Chuyên đề tốt nghiệp
Lời nói đầu
Từ sau Đại hội VI của Đảng Cộng sản Việt Nam 1986. Thực hiện đờng
lối đổi mới nền kinh tế, chuyển nền kinh tế Việt Nam từ nền kinh tế kế hoạch
hoá tập trung sang nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần, vận hành theo cơ
chế thị trờng có sự quản lý của Nhà nớc theo định hớng XHCN. Cùng với với
việc mở rộng nền kinh tế thì vấn đề nâng cao khả năng cạnh tranh của hàng
hoá nông sản nói chung và sản phẩm gạo nói riêng đóng vai trò quan trọng.
Định hớng cạnh tranh của sản phẩm gạo đợc thể hiện trong đờng lối của
Đảng ta ngay từ Đại hội VI và tiếp tục đợc khẳng định trong Đại hội VIII và
IX của Đảng: Mặt hàng vốn là lơng thực chủ yếu của ta.
Từ những năm trớc kia Việt Nam vốn đã từng là một nớc xuất khẩu gạo.
Đến những năm có chiến tranh chúng ta phải xuất nhập khẩu nhiều gạo để
đáp ứng nhu cầu tiêu dùng khi sản xuất trong nớc không ổn định.
Đến năm 1989, nớc ta đã trở lại là một nớc xuất khẩu gạo và xuất khẩu
gạo lớn. Gạo là một trong những mặt hàng xuất khẩu chủ lực của Việt Nam
hiện nay. Sản lợng và giá trị xuất khẩu tăng liên tục trong những năm gần
đây, trở thành nớc xuất khẩu gạo đứng thứ 2 thế giới sau Thái Lan.
Xuất khẩu gạo có ý nghĩa chiến lợc quan trọng trong quá trình phát triển
kinh tế, đóng góp quan trọng vào nguồn thu ngoại tệ đối với sự nghiệp công
nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nớc. Thực tế cho thấy khả năng xuất khẩu gạo
của Việt Nam là lớn và triển vọng tăng dần. Tuy nhiên trong những năm qua
xuất khẩu và kim ngạch xuất khẩu gạo mang lại cho đất nớc có tăng nhng
hiệu quả cha cao do giá gạo xuất khẩu của ta cha cao và chất lợng gạo của ta
còn thập cho nên cha chiếm lĩnh đợc các thị trờng nhập khẩu có đòi hỏi cao
về châtài sản lợng. Do vậy phần nào đã ảnh hởng đến thu nhập của ngời nông
dân và hiệu quả kinh doanh của các doanh nghiệp xuất khẩu gạo.
Qua thực tế trên đợc sự hớng dẫn của giáo viên cùng cán bộ hớng dẫn ở
Viện Quản lý Kinh tế Trung ơng em chọn đề tài:
1
Chuyên đề tốt nghiệp
mang tính khu vực rõ rệt. ở đâu có đất đai, lao động và nớc tới thì ở đó có
thể tiến hành sản xuất lúa gạo. Song mỗi vùng có đất đai và thời tiết khí hậu
khác nhau vì vậy việc bố trí trồng lúa và ứng dụng kỹ thuật canh tác trong
trồng lúa phải phù hợp với điều kiện từng vùng nhằm tạo điều kiện cho cây
lúa phát triển tốt và đem lại năng suất cao.
1.2. Trong sản xuất lúa gạo, ruộng đất là t liệu sản xuất chủ yếu không
thể thay thế đợc
Đất đai là điều kiện cần thiết cho tất cả các ngành sản xuất, nhng nội
dung kinh tế của nó lại rất khác nhau. Trong công nghiệp, giao thông đất
đai làm cơ sở nền móng, trên đó xây dựng các nhà máy, công xởng, hệ thống
đờng giao thông để con ng ời điều khiển các máy móc, các phơng tiện vận
tải hoạt động.
