HỌC VIỆN QUÂN Y
Chủ biên: GS.TS. Phạm Gia Khánh
NGOẠI KHOA
CƠ SỞ
(Giáo trình giảng dạy đại học)
Nhà xuất bản quân đội nhân dân
Hà Nội - 2005
Nhà xuất bản mong bạn đọc góp ý kiến, phê bình
355 - 616 N
QĐND - 2005
Thư ký biên soạn: PGS.TS. Phạm Vinh Quang
Tham gia biên soạn:
1. TS. Hoàng Mạnh An.
Phó giám đốc Bệnh viện 103.
2. PGS.TS. Đỗ Tất Cường.
Phó giám đốc Bệnh viện 103.
3. PGS.TS. Trần Đình Chiến.
Chủ nhiệm bộ môn Chấn thương chỉnh hình - Bệnh viện 103.
4. TS. Hoàng Văn Chương.
Giảng viên bộ môn Gây mê - Bệnh viện 103.
5. BS CKII. Lê Hồng Đức.
Phó chủ nhiệm Bộ môn Gây mê - Bệnh Viện 103.
6. TS. Trần Minh Đức.
Chủ nhiệm Phòng khám bệnh - Bệnh viện 103.
7. BS CKII. Nguyễn Văn Đại.
Chủ nhiệm khoa Chấn thương chỉnh hình - Bệnh viện 103.
8. PGS.TS. Đặng Ngọc Hùng.
Phó giám đốc Học viện Quân y - Giám đốc Bệnh viện 103.
10
73 - 2005
9. PGS.TS. Lê Trung Hải.
Giáo vụ bộ môn Phẫu thuật bụng - Bệnh viện 103.
11
lời nói đầu
goại khoa cơ sở và triệu chứng học ngoại khoa là những kiến
thức rất cơ bản giúp sinh viên đi thực tập lâm sàng có kết quả,
nó đặc biệt cần thiết đối với sinh viên bắt đầu học ngoại khoa. Với mục
đích đó các Bộ môn ngoại - Học viện Quân y đã biên soạn cuốn sách
này. Cuốn sách gồm 2 phần: Phần 1 là một số kiến thức cơ bản về
ngoại khoa và phần 2 là triệu chứng học về ngoại khoa.
N
Cuốn sách được biên soạn khá công phu, sát với chương trình
đào tạo. Tuy đã nhiều cố gắng nhưng có thể không tránh khỏi những
thiếu sót. Rất mong được sự đóng góp của các quý độc giả để cuốn
sách được hoàn hảo hơn.
giám đốc học viện quân y
12
GS.TS. phạm gia khánh
ngoại khoa cơ sở
mục lục
Tr
ang
Lời nói đầu
Phần I: ngoại khoa cơ sở
9
1. Lịch sử phát triển ngoại khoa … 11
2. Những nguyên tắc ngoại khoa cơ bản … 27
3. Vô khuẩn trong ngoại khoa …. 41
4. Đại cương gây tê 45
13
5. Gây mê 51
3.2. Các phương pháp chẩn đoán bệnh lý cột sống - tuỷ sống . 238
3.3. Khám chấn thương sọ não 246
4. Triệu chứng học ngoại khoa một số bệnh các cơ quan vùng cổ, ngực và
mạch máu 260
4.1. Thăm khám và triệu chứng học khối u vùng cổ … 260
4.2. Triệu chứng học và các phương pháp thăm khám tuyến vú … 271
4.3. Thăm khám và triệu chứng học chấn thương ngực kín và vết thương ngực
287
4.4. Thăm khám và triệu chứng học bệnh mạch máu ngoại vi 295
Tài liệu tham khảo 309
15
Ngoại khoa cơ sở
giáo trình giảng dạy đại học
Chịu trách nhiệm xuất bản: Phạm Quang định
Chịu trách nhiệm bản thảo: Học viện Quân y
Biên tập: Phòng Biên tập sách quân
sự-lịch sử NXBQĐND
BS. Nguyễn Văn Chính
BS. trịnh nguyên hoè
Trần Thị Hường
Trình bày: trịnh thị thung
Bìa: BS.
