Tiểu luận “Phân tích lợi thế cạnh tranh của sản phẩm gạo Việt Nam sang thị trường Philippines” - Pdf 16

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP HỒ CHÍ MINH
KHOA THƯƠNG MẠI – DU LỊCH - MARKETING

Môn Quản trị kinh doanh quốc tế
Tên đề tài:
PHÂN TÍCH LỢI THẾ CẠNH TRANH
CỦA SẢN PHẨM GẠO VIỆT NAM SANG
THỊ TRƯỜNG PHILIPPINES
GV hướng dẫn: Th.S. Quách Thị Bửu Châu
Nhóm thực hiện:
1. Ngô Hoàng Thu Hằng - NT4.K33
2. Dương Ngọc Quỳnh Như - NT4.K33
3. Trần Thị Thúy Quỳnh - NT4.K33
4. Lê Uyên Phương – NT4.K33
5. Bùi Ánh Ngọc - NT3.K33
Tp HCM, Tháng 11/2009
Trang 1

Trang 2

3.5.2 Vốn 46
3.5.3 Thành lập t iêu chuẩn gạo Việt Nam xuất khẩu 48
3.5.4.Thuế 49
3.5.5.Pháp Luật 50
3.5.6 Một số chính sách về lương thực 53
3.6.Vai trò về cơ hội vận may rủi 60
Kết luận 69
Tài liệu tham khảo 70
Trang 4
hi đánh giá các thành tựu kinh tế đã đạt được trong những năm đổi
mới vừa qua, chắc chắn chúng ta không thể không đề cập đến những
thành tựu vượt bậc trong lĩnh vực nông nghiệp. Từ một nước nông
nghiệp lạc hậu, nhiều thập kỷ qua phải nhập siêu về lương thực, chủ yếu mặt
hàng gạo, đến nay Việt Nam không những đảm bảo được an ninh lương thực
quốc gia mà còn trở thành một trong những cường quốc về xuất khẩu gạo trên
thế giới.
K
Tuy nhiên, đó mới chỉ là những thắng lợi bước đầu so với thời kỳ trước
kia của ta. Nếu xem xét một cách toàn diện về sản xuất và xuất khẩu mặt hàng
gạo, Việt Nam còn nhiều mặt hạn chế, trước hết giá cả, chất lượng và khả năng
cạnh tranh còn thấp hơn so với nhiều nước trên thế giới. Trong khi đó, quá trình
tự do hoá thương mại ngày càng diễn ra một cách mạnh mẽ. Tình hình đó càng
làm cho cạnh tranh trở nên quyết liệt và phức tạp hơn cả ở trong và ngoài nước.
Do vậy, nếu chúng ta không sớm có chiến lược dài hạn về sản xuất và xuất khẩu
mặt hàng gạo để tạo ra những bước đột phá mới, chắc chắn chúng ta sẽ khó duy
trì được vị trí như hiện nay, chưa nói đến việc tiến xa hơn so với các đối thủ
cạnh tranh. Xuất phát từ thực tế đó, chúng em thực hiện bài tiểu luận “Phân tích
lợi thế cạnh tranh của sản phẩm gạo Việt Nam sang thị trường Philippines”
nhằm đánh giá khả năng cạnh tranh của Việt Nam vào thị trường này nói riêng
cũng như đối với những nước khác nói chung nhằm giúp Việt Nam ngày càng