Trong trồng lúa, đất đai có nội dung kinh tế khác, nó là t liệu sản xuất
chủ yếu không thể thay thế đợc. Ruộng đất đợc giới hạn bởi bề mặt diện tích,
con ngời không thể tăng thêm theo ý muốn chủ quan, nhng sức sản xuất của
ruộng đất là cha có giới hạn, nghĩa là chúng ta có thể khai thác theo chiều
3
Chuyên đề tốt nghiệp
sâu của ruộng đất nhằm thoả mãn nhu cầu tăng thêm của sản phẩm gạo.
Chính vì thế trong quá trình sử dụng đất trộng lúa sang xây dựng cơ bản phải
hạn chế, sử dụng tiết kiệm, phải biết quý trọng đất, tìm mọi biện pháp để cải
tạo bồi dỡng đất trồng lúa, làm cho đất trồng lúa ngày càng màu mỡ hơn. Sản
xuất ra nhiều sản phẩm gạo hơn trên một đơn vị diện tích với chi phí thấp
trên một đơn vị sản phẩm.
1.3. Đối tợng của sản xuất lúa gạo là sinh vật sống
Cây lúa là sinh vật sống vì vậy nó phát triển theo quy luật sinh vật nhất
định (sinh trởng, phát triển và diệt vong). Chúng rất nhạy cảm với yếu tố
ngoại cảnh mọi sự thay đổi về thời tiết, khí hậu đều tác động đến sự sinh tr-
ởng và phát triển của cây lúa. Đến kết quả cuối cùng của cây lúa là hạt thóc
nó lại đóng vai trò làm t liệu sản xuất cho chu trình sản xuất sau. Để chất l-
tiêu dùng trong trong nớc có sự trữ d thừa và xuất khẩu. Sản xuất lúa gạo nớc
ta đã chuyển từ sản xuất tự cung tự cấp sang sản xuất lúa gạo theo phơng thức
hàng hoá. Một số vùng nớc ta đã sản xuất lúa gạo theo hớng giảm tỷ trọng
cho tiêu dùng trong nớc, tăng sản phẩm lúa gạo hàng hoá để xuất khẩu.
Để đa nền sản xuất lúa gạo của nớc ta phát triển ở trình độ sản xuất lúa
gạo hàng hoá, cần thiết phải bổ sung và hoàn thiện chiến lợc phát triển và
quy hoạch vùng trồng lúa xuất khẩu.
2. Lợi thế so sánh của sản xuất lúa gạo Việt Nam
2.1. Lợi thế so sánh và cách xác định lợi thế so sánh
a. Khái niệm về lợi thế so sánh
Nếu nh khái niệm về lợi thế tuyệt đối đợc xây dựng trên cơ sở sự khác
biệt về số lợng lao động thực tế đợc sử dụng ở các quốc gia khác nhau (hay
nói cách khác, sự khác biệt về hiệu quả sản xuất tuyệt đối), thì lợi thế so sánh
lại xuất phát từ hiệu quả sản xuất tơng đối.
Xét mô hình giản đơn của Ricardo về lợi thế só sánh
5
Chuyên đề tốt nghiệp
Bảng 1: Mô hình giản đơn về lợi thế so sánh
Nhật Bản Việt Nam
Thép 2 12
Gạo 5 6
Từ số liệu trên cho thấy Nhật Bản cần ít lao động hơn so với Việt Nam
để sản xuất ra cả hai mặt hàng, thế nhng điều này không cản trở thơng mại có
lợi giữa hai nớc. Tuy Nhật Bản có lợi thế tuyệt đối về cả hai mặt hàng, thế
nhng lợi thế về sản xuất thép lớn hơn lợi thế về sản xuất gạo (đợc thể hiện
qua đẳng thức 2/12<5/6) cho nên nớc này có lợi thế so sánh về mặt hàng
thép. Ngợc lại Việt Nam bất lợi tuyệt đối về cả hai mặt hàng nhng do mức bất
lợi tuyệt đối về sản xuất gạo nhỏ hơn bất lợi về sản xuất thép nên Việt Nam
có lợi thế về so sánh về sản xuất gạo. Từ lý luận trên ta có khái niệm về lợi
thế so sánh nh sau:
sau đó trao đổi với nhau thì cả hai đều trở nên sung túc hơn.
