số nội dung. Góp phần kiềm chế lạm phát ở mức thấp, nhưng vẫn
đảm bảo duy trì tăng trưởng kinh tế ở mức nhất định.

VNĐ/USD. Tỷ giá thị trường tự do, thị trường có tổ chức ( thị trường liên ngân
hàng , ngân hàng ) đã sát lại gần nhau. Hiện nay ngân hàng đã kiểm soát được trên
16
90% lượng ngoại tệ giao dịch trên thị trường, đã thu hút từ nhiều nguồn một lượng
ngoại tệ tăng thêm.
II.Lợi thế và hạn chế trong cơ ch ế điều hành
1. Lợi thế
Cơ chế điều hành tỷ giá trên qui định tỷ giá chính thức tạo điều kiện cho
Ngân hàng trung ương dễ dàng kiểm soát, điều tiết được thị trường hối đoái. Trước
hết là thị trường ngoại tệ trên Ngân hàng. Biên độ giao đồng quanh tỷ giá chính
thức là một công cụ hữu hiệu trong suốt giai đoạn vừa qua giới hạn này mà chúng
ta đã đạt sự ổn định tương đối của tỷ giá hối đoái trong những năm qua, góp phần
không nhỏ để đạt mục tiêu ổn định và tăng trưởng cho nền kinh tế.
- Thông qua tỷ giá của các Ngân hàng thương mại trong biên độ qui định.
Ngân hàng Nhà nước có thể dễ dàng nắm bắt được diễn biến cung - cầu ngoại tệ
thực tế của nền kinh tế, nhận biết được xu hướng vận động của tỷ giá hối đoái để
có kế hoạch điều chỉnh kịp thời. Qui định chênh lệch giữa tỷ giá mua và tỷ giá bán
cho các Ngân hàng Thương mại, ở một mức độ nào đó, hạn chế khả năng đầu cơ tỷ
giá của các Ngân hàng tránh trường hợp tỷ giá mua và tỷ giá bán quá chênh lệch.
- Cơ chế tỷ giá thống nhất đã tạo ra một môi trường pháp lý vững chắc cho
các hoạt động kinh tế - thương mại trong tổng hoá các mối quan hệ của nền kinh tế.
Đồng thời tỷ giá chính thức tạo ra được một cơ sở pháp lý, mang tính chủ quyền
cho đồng tiền Việt Nam trong các quan hệ đối ngoại.
2. Hạn chế
- Cơ chế công bố tỷ giá chính thức hàng ngày theo phương pháp hiện tại, đôi
lúc tỏ ra có nhiều khó khăn trong việc hướng thị trường, vận động theo mục tiêu
Ngân hàng Trung ương đặt ra. Bởi " Nhất cử nhất động " của Ngân hàng trung
ương, đặc biệt trong lĩnh vực tỷ giá - một lĩnh vực cực kỳ nhạy bén, đều tạo cho thị
trường những yếu tố tâm lý tức thời. Trước những biến động của tỷ giá thị trường,
việc thay đổi tỷ giá chính thức ở một chừng mực nào đó không thể giải quyết ngay