đặc biệt trong việc xuất khẩu gạo sang thị trường Indonesia. Thực tế, trong các
năm trước đây, cũng như năm 2007, Indonesia luôn là thị trường xuất khẩu gạo
lớn của Việt Nam (chiếm 24% tổng lượng xuất khẩu), thì năm 2008, nước này
đã giảm mạnh lượng nhập khẩu gạo (chỉ chiếm hơn 1% tổng lượng gạo xuất
khẩu) do có thể tự đáp ứng được nhu cầu gạo tại thị trường trong nước, do lượng
dự trữ trong nước cao và mở rộng sản xuất. Thậm chí, sang năm 2009, sau khi
thu hoạch lúa vụ chính, nước này sẽ xem xét đến khả năng xuất khẩu gạo. Năm
2008, Indonesia chỉ nhập 76,4 nghìn tấn gạo từ thị trường Việt Nam, giảm mạnh
so với mức hơn 1 triệu tấn gạo của năm 2007.
2. PHILIPPINES VẪN DUY TRÌ VỊ TRÍ SỐ MỘT NHẬP KHẨU GẠO
LỚN NHẤT CỦA VIỆT NAM
Trong 10 thị trường nhập khẩu gạo lớn nhất của Việt Nam năm 2008 thì,
Phillippines vẫn là thị trường đứng tại vị trí số một, chiếm gần 40% tổng lượng
gạo xuất khẩu của Việt Nam, tăng 9,3% thị phần so với năm 2007. Trong 10 thị
trường có kim ngạch xuất khẩu lớn nhất này thì có 3 thị trường bao gồm
Philippin, Malaysia, Cu Ba là thị trường truyền thống, chiếm 63,8% về giá trị và
Trang 7
54,8% về lượng. 7 thị trường còn lại là các thị trường thương mại (chiếm 18,4%
về giá trị và 23,3% về lượng), trong đó thị trường châu Phi chiếm tới 11,7% về
giá trị và 14,5% về lượng.
Tuy nhiên, tại 3 thị trường truyền thống, lượng gạo xuất khẩu của Việt
Nam năm 2008 thay đổi không đáng kể so với năm 2007 (tăng 1,5% tại
Philippin, 13,4% tại Cuba và 21,4% tại Malaysia) nhưng do giá tăng mạnh nên
kim ngạch xuất khẩu lại tăng hơn 100% (tăng 133,5% tại Philippin, 145,5% tại
Cuba, 126,6% tại Malaysia).
Tại các thị trường thương mại còn lại, Senegal có sự tăng trưởng về lượng
và kim ngạch lớn nhất (tăng 4.848,9% về lượng và 6.411,3% về giá trị) so với
năm 2007. Gana có sự sụt giảm cả về lượng và giá trị so với năm 2007. Điều
đáng chú ý là năm 2008, I-rắc bắt đầu nhập khẩu gạo Việt Nam trở lại khi tạm
ngừng nhập khẩu vào năm 2007. Trước đây, I-rắc cũng được coi là 1 thị trường

125.500 25% Thái lan
160.000 25% Việt Nam
12.500 15% Việt Nam
15.000 5% Thái lan
12.500 5% Việt Nam
2.500 25% Pakistan
3.000 25% Thái lan
11.250 25% Việt Nam
28.750 25% Thái lan/Việt
Trang 10
Nam/Pakistan
3.125 15% Thái lan/Việt
Nam/Pakistan
3.125 5% Thái lan/Việt
Nam/Pakistan
Tháng 4/2008 25.000 25% Pakistan
193.875 25% Thái lan
70.000 25% Việt Nam
35.000 5% Thái lan
40.625 25% Pakistan
35.000 25% Thái lan
5.625 5% Thái lan
Tháng 6/ 2008 360.000 25% Việt Nam
180.000 15% Việt Nam
60.000 5% Việt Nam
72.600 Gạo loại 4 Mỹ
Tháng 7/2009 65.000 25% Thái lan
10.000 25% Pakistan
Nguồn: AGROINFO, tính theo Tổng cục Hải quan
Trong năm 2009, Philippines nhập 1,775 triệu tấn gạo (gồm cả 1,5 triệu