Thực vậy, giả sử rằng tỷ lệ trao đổi quốc tế nằm giữa hai mức giá tơng
quan (hay còn gọi là tỷ lệ trao đổi nội địa) của Nhật Bản và Việt Nam. Cụ thể
là: 1 thép = 1 gạo. Nếu Nhật Bản chuyển 5 đơn vị lao động sản xuất gạo sang
sản xuất thép thì sẽ có 2,5 đơn vị đợc làm ra và khi bán 2,5 đơn vị thép sang
Việt Nam với mức giá quốc tế là 1 thép = 1 gạo thì Nhật Bản sẽ thu đợc là
2,5 đơn vị gạo nhiều hơn 1,5 đơn vị gạo so với tự cung cấp. Tơng tự Việt
Nam dùng 12 đơn vị lao động để sản xuất 2 đơn vị gạo (thay vì sản xuất một
đơn vị thép) và ban sang Nhật Bản đổi lấy 2 đơn vị thép thì Việt Nam sẽ lợi
một đơn vị thép.
Nói một cách tổng quất, để cho thơng mại quốc tế giữa hai nớc có thể
diễn ra thì mức giá trao đổi quốc tế phải nằm trong giới hạn tỷ lệ trao đổi nội
địa. Cụ thể là: 0,4 gạo 1 thép 2 gạo hoặc (0,5 thép 1 gạo 2,5 thép).
Nếu mức giá trao đổi quốc tế vợt ra khỏi giới hạn trên thì hai quốc gia này sẽ
7
Chuyên đề tốt nghiệp
từ chối tham gia buôn bán vì nhận thấy điều đó không những không có lợi
mà ngợc lại còn gây thiệt hại cho quốc gia đó.
2.2. Phát triển sản xuất lúa gạo của Việt Nam phải dựa trên lợi thế so
sánh
Trong sản xuất nông nghiệp nói chung và sản xuất lúa gạo nói riêng, khi
phát triển chúng ta phải dựa vào lợi thế so sánh vì:
Khi phát triển sản xuất lúa gạo nếu dựa vào lợi thế so sánh thì giá thành
một đơn vị gạo sản xuất ra ở Việt Nam sẽ rẻ hơn so với giá thành sản xuất ra
một đơn vị gạo sản xuất ở nớc khác. Vì vậy khi chúng ta xuất gạo sang các n-
ớc này giá của một đơn vị gạo của chúng ta sẽ thấp hơn so với giá một đơn vị
gạo đợc sản xuất ra tại các nớc này, nên các này sẽ có lợi hơn khi nhập khẩu
gạo của chúng ta so với gạo sản xuất trong nớc của họ. Ngợc lại khi chúng ta
bán gạo sang các nớc này thì chúng ta sẽ bán đợc với giá cao hơn so với giá
bán trong nớc, vì vậy chúng ta cũng sẽ thu đợc lợi hơn so với tiêu thụ trong n-
đất nông nghiệp. Trong đó có hai khu vực có diện tích trồng lúa lớn là đồng
bằng sông Cửu Long với diện tích là 1,8 triệu ha chiếm 45% diện tích cả nớc,
vùng đồng bằng Sông Hồng với diện tích 76.329 ha chiếm 18% diện tích
trồng lúa cả nớc. Đây là hai vùng có diện tích trồng lúa lớn nhất cả nớc và
cũng là hai vùng có lợng đất phù sa tốt nhất rất phù hợp cho việc trồng lúa.
Với nhiều cánh đồng phẳng rộng cộng với chất lợng đất tốt nên sản lợng lúa
của hai vùng này rất cao và là hai vùng sản xuất lúa gạo chủ yếu của cả nớc.