Nguyễn Văn Chính
Sửa bản in: trần thị tường vi
BS. trịnh nguyên hoè
Trần Thị Hường
tác giả
Phạm Vinh Quang
1. Lịch sử ngoại khoa.
Ngoại khoa có một bề dày lịch sử và sự phát triển như ngày nay là nhờ sự
đóng góp to lớn của nhiều lĩnh vực.
ở thời tiền cổ, thuật ngữ "ngoại khoa" không chỉ là các phương pháp điều trị
bệnh mà còn là các biện pháp để thực hiện các nghi lễ (cúng quỷ thần, lễ siêu thoát).
Vào khoảng 4000 năm trước công nguyên, người cổ đại đã biết cách thắt và
khâu buộc, cầm máu vết thương. Từ 3000 năm trước công nguyên, người Ai Cập
đã biết sử dụng những loại chỉ được chế tạo từ ruột động vật để khâu vết thương
và chữa gẫy xương, khoan sọ để giải thoát "thần kinh" cho người bệnh.
Vào thời kỳ La Mã cổ đại, Hippocrate (người Hi Lạp, sinh năm thứ 460 trước
công nguyên) đã xuất bản hơn 70 cuốn sách y học về gẫy xương, sai khớp và
những bệnh cần điều trị ngoại khoa.
19
Trong thời kỳ của các nền văn minh cổ đại, Hippocrate đã biết dùng nước
đun sôi để nguội và rượu để rửa các vết thương, cố định ổ gẫy để chữa gãy
xương, nắn chỉnh để chữa sai khớp, áp nhiệt để đốt các búi trĩ và cầm máu bằng
các dùi sắt nung đỏ, chích tháo mủ để điều trị các ổ áp xe Trong cuốn sách
"Corpus Hippocratum", Ông đã mô tả các đặc điểm của thoát vị, bệnh loét dạ
dày.
Năm 1478, Aulus Cornelius Celsus - nhà bách khoa toàn thư người La Mã ở
nửa đầu thế kỷ thứ nhất trước công nguyên đã mô tả tình trạng nhiễm trùng với 4
đặc điểm: "sưng, nóng, đỏ, đau”, về một số phương pháp điều trị ngoại khoa. ở
thời kỳ này, nhà danh y Hi Lạp Herophile (sinh năm thứ 320 trước công nguyên)
đã tiến hành phẫu tích tử thi để nghiên cứu về giải phẫu người.
Erasistrate (sinh năm thứ 310 trước công nguyên) đã đề xuất phương pháp
chữa tắc ruột và thoát vị nghẹt bằng mổ bụng. Clauduis Galen (sinh vào năm thứ
130 trước công nguyên) đã biết luộc dụng cụ trước khi sử dụng cho phẫu thuật,
sử dụng chỉ để thắt mạch máu, chữa các vết thương cơ, thần kinh, mạch máu, gẫy
xương, sai khớp và chích bỏ máu, mổ lợn, khỉ, bò để nghiên cứu về giải phẫu.
lập Hội ngoại khoa. Ngày 2 tháng 7 năm 1748, Viện Hàn lâm phẫu thuật của nhà
vua Pháp được thành lập. Chương trình đào tạo về ngoại khoa được Pierre Joseph
Desault (1744 - 1795) xây dựng.
Vào những thập kỷ sau của thế kỷ XIX, ngoại khoa đã có những bước tiến và
sự phát triển đáng kể, làm tiền đề cho sự phát triển vượt bậc của ngoại khoa trong
thế kỷ XX.