yếu tố rẻ và tương đối sẵn có của nước đó”.Chẳng hạn, xuất khẩu dầu mỏ của
Trung Cận Đông, đồng của Zambia, Zaica, Chilê,Pêru, hoặc gỗ của Malaixia,
Philippin Khí hậu nhiệt đới đem lại lợi thế về các mặt hàng như cà phê, ca cao,
chuối, dầu thực vật và các nguyên liệu thô như bông cao su. Cuối cùng, tiềm
năng lao động dồi dào cho phép xuất khẩu các mặt hàng sử dụng nhiều lao động
như dệt may, dày gia, công nghiệp nhẹ Việt Nam cũng không nằm ngoài trường
hợp này. Nguồn tiềm năng thuận lợi của Việt Nam trong xuất khẩu gạo bao gồm
cả điều kiện tự nhiên, tài nguyên thiên nhiên và lao động dồi dào.
T
3.1 YẾU TỐ THÂM DỤNG
3 . 1.1 Yếu tố cơ bản:
Việt Nam là một quốc gia nằm trên bán đảo Đông Dương, ven biển Thái
Bình Dương. Việt Nam có đường biên giới trên đất liền dài 4.550 km tiếp giáp
với Trung Quốc ở phía Bắc, với Lào và Căm-pu-chia ở phía Tây; phía Đông giáp
biển Đông. Trên bản đồ, dải đất liền Việt Nam mang hình chữ S, kéo dài từ vĩ độ
23
o
23’ Bắc đến 8
o
27’ Bắc, dài 1.650 km theo hướng bắc nam, phần rộng nhất
trên đất liền dài chừng 500 km; nơi hẹp nhất dài gần 50 km.
Về tự nhiên, Việt Nam có diện tích 330,363 km
2
(thuộc loại có diện tích
trung bình trên thế giới). Đất đai màu mỡ rất thuận lợi cho phát triển nông
nghiệp.Ta có bờ biển dài thuận lợi cho giao thông và chuyên chở đường biển-
Trang 13
thuận lợi cho xuất khẩu. Việt Nam nằm ở trung tâm Đông Nam Á và Bắc Bán
Cầu, khí hậu nhiệt đới gió mùa, rất thuận lợi cho việc phát triển nghề trồng lúa.
Do vậy, cây lúa là cây lương thực truyền thống. Nhiều công trình nghiên cứu

mức 1.100 mm. Lưu vực sông Mê Công ở Thái Lan rộng 188,623 km2 chiếm
Trang 14
36,8% tổng diện tích lưu vực, và đóng góp 51,9 tỷ m3 chiếm 26,1% tổng lượng
nước hàng năm của Thái Lan.
Nông dân ở các đồng bằng trung tâm đất nước có thể trồng lúa vào mùa
khô để kiếm tiền nhưng ở miền đông bắc, người ta không trồng nhiều được”,
ông Amar cho biết.
Dù là nước xuất khẩu gạo lớn nhất thế giới nhờ diện tích trồng lúa rộng
và dân số tương đối ít nhưng năng suất trồng lúa ở Thái Lan vẫn thấp và không
thể dự đoán.
Cho tới nay các thông tin về điều kiện tự nhiên, kinh tế và xã hội và các
hoạt động và chiến lược phát triển kinh tế-xã hội, đặc biệt đối với phát triển tài
nguyên nước của Thái Lan rất thiếu và không hệ thống. Mức độ hợp tác trao đổi
thông tin và ý kiến giữa các quốc gia trong lưu vực sông Mekong, trong đó có
Việt Nam, cũng rất hạn chế phần lớn do chính sách của các cơ quan đối tác của
Thái Lan trong trao đổi và chia sẻ thông tin số liệu. Các nguồn thông tin từ
cộng đồng tài trợ cũng rất hạn chế do Thái Lan không thuộc diện nhận tài trợ
phát triển như các quốc gia khác trong MRC
Về lao động, Việt Nam là nước có lao động trong nông nghiệp chiếm tỷ
lệ cao: trên 70% lực lượng lao động cả nước. Thu nhập bình quân đầu người
thấp – giá nhân công rẻ. Điều này làm cho sản phẩm xuất khẩu của Việt Nam có
giá thành thấp, tăng thêm sức cạnh tranh trên thị trường gạo thế giới.
Việt Nam có thể tận dụng ưu thế về đất đai, khí hậu và lao động để sản
xuất những sản phẩm xuất khẩu chứa hàm lượng tài nguyên và lao động cao, còn
vốn và kỹ thuật thấp. Do vậy, Việt Nam chọn phát triển sản xuất lúa gạo là
ngành chủ đạo trong nền kinh tế quốc dân là hoàn toàn đúng đắn cả về lý thuyết
và thực tiễn. Sản xuất lúa gạo thể hiện rõ các đặc tính của sản xuất nông nghiệp.
Thứ nhất, thực hiện sản xuất trên diện rộng và phụ thuộc vào điều kiện tự nhiên
như khí hậu, đất đai, nguồn nước Thứ hai, tiến hành sản xuất cần nhiều lao
động do tính chất phân bố rộng của sản xuất và đòi hỏi bắt buộc khi thực hiện