Chính điều kiện tự nhiên đã u đãi cho hai vùng này có diện tích đất phù sa
rộng lớn. Vì vậy trong những năm qua sản lợng và năng suất lúa của hai vùng
này không ngừng tăng lên và đã góp phần hết sức quan trọng vào việc cung
cấp lúa gạo cho tiêu dùng trong nớc và phục vụ xuất khẩu.
b. Lợi thế về lao động
Nớc ta vốn là một nớc nông nghiệp, vì vậy dân số sống chủ yếu sống ở
khu vực nông nghiệp, nông thôn. Theo con số thống kê gần đây thì nớc ta có
khoảng hơn 70% dân số sống ở nông thôn trong đó chủ yếu là làm nghề nông
nghiệp, mà trong nông nghiệp thì nghề trồng lúa là chủ yếu. Đây là điều kiện
quan trọng để chúng ta có thể thâm canh tăng vụ, tăng sản lợng lúa trên một
đơn vị diện tích, từ đó gia tăng sản lợng cho tiêu dùng và xuất khẩu.
9
Chuyên đề tốt nghiệp
3. Vai trò của sản xuất lúa gạo đối với đời sống kinh tế xã hội của Việt
Nam
3.1. Sản xuất lúa gạo là ngành cung cấp lơng thực chính cho đại bộ phận
dân số Việt Nam
Lơng thực là sản phẩm không thể thiếu đợc trong đời sống hàng ngày
của con ngời. Vì đó là sản phẩm thiết yếu và tối cần thiết đối với đời sống xã
hội, dù khoa học công nghệ có phát triển đến đâu đi chăng nữa thì cũng
không tạo ra đợc sản phẩm nào khác thay thế cho lơng thực trong bữa ăn
hàng ngày.
Đối với các nớc đang phát triển và đặc biệt là đối với Việt Nam thì lơng
trọng nh thịt, trứng, sữa phục vụ nhu cầu đời sống xã hội Việt Nam đang
ngày một tăng lên, mà nó còn đem lại hiệu quả kinh tế rất cao hơn rất nhiều
so với việc xuất khẩu gạo nhờ vào việc xuất khẩu thịt gia súc, gia cầm. Trong
những năm gần đây việc chăn nuôi gia súc, gia cầm nớc ta khá phát triển đã
hình thành nhiều trang trại chăn nuôi gia súc, gia cầm với số lợng đông để
phục vụ cho tiêu dùng trong nớc và phục vụ xuất khẩu. Sản lợng xuất khẩu
chính của ta là thịt lợn đã đợc xuất đi nhiều nớc ở Châu á và Đông Nam á,
Singapor, Philipin, Hàn Quốc Trong những năm tới chúng ta nên tăng c ờng
phát triển đàn gia súc, gia cầm để tạo nên nguồn trứng, thịt ngày càng nhiều
hơn cho tiêu dùng và xuất khẩu để nguồn ngoại tệ thu đợc từ xuất khẩu gia
súc, gia cầm không ngừng tăng lên. Ngoài những hiệu quả kinh tế, xã hội của
ngành chăn nuôi gia súc, gia cầm thì nó còn hiệu quả ngợc lại đối với ngành
nông nghiệp là nó cung cấp lợng phân hữu cơ quan trọng cho sản xuất nông
nghiệp trong đó có sản xuất lúa gạo. Vì vậy mà ngành trồng trọt và chăn nuôi
là hai ngành có quan hệ mật thiết với nhau, nếu biết kết hợp chúng sẽ đem lại
hiệu quả cao hơn.