Năm 1858, nhà giải phẫu bệnh Rudolf Virchow đã đưa ra lý thuyết về bệnh
lý tế bào. Vào giữa thế kỷ XVIII, Morgagni tin rằng: mọi bệnh đều phát triển ở
các cơ quan của cơ thể. Vào đầu thế kỷ XIX, phẫu thuật viên người Ph¸p Xavier
Bichat đã khẳng định: các cơ quan của cơ thể đều được cấu tạo bởi các mô, giới
hạn cuối cùng của các quá trình bệnh lý khu trú ở các tế bào.
ở nước ta, từ thế kỷ XIV đến thế kỷ thứ XVIII, vào các thời đại nhà Lý, Trần,
Lê đã có những bài thuốc y học cổ truyền chữa gẫy xương, viêm tấy phần mềm.
Tuệ Tĩnh, vị danh y ở thế kỷ thứ XIV đã dùng cao dán để điều trị các vết thương
do dao chém, các bài thuốc để chữa bỏng, để trị dòi, bọ tại vết thương, vết bỏng.
Hải Thượng Lãn ông (1720 - 1791) đã có những bài thuốc uống, thuốc rửa, thuốc
dùng tại chỗ để điều trị các thương tích do bị đánh, bị thương (các vết đứt, vết
chém), các vết bỏng.
2. Gây mê và khử trùng.
Trước khi có các phát minh về tiệt trùng, khử khuẩn, thì tỉ lệ các vết thương
bị nhiễm khuẩn và tình trạng tử vong do nhiễm khuẩn rất cao gây ảnh hưởng lớn
đến kết quả phẫu thuật trong nhiều thế kỷ.
+ Vào năm 1840, bác sỹ sản khoa người Hungari Ignaz Semmelweis và Oliver
Wendell đã tiến hành khử trùng buồng đỡ và môi trường xung quanh bằng vôi
và khử trùng tay người đỡ đẻ bằng dung dịch clo.
+ Việc ứng dụng phương pháp gây mê trong phẫu thuật vào năm 1840 được
coi là phát minh vĩ đại nhất trong lịch sử của y học.
Vào năm 1842, bác sĩ Crawford W. Long (người Georgia) đã sử dụng
phương pháp gây mê ête để cắt bỏ những khối u nhỏ trên da. Năm 1844, H.Wells
đã nghiên cứu sử dụng protoxydazot để gây mê. Năm 1898, Augurt Bier đã đề
thuật điều trị ung thư thực quản và dạ dày của Billroth, phẫu thuật điều trị thoát
vị bẹn cải tiến của Bassini và Halsted đã được giới y học thời kỳ này đánh giá
cao.
Vào những năm 1880 do chưa có những hiểu biết về khử trùng nên phẫu
thuật viên không dám mở bụng để trị tắc ruột, thoát vị nghẹt. Năm 1809, bác sỹ
Ephraim mcDowell người Kentucky đã dũng cảm cắt bỏ thành công một khối u
buồng trứng lớn cho bà Jane Todd Crawford. Nếu phẫu thuật không thành công,
Ông có thể bị những người dân trong thị trấn Danville, kentucky treo cổ.
Nhưng nguyên lý cơ bản của kỹ thuật khâu nối ruột đã được phát minh từ đầu
thế kỷ XIX nhưng phải tới vài thập kỷ sau kỹ thuật này mới được đưa vào sử
dụng. Trong thời gian này, Guillaume Dupuytren (người Pháp) đã tiến hành
những thí nghiệm liên quan đến kỹ thuật khâu nối ruột.
Một sinh viên của Dupuytren là Antoine Lembert là người đã đề xuất mối
khâu rời (sau này được mang tên ông - mối khâu Lembert) cho phép áp tối đa các
mặt thanh mạc của ruột.