Trung ương hỗ trợ hơn 2,5 nghìn tỷ đồng (8,76%); các nguồn huy động khác
hơn 4,6 nghìn tỷ đồng (15,99%).
Tình hình xây dựng cơ sở hạ tầng
Kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội nông thôn được tăng cường, nhất là thuỷ lợi,
giao thông, góp phần thúc đẩy phát triển sản xuất, làm thay đổi bộ mặt nông thôn
 Giao thông nông thôn: Với phương châm “Nhà nước và nhân dân cùng
làm”, giao thông nông thôn có bước phát triển cả về số lượng và chất lượng.
Ngoài việc phát triển hệ thống đường giao thông nông thôn, các địa phương
đã tích cực huy động các nguồn lực tham gia xây dựng các cống qua đường,
nâng cấp và xã hội hệ thống đường nội bộ xã, liên thôn, xoá cầu khỉ ở Đồng
bằng sông Cửu Long… đến năm 2006 cả nước có 8.792 xã có đường ô tô đến
trụ sở UBND xã, chiếm 96,9% tổng số xã (năm 2001 là 94,2%); trong đó có
8.488 xã (chiếm 93,55%) có đường ô tô đi lại quanh năm, có 6.356 xã (chiếm
70%) đường ô tô được nhựa, bê tông hoá… góp phần thu hút các nhà đầu tư
về nông thôn, tạo công ăn việc làm, xoá đói giảm nghèo và giải quyết nhiều
vấn đề kinh tế, xã hội khác.
 Về thuỷ lợi : Tới nay, cả nước có trên 1.952 hồ chứa có dung tích chứa
trên 0,2 triệu m3 nước; 10 ngàn trạm bơm, 1000km kênh trục chính Tổng
năng lực thiết kế tưới của các hệ thống đảm bảo cho 11,45 triệu ha gieo
trồng, trong đó tưới cho 6,85 triệu ha đất lúa, 1 triệu ha rau màu; đảm bảo
tiêu cho khoảng 1,71 triệu ha, ngăn mặn cho 0,87 triệu ha, cải tạo 1,6 triệu ha
đất, cấp nước sinh hoạt, công nghiệp và dịch vụ trên 5 tỷ m3/năm Trong giai
đoạn 2001-2005, năng lực tưới đã tăng thêm 575 ngàn ha, năng lực tiêu tăng
thêm 235 ngàn ha. Đã kiên cố hoá trên 15.000 km kênh mương “Trung ương,
địa phương; nhà nước và nhân dân cùng làm”. Hệ thống quản lý, vận hành hệ
thống thuỷ lợi được củng cố và tăng cường năng lực. Hệ thống thuỷ lợi cả
nước được vận hành do 100 công ty thuỷ nông với tổng số 22.569 cán bộ
công nhân viên và 12.000 HTX, tổ hợp tác.
Trang 17
Vùng ven biển đã tăng cường xây dựng hệ thống các cống đập ngăn mặn, giữ