3.4. Phát triển sản xuất lúa gạo góp phần không nhỏ vào việc giải quyết
việc làm cho ngời lao động ở khu vực nông nghiệp và nông thôn
Trong giai đoạn đầu của quá trình công nghiệp hoá đại bộ phận dân số
nớc ta sống ở khu vực nông nghiệp, nông thôn. Trong đó số lao động nông
11
Chuyên đề tốt nghiệp
nghiệp chiếm tỷ lệ cao trong cơ cấu dân số. Trong nông nghiệp nớc ta thì
nghề trồng lúa nớc là chủ yếu. Vì vậy mà nghề trồng lúa đang giải quyết rất
nhiều việc làm cho lao động ở khu vực nông nghiệp và nông thôn. Tuy nhiên
thu nhập của lao động ở khu vực này rất thấp dẫn đến đời sống của họ hết sức
khó khăn. Vì vậy trong những năm tới Đảng và Nhà nớc cần có những chính
sách đúng đắn hỗ trợ và thúc đẩy sự phát triển của khu vực này nh chính sách
giảm thuế nông nghiệp, chính sách trợ giá đầu vào cho sản xuất nông nghiệp,
chính sách tín dụng u đãi. Đồng thời, đẩy mạnh quá trình công nghiệp hoá,
Cho đến nay có rất nhiều các tác giả đa ra các quan niệm khác nhau về
khả năng cạnh tranh.
Theo Randoll cho rằng: Khả năng cạnh tranh là khả năng giành đợc và
duy trì thị phần trên thị trờng với lợi nhuận nhất định.
Theo Daunning lại cho rằng: Khả năng cạnh tranh của một doanh
nghiệp là khả năng cạnh tranh mà doanh nghiệp đó có thể sản xuất với chi
phí biến đổi trung bình thấp hơn giá bán của nó trên thị trờng. Với cách hiểu
nh vậy doanh nghiệp nào có khả năng sản xuất ra sản phẩm tơng tự sản xuất
của doanh nghiệp khác nhng với chi phí thấp hơn thì đợc coi là có khả năng
cạnh tranh.
Ngoài ra còn một số quan điểm khác cho rằng: khả năng cạnh tranh là
trình độ của công nghệ có thể sản xuất sản phẩm theo đúng yêu cầu của thị
trờng, đồng thời duy trì đợc thu nhập thực tế của mình.
Có thể nói rằng các quan điểm về khả năng cạnh tranh nói trên đều xuất
phát từ các góc độ, cách nhìn khác nhau nhng có điểm chung là: Chiếm lĩnh
thị trờng và có lợi nhuận.
Tuy nhiên theo ý hiểu của bản thân: Khả năng cạnh tranh là năng lực
nắm giữ thị phần nhất định với mức độ hiệu quả chấp nhận đợc. Vì vậy thị
phần của doanh nghiệp tăng lên thì cho thấy thị phần của doanh nghiệp cao
đợc nâng cao. Nhng phải dựa vào rất nhiều các yếu tố khác nhau.
13
Chuyên đề tốt nghiệp
1.2. Quy luật của cạnh tranh
Trong quá trình kinh doanh, cạnh tranh là quy luật tất yếu của nền kinh
tế, quy luật này diễn ra liên tuch, không có đích cuối cùng. Đó là cạnh tranh
về chất lợng, hiệu quả, giá cả sản phẩm trong nền kinh tế. Trong hoạt động
kinh doanh cạnh tranh không thể tránh khỏi. Vì vậy muốn nâng cao đợc khả
năng cạnh tranh, các nhà kinh doanh, các doanh nghiệp phải thực hiện và vận
dụng tốt các quy luật của cạnh tranh nh tối thiểu hoá chi phí sản xuất, nâng
cao chất lợng, cải tiến mẫu mã sản phẩm đồng thời phải nghiên cứu, tìm tòi
a. Giá cả:
Giá cả là yếu tố quan trọng nhất quyết định khả năng cạnh tranh. Giá cả
do chất lợng, điều kiện thơng mại, quan hệ cung cầy quyết định. Với các yếu
tố cạnh tranh trên thị trờng sẽ quyết định giá cả của từng loại gạo. Giá cả còn
phụ thuộc vào cung và cầu ở thị trờng trong nớc. Với mỗi loại gạo, sự biến
thiên về giá cả cũng khác nhau, ngoài ta giá cả còn phụ thuôvj vào thời vụ.