ở châu Mỹ, những công trình nghiên cứu của nhà giải phẫu bệnh Reginald
Heber Fitz cùng các phẫu thuật viên như Charles Mac-Burney, Henry B, Sands
22
(New York), John B. Murphy (Chicago) đã góp phần quan trọng trong việc thúc
đẩy sự phát triển của ngoại khoa. Năm 1886 Fitz đã chính thức đưa căn bệnh
viêm ruột thừa vào giảng dạy.
Charles Mac-Burney, giáo sư ngoại khoa của trường Y, làm việc ở bệnh viện
New York là người đã tìm ra điểm thăm khám phát hiện ruột thừa viêm vào năm
1889 (điểm này được gọi là điểm Mac-Burney), 5 năm sau ông lại công bố đường
rạch da trong phẫu thuật cắt bỏ ruột thừa viêm (đường Mac-Burney).
Sự kiện dẫn lưu thành công áp xe ruột thừa cho Vua Edward VII nước Anh,
giúp cho Ông lên ngôi vua vào năm 1902 đã khiến cho dư luận quan tâm nhiều
hơn đến vai trò của ngoại khoa, tạo điều kiện cho ngoại khoa phát triển.
3. Phẫu thuật thần kinh.
Thế kỷ XIX đánh dấu sự phát triển đặc biệt của Phẫu thuật thần kinh, Phẫu
thuật này có thể áp dụng trên người.
23
Phẫu thuật thay van động mạch chủ đã được một số tác giả tiến hành từ
năm 1965.
Một trong những người tiên phong trong chuyên ngành phẫu thuật tim là
Michael E. DeBakey. Năm 1934, Ông đã phát minh ra loại bơm cuộn - đảm
nhiệm chức năng cơ học của tim trong máy tim - phổi nhân tạo, chế tạo các loại
động mạch nhân tạo. Ông là người đầu tiên tiến hành các phẫu thuật điều trị
phồng động mạch chủ bụng và động mạch chủ ngực, phẫu thuật cắt bỏ lớp áo
trong của động mạch chủ, động mạch cảnh (năm 1953), là người đầu tiên sử
dụng các đoạn tĩnh mạch nông làm cầu nối để điều trị thành công bệnh tắc động
mạch vành (năm 1964).
Sự ra đời của phương pháp gây mê nội khí quản vào năm 1910 đã giải quyết
được những khó khăn về kĩ thuật mà chuyên ngành Phẫu thuật lồng ngực đã gặp
phải trong suốt một thời gian dài. Mặc dù John H. Gibbon đã bắt đầu nghiên cứu
về máy tuần hoàn ngoài cơ thể từ trước chiến tranh thế giới lần thứ II, cho đến
tận những năm cuối của thập kỷ 30 (thế kỷ XX), máy hô hấp nhân tạo, thiết bị hạ
nhiệt và tim phổi nhân tạo mới ra đời.
Vào những năm đầu thập niên 40 (thế kỷ XX), Blalock, Edwards A. Park Helen
Taussig, Edwards A. Park, Helen Taussig và Vivien Thomas đã phát triển thành
công phương pháp điều trị ngoại khoa tứ chứng Fallot.
+ Sơ lược lịch sử phát triển của máy tuần hoàn ngoài cơ thể:
Năm 1812, LeGallois đã khẳng định tính khả thi của việc chế tạo máy tuần
hoàn nhân tạo.
Năm 1869, Ludwig và Schmidt đã tiến hành những thử nghiệm về khả năng
cung cấp ôxy nhân tạo cho máu.
Năm 1882, Schraeder là người đầu tiên đã chế tạo thành công thiết bị cung
cấp ôxy cho máu trong hệ thống tuần hoàn ngoài cơ thể (bubble oxygenator).
Năm 1885, Frey và Gruber đã chế tạo thành công màng lọc ôxy (film oxygenator)
đầu tiên.
cụt để điều trị bệnh hoại thư các chi thể tại vị trí mà các mạch máu bị tắc để tránh
biến chứng chảy máu.