dù cho là không “chính gốc” cũng có giá từ 7.500 - 8.000 đ/kg. Ngoài ra, thị
trường còn có sự tham gia của một số sản phẩm gạo từ châu Âu như Hà Lan,
Pháp
Riêng gạo cao cấp có thương hiệu trong nước thì có bao bì khá bắt mắt và
khá tiện ích. Trọng lượng từ 2kg đến 10 kg, trên nhãn có ghi hướng dẫn cách nấu
cho mỗi loại, ngày sản xuất, ngày sử dụng, tên doanh nghiệp sản xuất. Nhiều
người dùng cho biết, rất thích những loại gạo này, do khi mua vào cảm thấy yên
tâm hơn và cũng dễ bảo quản, nấu nướng, hương vị đa dạng, phong phú.
Tuy nhiên, theo một lãnh đạo của Hiệp hội Lương thực Việt Nam (VFA): “Phần
lớn gạo có thương hiệu là gạo đặc sản, chủ yếu là trong nước, gạo nhập chiếm
một tỷ lệ rất thấp”. Nguyên do là tâm lý người tiêu dùng Việt Nam đã quá quen
với các chủng loại gạo nội, dễ ăn, giá vừa phải. Mặt khác, người tiêu dùng khi
mua gạo ngon, thường nhắm tới thương hiệu là chính, còn xuất xứ thì khó có thể
biết đích xác đâu là gạo ngoại xịn, đâu là gạo nội được đóng mác ngoại.
Đánh vào tâm lý một số người dùng “sính” gạo ngoại, nhiều nhà bán lẻ
(thậm chí đại lý bán sỉ) đã đánh lừa khách hàng bằng cách dùng gạo nội loại
ngon, đẹp rồi gắn vào một cái tên rất ngoại rồi bán với giá cũng rất ngoại. Một
trong những loại gạo ngoại này là gạo thơm Thái, dẻo Thái AAA, thơm dẻo
Khawdakmali.
Tâm lý hiện nay của nhiều người tiêu dùng là giá cả bằng nhau thì chuyển
qua dùng gạo ngoại. Thế nhưng, sau khi đã dùng thử nhiều người mới nhận ra
rằng, chất lượng gạo ngoại chẳng hơn gạo ta, thậm chí có loại còn thua xa các
loại gạo nội giá rẻ.
Trang 19
Người tiêu dùng cần thận trọng bởi thực tế hiện nay, gạo nội dán mác
ngoại đã và đang xuất hiện khá nhiều trên thị trường. Ở một số chợ tại TP.HCM
và các tỉnh lân cận, để đáp ứng nhu cầu của khách hàng, nhiều hàng xáo đã lấy
gạo ở ĐBSCL “xào nấu” bằng cách trộn lẫn 5 - 7 thứ gạo với nhau rồi dán mác
ngoại vào để nâng giá bán ra. Hầu hết các loại gạo mang nhãn mác Tây, Tàu
“dỏm” xuất hiện ở TP.HCM đều do các cơ sở kinh doanh nhỏ lẻ tung ra. Do vậy,

để sản xuất các loại gạo có phẩm chất cấp thường như gạo: 20%, 25%, 35%
tấm….
Sấy công nghiệp: Lúa chưa đạt ẩm độ cần thiết phải cho qua máy sấy để xử lý
độ ẩm; thường là loại máy sấy tầng sôi và loại máy sấy vĩ ngang. Cả hai loại đều
cho không khí nóng đi qua và liên tục thay đổi với lưu lượng lớn không khí,
nhằm làm giảm lượng nước trong lúa dần dần nên không ảnh hưởng đến chất
lượng gạo, hay giảm tỷ lệ thu hồi khi qua xay xát.

Xay xát: Lúa đã xử lý được đưa vào hệ thống máy xay xát, hệ thống này gồm
có sàng tạp chất để loại bỏ tạp chất. Lúa sạch được đưa qua cối tách vỏ trấu. Vỏ
trấu lại được tách riêng khỏi gạo lức bằng máy hút rớt dựa theo nguyên lý trọng
lượng, gạo lức qua gằng thóc để loại bỏ thóc còn lẫn, sau đó cối xát trắng bóc
cám thành gạo trắng. Lượng cám được tách bóc tùy theo yêu cầu sản xuất gạo
nguyên liệu hay gạo thành phẩm tiêu phụ nội địa.
B/ Công đoạn đánh bóng & đóng gói gạo:
Ðánh bóng gạo & giám định: Gạo nguyên liệu từ máy xay xát chuyển qua,
hay gạo nguyên liệu thu mua từ các nhà máy xay xát cung ứng cho đơn vị được
đưa vào dây chuyền máy đánh bóng.
Ðầu tiên gạo nguyên liệu qua sàng tạp chất và gằng tách thóc làm sạch
gạo nguyên liệu. Nếu là gạo trắng nguyên liệu thì đưa thẳng vào máy đánh bóng,
Trang 21
nếu là gạo bóc cám chưa sạch phải cho qua máy xát trắng mới chuyển vào máy
đánh bóng.
Quá trình này áp dụng công nghệ phun sương tạo ẩm kết hợp ma sát giữa
các hạt gạo với nhau và với dao máy lau bóng, bằng lực ly tâm gạo được làm
sạch và đánh bóng bề mặt.
Gạo lau bóng chuyển đến sàng tách tấm và trống chọn hạt để phân loại
gạo theo tiêu chuẩn hợp đồng xuất khẩu, hay gạo bán thành phẩm chờ chế biến
gạo đánh bóng 2 lần
Riêng các loại gạo Pass – 02 sẽ được cho qua hệ thống máy lau đánh