Về giá gạo Việt Nam thì nhìn chung vẫn thấp hơn so với giá gạo của
Thái Lan 20 30 USD/ tấn tính cho cùng một loại gạo hoặc loại gạo tơng đ-
ơng, tuy nhiên tính đến thời điểm cuối năm 2003 giá gạo Việt Nam xuất
khẩu từ 185 190 USD/ tấn chỉ thấp hơn Thái Lan 5 10 USD/ tấn. Điều
đó chứng tỏ khoảng cách về giá gạo xuất khẩu của Việt Nam đã phần nào đ-
ợc nâng cao và rút ngắn đợc sự chênh lệnh về giá cả mặt hàng gạo xuất khẩu
của Việt Nam so với các nớc trong khu vực.
b. Chất lợng:
Nhìn chung chất lợng gạo xuất khẩu của nớc ta thấp hơn so với các nớc
trong khu vực và trên thế giới. Cha đáp ứng đợc đầy đủ nhu cầu và thị hiếu
của khách hàng. Vì vậy trong những năm tới cần tiếp tục nhập nội các giống
lúa hạt dài đợc thị trờng thế giới a chuộng, thờng xuyên nghiên cứu sản xuất
các giống lúa lai năng suất cao, có sức chống chịu tốt, phù hợp với điều kiện
15
Chuyên đề tốt nghiệp
thời tiết, khí hậu của Việt Nam. Đặc biệt chú trọng đến các giống lúa năng
suất cao, gạo ngon, phục hồi các giống lúa thơm nh: Khaw dacmali, giống
lúa thơm này có thị trờng không lớn nhng nó lại có lợi nhuận cao. Giá một
tấn lúa thơm thờng gấp 2 lần một tấn lúa hạt dài ngon.
Tiêu chuẩn gạo Việt Nam TCVN 1603 86
Yêu cầu kỹ thuật: Thóc đa vào xay xát có chất lợng tốt theo đúng các
yêu cầu của tiêu chuẩn hiện hành.
Độ ẩm không lớn hơn 14,4%
Tạp chất (vô cơ, hữu cơ, thóc lép) không lớn hơn 2%.
6 10 15 10 16 20 26 16 20 26
7.Tạp chất (%)
không lớn hơn
0,1 0,1 0,15 0,1 0,1 0,2 0,5 0,2 0,2 0,5
Với các tiêu chuẩn trên, toàn ngành phải phấn đấu nâng cao chất lợng
để tạo thế mạnh của sản phẩm gạo trên thị trờng, để thoả mãn đợc nhu cầu
của tiêu dùng trong nớc và xuất khẩu.
Trong những năm gần đây chất lợng gạo của Việt Nam đã đợc nâng lên
nhng vẫn cha đáp ứng đợc yêu cầu của khách hàng bằng gạo của Thái Lan.
Nguyên nhân do công nghệ chế biến của Việt Nam cha tiên tiến so với các n-
ớc phát triển, điều kiện bảo quản cha tốt nên chất lợng cha đồng nhất. Gạo
phẩm cấp vẫn chiếm đa số, giống gạo Việt Nam phần lớn thuộc loại ngắn
ngày, có nhiều bạc bụng cha có hạt trắng số 1,100% nguyên hạt Vì vậy khi
tham gia xuất khẩu trên thị trờng thế giới loại này chịu sức cạnh tranh gay
gắt dẫn đến bán giá thấp, cha nâng cao đợc tính cạnh tranh trên thị trờng
c. Chủng loại gạo:
Nhìn chung chủng loại gạo nớc ta là tơng đối phong phú và đa dạng.
Tuy nhiên chủng loại gạo tốt cha đợc sản xuất phổ biến trên diện rộng nh các
giống lúa thơm phục vụ cho xuất khẩu. Vì vậy trong những năm tới ngoài
việc chúng ta phải đa dạng về chủng lại chúng ta phải chú trọng đến việc đầu
t sản xuất cacs giống lúa chất lợng cao nh IR64, OM1490, ST1, ST3,
Jasmine. Đây là yếu tố quan trọng để nâng cao giá trị cạnh tranh về chất lợng
của sản phẩm gạo Việt Nam.