Antyllus đã đề nghị phương pháp điều trị ngoại khoa phồng động mạch bằng
phương pháp thắt mạch máu ở đầu trung tâm của túi phồng.
William Hunter đã đề nghị thắt động mạch ở đầu trung tâm của túi phồng để
cầm máu.
Kết quả nghiên cứu về các vòng tuần hoàn chi thể và những biện pháp cải
thiện tuần hoàn bên của V.N. Tonkov, V.A. Oppel, B.A. Dolgo - Saburov, Port,
Lerich đã góp phần cải thiện kết quả phẫu thuật thắt mạch máu.
6.2. Thời kỳ phẫu thuật tái tạo, phục hồi sự lưu thông mạch máu:
Năm 1759, Hallowel (nước Anh) đã khâu phục hồi thành công tổn thương
mặt bên của động mạch cánh tay.
Carrel đã đặt nền móng cho chuyên ngành Phẫu thuật mạch máu vào cuối thế
kỷ XIX, đầu thế kỷ XX, đề xuất 12 vấn đề chủ yếu cần chú ý trong điều trị thông
động-tĩnh mạch làm cơ sở cho kỹ thuật cấy ghép tổ chức cơ quan sau này.
Năm 1879, nhà phẫu thuật người Nga là EKK đã thực hiện thành công miệng
nối bên-bên hai mạch máu (tĩnh mạch chủ dưới và tĩnh mạch cửa).
Năm 1882, Schede đã khâu hồi phục thành công một trường hợp rách thành
bên tĩnh mạch.
Năm 1895, I. Ph. Sabanhiev đã thực hiện lấy thử vật tắc ở động mạch đùi nhưng
không thành công. Mãi tới năm 1911 tại Pháp, Labey mới tiến hành phẫu thuật
lấy bỏ vật tắc ở động mạch đùi thành công. Sau đó phẫu thuật loại bỏ tắc mạch ở
ngã ba động mạch chủ bụng được Bauer thực hiện thành công tại Thụy Điển.
25
Sự phát hiện ra heparin của Mc Lean năm 1916 và sử dụng nó vào trong lâm
sàng ở cuối những năm 30 của thế kỷ XX cùng với kỹ thuật chụp cản quang
mạch máu (C.A. Reiberg, 1924; Sicard và Foresetier, 1923; Dos Santos, 1925) và
thành công trong lĩnh vực gây mê, tuần hoàn nhân tạo vào những năm 50 - 60
của thế kỷ XX là một bước phát triển nhảy vọt của chuyên ngành Ngoại khoa
phục hồi mạch máu.
khâu có kích thước từ 50 - 60 micron đường kính và các dụng cụ đốt cầm máu
lưỡng cực, phẫu thuật viên có thể nối được các mạch máu có đường kính dưới
2mm. Sự phát triển của vi phẫu thuật đã cho phép nối mạch, nối dây thần kinh,
nối các ngón chân, ngón tay bị đứt rời, nối mạch trong ghép các mạch tự do gồm
26
da và tổ chức dưới da có bó mạch thần kinh nuôi dưỡng, tạo điều kiện thuận lợi
cho phẫu thuật tạo hình phát triển.
Carrel đã công bố kỹ thuật khâu nối mạch máu của mình vào năm 1902, khi
Ông chưa đầy 30 tuổi. Với kỹ thuật khâu nối mạch máu đơn giản nhưng vô cùng
hiệu quả này, Ông đã đoạt giải thưởng Nobel về Y học vào năm 1912.
Năm 1965, Komatu và Tâmi đã khâu nối thành công một ngón tay cái bị cắt
đứt hoàn toàn. J. Cobbelt đã tiến hành chuyển một ngón chân lên để thay thế cho
một ngón tay bị đứt lìa thành công vào năm 1968.
7. Điện phân, cân bằng dịch thể, dinh dưỡng, hoá trị liệu, phẫu thuật nội tiết
và X quang.