- Với biên độ giao dịch trong phạm vi 5% hiện nay việc qui định mức chênh
lệch giữa tỷ giá mua và bán tỏ ra chưa hoàn toàn hợp lý đối với
các Ngân hàng Thương mại. Thứ nhất, khi thị trường hối đoái có tính chất động,
luôn thay đổi, trong khi đó các giao dịch lại liên tục diễn ra, nên qui định mức
chênh lệch chỉ thể hiện mặt quản lý danh nghĩa, các Ngân hang Thương mại khó có
thể tuân thủ đúng qui định này được. Thứ hai, khung qui định chênh lệch như vậy
là tương đối chặt chẽ đối với hoạt động kinh doanh. Bởi lẽ các Ngân hàng Thương
mại đã phải xác định chênh lệch tỷ giá mua, bán phải tuỳ theo vào cung - cầu của
mỗi Ngân hàng, tuỳ thuộc vào khả năng dự tính về lợi nhuận và khả năng của mồi
Ngân hàng. Thực chất qui định chênh lệch tỷ giá mua bán quá chặt chẽ như vậy
không khuyến khích hoạt động trên thị trường theo đúng các quan hệ nội tại của nó
và phần nào không tạo ra một môi trường cạnh tranh hoàn hảo trong kinh doanh.
IV.Mục tiêu nhiệm vụ và định hướng của chính sách tỷ giá hối
đoái
1. Mục tiêu
Khái quát lại cơ sở để hoạch định và xác định mục tiêu của chính sách tỷ giá
hối đoái của Việt Nam giai đoạn tới bao gồm.
- Hiện trạng kinh tế - tài chính nước ta ( trong đó quan trọng nhất là tính hợp
lý của tỷ giá hiện hành, thực trạng ngân sách, tài chính, tiền tệ, thị trường tài chính,
lạm phát , cán cân thanh toán quốc tế ), tuy đã được cải thiện một bước căn bản,
18
song vẫn còn nhiều yếu tố bất ổn và xu hướng tiếp tục lên giá của Việt Nam đồng
tương đối rõ nét.
- Triển vọng kinh tế tuy sáng sủa, song mục tiêu và phục vụ chiến lược Việt
Nam là rất nặng nề, đòi hỏi bản lĩnh điều chỉnh kinh tế vĩ mô phải hết sức năng
động, vững vàng quán triệt đầy đủ các mục tiêu định hướng ưu tiên.
Hiện trạng kinh tế đối ngoại, đặc biệt là chiến lược mở cửa nhanh trong bối cảnh
quốc tế đầy biến động và diễn biến thất thường. Song yêu cầu của quan hệ kinh tế
đối ngoại phải có hiệu quả ổn định và vững chắc. Tuy nhiên để nâng cao luận cứ
cho việc lựa chọn mục tiêu, xác định nhiệm vụ cụ thể của chính sách tỷ giá hối

19
sống kinh tế, nhất là trong lưu thông thanh toán và với phương cách là phương tiện
tích luỹ tài sản.
4. Tạo ra các tiền đề cần và đủ để mở rộng hình thức, nội dung phạm vi
chuyển đổi của ViệtNam đồng
5. Tăng dự trữ ngoại tệ lên mức thích hợp và với cơ cấu dự trữ ngoại tệ hợp
lý đáp ứng yêu cầu phát triển của nền kinh tế. Sở dĩ vấn đề uy tín của Việt Nam
đồng được nhấn mạnh bởi nó có ý nghĩa hết sức to lớn trên nhiều phương diện
kinh tế , chính trị, đối nội và đối ngoại, đồng thời gắn với hàng loạt vấn đề mang
tầm chiến lược. Trên phương diện lý thuyết lẫn thực tế, sự mất uy tín của đồng bản
tệ ở bất kỳ quốc gia nào bao giờ cũng là nguyên nhân của các biến động kinh tế, tài
chính và để lại nhiều hậu quả tiêu cực khó lường. Rõ ràng một đồng tiền mất uy tín
tất yếu sẽ làm tổn thương đến tích luỹ, đầu tư nội địa, loại bỏ sự hấp dẫn với FDI,
tăng nguy cơ lạm phát, chi phí lãi xuất huy động cao, nếu trầm trọng có thể bị tước
bỏ chức năng, bị đẩy ra khỏi hệ thống thanh toán tạo điều kiện cho hội chứng Đôla
hoá Là một nước mới ra khỏi khủng hoảng kinh tế trầm trọng, siêu lạm phát, uy
tín của Việt Nam đồng trong dân chúng chưa cao, đã hiểu cái giá phải trả cho việc
đồng tiền bị mất uy tín giai đoạn vừa qua.
Do vậy việc nhận thức đầy đủ vấn đề nâng cao uy tín của đồng tiền quốc gia
cũng chính là một tác nhân trực tiếp vào chiến lược vốn, chiến lược tăng trưởng
nhanh , bền vững của nước ta.
Đối với một quốc gia, chủ quyền tiền tệ là tối quan trọng, tình trạng Đôla
hoá những năm qua ở Việt Nam gây nhiều hệ quả tiêu cực, song trước đây chúng
ta chưa có đủ điều kiện để sử lý triệt để vấn đề này. Sau khi nền kinh tế đã ra khỏi
khủng hoảng hệ thống tài chính tiền tệ đã được cải thiện một bước cơ bản, các tiền
đề cần và đủ cho thực hiện chủ quyền tiền tệ đã xuất hiện. Hơn nữa, việc xây dựng
chủ quyền tiền tệ còn là yêu cầu đòi hỏi cấp bách từ yêu cầu phát triển kinh tế của
Việt Nam giai đoạn tới. Nền kinh tế bị Đôla hoá nghiêm trọng, có nghĩa là chính
sách tiền tệ của quốc gia đó bị phụ thuộc vô hình vào chính sách tiền tệ của Mỹ, sự
biến động của USD trên thị trường quốc tế, đồng thời không cho phép nắm, tính