17
Chuyên đề tốt nghiệp
3. Các yếu tố ảnh hởng đến giá trị cạnh tranh về chất lợng của sản phẩm
gạo Việt Nam
3.1. Yếu tố trong nớc ảnh hởng đến khả năng cạnh tranh của sản phẩm
gạo Việt Nam
3.1.1. Yếu tố đầu vào
khi xuất khẩu giá thành không cao và khó thâm nhập đợc vào các thị trờng
đòi hỏi cao về chất lợng. Dẫn đến chất lợng cạnh tranh của sản phẩm gạo
Việt Nam không cao.
b. Kỹ thật bảo quản
Sau khi chế biến gạo thờng đợc đa vào các kho bảo quản, dự trữ chờ
xuất khẩu, do các kho bảo quản của ta rất chật hẹp và cũ dẫn đến độ ẩm cao.
Nếu nh gạo đợc bảo quản và dự trữ lâu ở trong kho có thể sẽ bị mốc hoặc bị
chuyển màu sắc dẫn đến chất lợn gạo kém làm giảm khả năng cạnh tranh
trong xuất khẩu.
c. Kỹ thuật vận chuyển
Về kỹ thuật vận chuyển thì gồm hai khâu là khâu vận chuyển từ nơi
mua đến nới chế biến và từ nơi chế biến đem đi xuất khẩu. Quá trình vận
chuyển từ nơi mua đến nơi chế biến phần lớn lúa gạo thu mua để chế biến
xuất khẩu là từ ĐBSCL. ở khu vực này đờng xá xa lại khó đi nên chủ yếu
vận chuyển phơng tiện là xuồng máy theo đờng thuỷ dẫn đến chi phí vận
chuyển cao, làm cho giá thành sản xuất gạo cao. Còn quá trình vận chuyển từ
nơi chế biến đem đi xuất khẩu qúa trình này phải cần nhiều loại phơng tiện
để vận chuyển vì nớc ta các phơng tiện vận chuyển này rất cũ và lạc hậu dẫn
đến chi phí vận chuyển cao cũng dẫn đến giá thành sản xuất cũng cao lên và
làm giảm tính cạnh tranh của gạo.
3.1.3. Kinh nghiệm xuất khẩu gạo
Mặc dù đã bớc vào năm thứ 16 xuất khẩu gạo trên quy mô lớn và đã trở
thành cờng quốc xuất khẩu gạo từ lâu nhng Việt Nam vẫn lúng túng trong
xuất khẩu mặt hàng chiến lợc này. Xuất khẩu bao nhiêu và xuất khẩu vào
19
Chuyên đề tốt nghiệp
thời điểm nàop để đạt kết quả khả dĩ nhất vẫn đang là câu hỏi cha có lời giải
đáp. Nguyên nhân của tình trạng này tuy có nhiều nhng năng lực sự báo cả
trên bình diện thị trờng thế giới cũng nh thị trờng trong nớc là yếu tố cơ bản.
Điều này đã ảnh hởng không nhỏ đến hiệu quả xuất khẩu và khả năng cạnh
nhanh, nên trong năm nay có thể Trung Quốc phải nhập 750.000 tấn gạo và
con số này còn tiếp tục tăng trong những năm tới. Tất cả những biến động về
cầu gạo thế giới trên sẽ tác động tích cực đến cầu về sản phẩm gạo của Việt
Nam, làm cho cầu về sản phẩm gạo của Việt Nam tăng nhanh và giá gạo xuất
khẩu của Việt Nam cũng tăng lên. Đây là cơ hội cho các doanh nghiệp xuất
khẩu gạo của Việt Nam mở rộng thị trờng xuất khẩu và dốc hết lợng gạo tồn
kho của những năm trớc ra thị trờng. Đồng thời đây cũng là cơ hội cho sản
phẩm gạo Việt Nam có thể khẳng định vị trí trên thị trờng thế giới.