Cho đến tận những năm 1850, nhờ kết quả các công trình nghiên cứu của
Claude Bernard, vai trò của máu và các dịch thể trong cơ thể mới được hiểu biết
một cách đầy đủ. Ông là người đầu tiên sử dụng từ “milieu” để chỉ tình trạng nội
môi của cơ thể và chỉ ra được những tiêu chuẩn về sinh lý học cho phép các cơ
quan có thể tồn tại một cách độc lập.
Trong thế kỷ XX, Walter Cannon là người dã đưa ra luận thuyết về ổn định
nội môi và Henderson là người đã đưa ra lí thuyết về cơ chế cân bằng acid-base
trong cơ thể.
Năm 1952 giáo sư ngoại khoa Moseley đã xuất bản cuốn sách về phản ứng
trao đổi chất, về hiệu quả và tầm quan trọng của việc duy trì quá trình trao đổi
chất đối với bệnh nhân sau phẫu thuật.
Jonathan Rhoads, Stanley Dudrick là những người tiên phong nghiên cứu các
vấn đề về dinh dưỡng đối với các bệnh nhân phẫu thuật, đưa ra khái niệm tổng
thể về phương pháp nuôi dưỡng ngoài đường tiêu hoá.
Năm 1940, Charles Huggins đã có những nghiên cứu về vai trò của các tuyến
dụng nguồn ánh sáng từ một ngọn nến được phản chiếu qua một hệ thống
gương.
Atoni J. Desormeaux đã chế tạo loại ống nội soi dạ dày và bàng quang, âm
đạo và tử cung sử dụng nguồn sáng từ một ngọn đèn và một thấu kính để hội tụ
ánh sáng. Bevan đã sử dụng ống soi thực quản để lấy dị vật thực quản từ năm
1868.
Năm 1869, Pantaleoni đã soi tử cung và đốt polip bằng dung dịch nitrat bạc
thành công cho một phụ nữ 60 tuổi.
Năm 1874, Stain đã cải biên một chiếc máy chụp ảnh để chế tạo ra loại ống
soi có khả năng chụp ảnh các tổn thương giải phẫu bệnh của bàng quang.
Năm 1867, Bruck là người đầu tiên phát minh ra loại ống soi sử dụng nguồn
sáng phát ra từ những sợi bạch kim nối với nguồn điện đặt ở trên đầu.
+ Giai đoạn 2: sử dụng ống soi cứng (1879 - 1936).
Năm 1879, Max Nitze đã chế tạo thành công loại ống nội soi bàng quang sử
dụng hệ thống các lăng kính và nguồn ánh sáng phát ra từ những sợi bạch kim
đặt ở trên đầu.
Năm 1880, Edison đã lắp một bóng đèn vào đầu ngoại vi của ống nội soi
bàng quang và thiết kế một rãnh riêng trong lòng của ống nội soi dành cho phẫu
thuật.
Năm 1889, Boisseau du Rocher đã chế tạo thành công phần lăng kính gắn vỏ
ở đầu ống nội soi.
Năm 1881, Mikulicz sử dụng một loại bóng đèn nhỏ làm nguồn sáng để soi
dạ dày.
Năm 1898, Killian đã soi phế quản thành công nhờ bố trí hệ thống nguồn
sáng trên đầu qua một chiếc gương phản chiếu.
+ Giai đoạn 3: sử dụng ống soi nửa mềm (1936 - 1957).
28
Việc phát minh ra loại ống nội soi nửa mềm đã cho phép đưa được ống nội
soi qua những chỗ uốn cong, gấp khúc của các cơ quan nội tạng.
Năm 1881, Johann Von Mickulicz đã chế tạo thành công loại ống soi nửa
hơn khả năng chẩn đoán của phương pháp nội soi ống mềm.