để đạt được mục tiêu này ngoài các điều kiện về chính trị (uy tín điều hành quản lý
của nhà nước) xã hội, tâm lý (uy tín của VND đủ mạnh), pháp chế thì phải hội tụ
đủu các điều kiện kinh tế, trong đó quan trọng nhất là nền kinh tế được củng cố
thường xuyên về thực lực, phát triển ổn định,VND ổn định vững chắc về mặt giá
trị, lạm phát ổn định ở mức rất thấp, dự trữ ngoại chiến lược đủ mạnh cơ cấu giá cả
kinh tế phù hợp với cơ cấu quốc tế, thị trường ngoại hối tài chính hoàn chỉnh và
phát triển, nền kinh tế thực sự hội nhập vào thế giới. Bên cạnh đókhi công bố chính
thức tỷ giá hối đoái cần có hệ thống chính sách, giải pháp hỗ trợ để xử lý các
tình huống bất trắc.
Cuối cùng, là quốc gia có số lượng nợ nước ngoài lớn, nợ đến hạn ngày càng
cao, nhu cầu ngoại tệ của nền kinh tế gia tăng mạnh, trong khi dự trữ ngoại tệ của
nước ta ước khoảng ba tháng nhập khẩu vì vậy chính sách ngoại tệ cần phải hướng
vào mục tiêu tăng dự trữngoại tệ ở mức thích hợp với cơ cấu hợp lý đảm bảo nhu
cầu nhập khẩu, trả nợ và sự can thiệphiệu qủa của nhà nước khi cần thiết.
Hệ thống mục tiêu của chính sách tỷ giá hối đoái nêu trên có mối quan hệ
nội tại thống nhất hữu cơ hết sức chặt chẽ với nhau, trong đó mục tiêu chủ quyền
tiền tệ, chuyển đổi chỉ có thể thực hiện nếu VND thực sự có uy tín cao, ổn định,
nược lại, khi VND mở rộng nội dung hình thức chuyển đổi, mục tiêu chủ quyền
tiền tệ được thực hiện sẽ có tác động rất lớn trong việc củng cố nâng cao uy tín của
VND, tăng cường dự trữ ngoại tệ quốc gia, trong khi đó thực lực dự trữ ngoại tệ lại
21
là một trong các tiền dề quan trọng để đảm bảo duy trì khả năng chuyển đổi VND,
tăng cường sự điều chỉnh của nhà nước trong lĩnh vực ngoại tệ.
Thực tiễn những năm quavà lịch sử thế giới cho thấy: củng cố nâng cao uy
tín địa vị của đồng tiền quốc gia trong đời sóng kinh tế xã hội là con đường đúng
đắn để phát triển đất nước.
2. Nhiệm vụ của chính sách tỷ giá hối đoái:
Tuy có những nét chung, song nhiệm vụ của chính sách tỷ giá hối đoái ở
mỗi nước có những đặc thù riêng do hoàn cảnh cụ thể và những vấn đề mà nền
kinh tế đang tập trung giải quyết. Xuất phát từ đặc điểm nổi bật là tính chất quá độ