Cảng xuất hàng không quá 24 giờ.
Trong quá trình sản xuất, bảo quản và giao thương, đơn vị luôn thực hiện tốt:
 Quy trình vệ sinh an toàn thực phẩm, sử dụng đúng loại thuộc hun
trùng, đúng liều và đúng lúc.
 Qui cách và tiêu chuẩn sản phẩm đáp ứng phù hợp cho hàng xuất khẩu
theo từng hợp đồng.
 Quy trình quản lý chất lượng, tạo tính ổn định và sự đồng nhất của sản
phẩm.
3.3.1.2 Quy trình hoạt động thu mua nguyên liệu đầu vào
Qui trình xác định chất lượng nguyên liệu đầu vào được đơn vị thực hiện
gồm 04 bước sau đây:
Bước thứ nhất: Lấy mẩu đại diện và định giá mua.
Kiểm phẩm thực hiện xăm lấy lấy mẩu đại diện để xác định một số chỉ
tiêu cơ bản sau:
- Xác định ẩm độ mẩu đại diện.
- Hạt nguyên vẹn.
- Một số chỉ tiêu chất lượng.
- Ðịnh giá mua nguyên liệu đầu vào và đạt được thỏa thuận về phương thức thu
mua với người bán.
Các chỉ tiêu chất lượng theo kết quả phân tích được so sánh với định mức
kinh tế kỹ thuật do Tổng Công Ty Lương Thực Miền Nam lập và bảng chiết tính
giá thành của Ðơn vị dựa trên tỷ lệ thu hồi để xác định giá mua.
Trang 23
Bước thứ hai: Xăm kiểm tra nguyên liệu đầu vào.
Kiểm phẩm xăm kiểm tra toàn bộ nguyên liệu đầu vào, trong quá trình
xăm kiểm tra phẩm loại bỏ những bao không đạt theo mẩu đại diện.
Bước thứ ba: Phân tích mẫu thực tế.
Kiểm phẩm lấy mẩu thực tế phân tích chỉ tiêu:
 Xác định ẩm độ mẩu thực tế.
 Hạt nguyên ven.

một số thị trường cấp cao thích gạo thơm đặc sản có giá trị dinh dưỡng cao
Đối chiếu với Việt Nam, chúng ta nhận thấy sự đa dạng về chủng loại gạo xuất
khẩu của ta còn nhiều hạn chế và chưa phát huy được thế mạnh vốn có của
mình. Đó là chúng ta có những giống lúa thơm đặc sản truyền thống nổi tiếng
như Tám thơm, Tám xoan, Dự hương, Nếp cái hoa vàng , khiến ai đã dùng dù
chỉ một lần sẽ nhớ mãi, nhưng tỷ trọng loại gạo này trong tổng số xuất khẩu của
Việt Nam còn khá khiêm tốn. Ngoài ra, xuất khẩu loại này vừa thu được lợi
nhuận lớn và đạt hiệu quả kinh tế cao vì số lượng ít nhưng kim ngạch cao. Điều
này đòi hỏi Việt Nam nỗ lực đa dạng hoá chủng loại và cơ cấu gạo xuất khẩu
hơn nữa để có thể mở rộng thị trường có hiệu quả.

Giống lúa ở Thái lan
Thái Lan xuất khẩu gạo đi khắp thế giới chỉ bằng hai giống lúa là Khao-
đắc- mali và Jasmin. Các nhà khoa học Thái Lan chỉ tập trung nghiên cứu, cải
tiến hai giống này để có chất lượng gạo tốt nhất. Do vậy, gạo xuất khẩu của họ
giá luôn ở mức cao.
Trong khi đó, các nhà khoa học Việt Nam có rất nhiều đề tài, hàng chục
bộ giống ra đời nhưng không giống nào đạt tầm quốc gia. Những năm gần đây,
chúng ta chủ yếu đi khai thác công nghệ. Tiến hành nghiên cứu thì giống lúa
của Việt Nam không ra được đồng ruộng trên diện rộng. Nguyên nhân do chúng
ta sai ngay từ cách đặt đề tài, rồi đến cách tổ chức thực hiện.
Gần đây, Một giống lúa giàu chắt sắt đã được nghiên cứu thành công ở
Thái Lan, có hàm lượng sắt cực cao so với các giống lúa thường. Các nhà khoa
Trang 25

Trích đoạn Chiến lược,cơ cấu,sự cạnh tranh của công ty Một số chính sách về lương thực
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status