Năm 1980, tại Hội nghị nội soi tiêu hoá lần thứ tư tổ chức của châu âu ở
Hamburg, Strohm và Classen đã thông báo kết quả sử dụng ống nội soi mềm kết
hợp với siêu âm kiểu xuyên tâm. Phương pháp nội soi kết hợp với siêu âm đã góp
phần quan trọng trong chẩn đoán các khối u hạ niêm mạc dạ dày, phát hiện độ
sâu mà khối u đã thâm nhiễm tới, phát hiện những di căn ung thư vào tổ chức hạch
29
bạch huyết ở xung quanh, phát hiện những khối u có kích thước nhỏ của tụy tạng
có đường kính < 2 cm và kiểm tra đường mật, túi mật, thuỳ trái, thùy phải của gan.
Ngoài khả năng để chẩn đoán, phương pháp nội soi còn có khả năng điều trị
một số bệnh như chảy máu đường tiêu hoá trên (tiêm ephedrin, kẹp cầm máu
bằng các clip, gây dính tổ chức bằng polimer, đốt cầm máu bằng các đầu đốt điện
đơn và lưỡng cực, buộc cầm máu bằng các loại chỉ chun giãn, sử dụng đầu đốt
điện, sử dụng liệu pháp gây xơ, làm đông đặc mạch máu bằng siêu âm).
Năm 1939, Crafoord, Frenckner đã mô tả phương pháp sử dụng cồn etanol 98%,
dung dịch muối natri, thrombin, dextrose, ephedrin, adrenalin, dung dịch epinephrin
đậm đặc để cầm máu các tĩnh mạch thực quản bị giãn vỡ qua nội soi.
Năm 1964, Gensic và Labuda đã chế tạo và ứng dụng thành công trong nội
soi loại laser - agon, hồng ngọc, nhôm, ytri (Nd-YAG).
Năm 1983, Fruhmorgan đã ứng dụng loại laser vào nội soi thành công.
Năm 1976, Tytgat đã đưa được ống nội soi qua chỗ hẹp của đoạn thực quản-
tâm vị do bị một khối ung thư chèn ép.
Năm 1980, Gauderer đã mô tả kỹ thuật nội soi dạ dày qua da (PEG). Bốn
năm sau, Ponsky và Aszodi đã tiến hành trường hợp mở dạ dày và mở tiểu tràng
bằng phương pháp nội soi qua da đầu tiên.
Mỹhe thực hiện ca mổ cắt túi mật nội soi đầu tiên vào năm 1985.
Năm 1970, Oi đã tiến hành soi đường mật nội soi ngược dòng thành công,
mở đầu cho một thời kỳ điều trị sỏi đường mật bằng phương pháp nội soi.
Năm 1974, Classen và Demling và Kawai đã tiến hành lấy sỏi đường mật và
cắt các khối u nhú đường mật thành công.
o
- 50
o
so với trục dọc, thiết kế dụng cụ
sinh thiết trong quá trình nội soi ổ bụng, là người đề xuất và ủng hộ kỹ thuật chọc
hai lỗ trong nội soi ổ bụng.
Năm 1938, Veress (người Hugari) đã chế tạo thành công loại kim có bộ phận
gạt ở bên trong làm thay đổi hướng của lưỡi cắt tạo điều kiện cho việc cắt sinh
thiết nhanh gọn, và một loại kim bơm khí khoang ổ bụng an toàn.
Năm 1946, Decker đã đề xuất phương pháp thay đổi vị trí đưa ống nội soi
vào khoang ổ bụng để làm giảm thiểu các biến chứng tổn thương ruột và mạch
máu.
- Thời kỳ nội soi ổ bụng phẫu thuật (1933 - 1987):
Năm 1933, Fervers lần đầu tiên đã mô tả kỹ thuật mổ bụng qua ống nội soi có
gắn những thiết bị sinh thiết và đốt cầm máu, sử dụng khí dioxit carbon để bơm
vào khoang ổ bụng.