22
- Xuất phát từ đặc điểm kinh tế hiện tại của đất nước ta, xu hướng lên giá
của VND, quan hệ cung cầu ngoại tệ, để đảm bảo không ảnh hưởng đến mục tiêu
kinh tế vĩ mô khác hặc ảnh hưởng ở mức thấp, thì việc điều chỉnh tỷ giá cần phải
có sự phối hợp hiệu quả giữa các chính sách tiền tệ, tài chính, thu nhập ngoại
thương ví dụ để ngăn ngừa xu hướng lên giá của VND, cần điều chỉnh cơ cấu chi,
thu hẹp thâm hụt ngân sách nhà nước, nhất là vay nợ nước ngoài và loại bỏ xu
hướng gia tăng lương, thu nhập quá cao, hặc để khuyến khích xuất khẩu cần phải
phối hợp tỷ giá với các giải pháp thuế, tín dụng - Hoàn thiện hệ thống công cụ tài
chính, tiền tệ (cả gián tiếp và trực tiếp) việc hiện đại hoá hệ thống tổ chức tài chính
được tiến hành song song với phát triển hệ thống thị trường tài chính nhằm nâng
cao năng lực, mở rộng phạm vi điều chỉnh vĩ mô của nhà nước.
3.Định hướng điều chỉnh tỷ giá hối đoái.
a) Một số vấn đề cấp bách cần xử lý:
Trong lĩnh vực tỷ gía, tỷ giá trong kinh tế thị trường ở nước ta còn nhiều vấn
đề về lý luận và thực tiễn chưa được nghiên cứu đầy đủ. Để có được những định
hướng đúng đắn, chỉ dẫn phù hợp cho công tác quản lý, việc điều chỉnh tỷ giá hối
đoái trong giai đoạn tới cũng như xây dựng một chính sách chiến lược tỷ giá hối
đoái thực sự tự chủ, phù hợp với chiến lược phát triển kinh tế xã hội ở nước ta và
xu hướng quốc tế hoá toàn cầu đang diễn ra sâu rộng cần phải:
+ Tiến hành nghiên cứu, tổng kết kịp thời kinh nghiệm cải cách quản lý,
điều chỉnh tỷ giá trong giai đoạn vừa qua.
+ Nghiên cứu xây dựng cơ sở khoa học, phương pháp luận cho việc xác định
tỷ giá hối đoái danh nghĩa, tỷ giá thực tế, tỷ giá cân bằng trong điều kiện cụ thể của
nước ta, chuẩn xác hoá, hệ thống hoá dự liệu kinh tế có liên quan trực tiếp đến tính
toán điều chỉnh tỷ giá hối đoái(chỉ số lạm phát, hệ số giảm phát, tính xác thực của
tài khoản vãng lai, cán cân thanh toán quốc tế, vấn đề nợ ) để có được sự trả lời
chính xác tỷ giá hối đoái hiẹn tại đã phù hợp chưa? nên điều chỉnh theo hướng
nào? khả năng điều chỉnh trên thực tế ra sao? đặc biệt là lượng hoá được hậu quả
của điều chỉnh.

ý kiến thứ hai không phủ nhận xu hướng trên và cho rằng: trong thời gian tới USD
vẫn còn vị trí quan trọng trên thị trường tài chính quốc tế, do đó USD vẫn là đồng
tiền chủ yếu để làm cơ sở xác định chính sách tỷ giá của Việt nam.
Thực ra giữa hai ý kiến trên không có mâu thuẫn gì lớn, mặc dù trong giai
đoạn vừa qua chúng ta chưa có nhiều quan hệ ngoại thương trực tiếp với Mỹ, song
trên 90% các hợp đồng thương mại của ta được tính toán bằng USD, hơn nữa do
vai trò của USD trong đời sống kinh tế nước ta và mục tiêu của chiến lược ổn định
hoá xét trên phương diện lý thuyết, thực tiễn thì việc gắn VND với USD trong giai
đoạn vừa qua là phù hợp, hiệu quả, là giải pháp khôn ngoan. Tuy nhiên bước vào
giai đoạn phát triển mới, đa phương hoá cao độ thì phương án chuyển sang định
giá theo giỏ ngoại tệ mạnh, dựa trên cơ sở mô hình lượng về ngoại thương nhiều
chiều sẽ có lợi thế hơn cho kinh tế đối ngoaị: song dù sao chăng nữa trong giỏ
ngoại tệ tỷ trọng của USD vẫn là lớn nhất. Nhìn tổng thể, việc gắn với giỏ ngoại tệ
sẽ giảm được sự rủi ro, bấp bênh do biến động của tỷ giá song phương gây ra, thích
hợp với hiện thực là tính không thuần nhất trong thương mại quốc tế, trước hết là
sự đàn hồi (co giãn) giá cả khác nhau đối với cung và cầu theo các nhóm hàng hoá
khác nhau.
24
CHƯƠNG 3
TÌNH HÌNH BIẾN ĐỘNG TỶ GIÁ
Từ năm 2008 đến nay, tỉ giá VND/USD có nhiều biến động, đặc biệt trên thị
trường tự do. Điều đó chứng tỏ cung-cầu ngoại tệ và chính sách tỉ giá cũng có vấn
đề.
Nhưng đợt biến động nào cũng được cho là do yếu tố tâm lý và hoạt động
đầu cơ tạo cầu ngoại tệ "ảo". Có lẽ đã đến lúc nên có quan điểm khách quan hơn về
vấn đề này.
Từ năm 2008 đến nay, VND đã trải qua những giai đoạn biến động đảo
chiều. Lượng kiều hối và vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài (FII) dồi dào và mức giải
ngân tương đối cao của vốn đầu tư trực tiếp (FDI) trong quý I/2008 khiến các NH
dư thừa tạm thời USD, 1USD Mỹ trên thị trường tự do khoảng giữa tháng 3.2008


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status