Năm 1934, Jhon Ruddock đã chế tạo thành công và đưa vào sử dụng hệ
thống vật kính chuyên dụng, loại kìm sinh thiết và dụng cụ đốt điện.
Năm 1936, Boesch (Đức) đã tiến hành phẫu thuật nội soi sử dụng dao điện
đơn cực để cắt vòi dẫn trứng gây triệt sản, Andreson (Mỹ) đã sử dụng nhiệt làm
đông đặc vòi dẫn trứng để triệt sản.
Năm 1937, Hope đã sử dụng nội soi ổ bụng để chẩn đoán và phẫu thuật cấp cứu
chửa ngoài tử cung.
Năm 1941, Power và Barnes (Mỹ) đã sử dụng dao điện đơn cực cắt vòi trứng
thành công.
Năm 1942, Donaldson và Colleagues (Mỹ) đã treo tử cung thành công bằng
phẫu thuật nội soi.
Palmer (1962), Frangeheim (1963) đã sử dụng điện đông để thực hiện triệt
sản qua nội soi.
31
tử cung, điều trị chửa ngoài tử cung, tách dính, rạch tháo dịch vòi tử cung, rạch
và hút các nang của buồng trứng (hội chứng Stein-Leventhal), làm tiêu các dây
chằng tử cung điều trị chứng đau do kinh nguyệt.
Hope (1937) đã công bố những tài liệu đầu tiên về việc sử dụng nội soi ổ bụng
để chẩn đoán phân biệt chửa ngoài tử cung. Anderson (1937) đã sử dụng đốt điện
để triệt sản. Power và Barnes (1941) đã trình bày kỹ thuật đốt qua ống nội soi để
triệt sản. Palmer (1947) đã sử dụng phương pháp nội soi để chẩn đoán nguyên
nhân chứng vô sinh ở phụ nữ và chế tạo thành công loại kẹp sinh thiết khoan để
sinh thiết buồng trứng. Frangenheim (1959) đã cải tiến thành công dụng cụ
quang học sử dụng trong phẫu thuật nội soi ổ bụng. Kalk (1929) đã chế tạo thành
công hệ thống thấu kính chếch trước 135 độ và đề xuất sử dụng lỗ chọc thứ 2 để
sinh thiết gan. Ruddock (1934) phát triển lỗ chọc đơn để soi màng bụng phẫu
thuật và các dụng cụ sinh thiết trong quá trình nội soi.
32
Năm 1970, việc áp dụng nội soi để sinh thiết gan, nghiên cứu các rối loạn của
gan và đường mật, xử trí cấp cứu bụng đã được các tác giả như Kalk, Wanhagat,
Beck và Hemming ở Đức; Berci, Gaisford và Boyce ở Mỹ; Cuschieri ở Anh và
Bắc Ailen triển khai khá rộng rãi.
Pergola, Etienne, Delavierre (Pháp), Canossi, Spinelli, Sotnikovet, Berezov,
Nikora (URRS), Cuschieri, Gross(Anh và Bắc Ailen), Devita, Gaisford;
Sugarbaker (Mỹ) là những người đầu tiên tiến hành mổ nội soi điều trị một số
bệnh ung thư.
Năm 1986, Warshaw, Tepper và Shipley đã sử dụng phẫu thuật nội soi để điều
trị ung thư tụy tạng với tỉ lệ chính xác trên 93%.
Năm 1979, Frimberger (Đức) đã tiến hành phẫu thuật cắt túi mật và lấy sỏi
túi mật bằng phương pháp nội soi. Năm 1983 Lukichev và Colleagues đã mổ cắt
túi mật nội soi điều trị viêm túi mật cấp.
- Thời kỳ phẫu thuật nội soi hiện đại có sử dụng tin học và màn hình vô tuyến
(1987 đến nay):
Sự xuất hiện loại chíp máy tính quay phim truyền hình gắn với ống nội soi