21
Chuyên đề tốt nghiệp
Chơng Ii
Thực trạng về tình hình sản xuất và khả
năng cạnh tranh của sản phẩm gạo Việt Nam
i. khái quất về tình hình phát triển sản xuất lúa
gạo của Việt Nam
1. Sản xuất lúa gạo của Việt Nam qua các thời kỳ
Việt Nam là một nớc có truyền thống sản xuất lúa gạo lâu đời. Tuy
nhiên cho đến trớc Cách mạng Tháng Tám năm 1945 dới sự thống trị của
thực dân Pháp cộng với nền sản xuất phong kến, sản lợng và năng suất lúa rất
thấp chỉ khoảng 1,3 tấn thóc/ha. Vì vậy đời sống của ngời nông dân rất khổ
cực. Trong kháng chiến chống Pháp chúng ta đã sử dụng nhiều biện pháp cải
cách ruộng đất để nhằm huy động nông dân tham gia ra kháng chiến. Khi
chiến tranh kết thúc chúng ta đã chia đều các loại ruộng đất cho nông dân ở
miền Bắc. Nhng thời kỳ nông nghiệp gia đình chỉ tồn tại trong thời gian rất
ngắn. Sau đó chúng ta đã áp dụng một hệ thống dựa vào sở hữu tập thể: Kế
hoạch hoá tập trung, đợc Nhà nớc bao cấp mạnh, phân phối đều có chủ ý đến
lợi ích vật chất, nông nghiệp tập thể các yếu tố của thị trờng, hàng hoá , lãi
dùng để đo hiệu quả các hoạt động kinh tế không có ý nghĩa thực tế. Hệ
thống kinh tế này cũng đã tạo ra sự tăng trởng nhng đã bộc lộ nhiều nhợc
điểm trong sử dụng nguồn nhân lực, tài nguyên tự nhiên và tài chính. Do có
sản lợng lúa gạo của chúng ta đã tăng nhanh trong suốt thời kỳ từ năm 1989
đến nay. Để thấy đợc đầy đủ hơn tình hình sản xuất lúa gạo Việt Nam từ
1990 đến nay ta có bảng sau:
23
Chuyên đề tốt nghiệp
Bảng 5: Tình hình sản xuất lúa gạo của Việt Nam từ 1990 tới nay
Năm
Lơng thực
(nghìn tấn)
Tốc độ tăng
(%)
Sản lợng thóc
(nghìn tấn)
Tốc độ tăng
(%)
Gạo bình quân
(kg/ngời)
1990 21.627,0 0,5 19.225,2 1,2 290,3
1991 21.989,5 1,7 19621,9 2,1
1992 24.214,0 10,1 21.590,3 10,0 311,1
1993 25.501,7 5,3 22.836,6 5,8 321,5
1994 26.198,5 2,7 23.528,3 3,0 324,5
1995 27.554,4 5,2 24.936,7 6,1 337,5
1996 29.217,0 4,7 26.396 5,7 355,0
1997 29.736,4 3,1 27.532,9 4,3 368,5
1998 30.786,2 3,5 29.145,5 5,9 386,3
1999 33.253,6 3,3 31.393,8 7,7 409,9
2000 34.693,6 3,2 32.554,0 3,7 419,9
2001 35.451,4 3,0 33.553,6 2,06 424,1
2002 36.511,3 2,9 34.252,4 1,76 432,7
Bảng 6: Sản lợng và kim ngạch xuất khẩu gạo của Việt Nam giai
đoạn 1989 2003
Năm
Sản lợng gạo xuất khẩu
(triệu tấn)
Kim ngạch xuất khẩu
(triệu USD)
1989 1.420 290,0
1990 1.624 304,6
1991 1.033 234,5
1992 1.950 417,7
1993 1.722 361,9
1994 1.983 424,4
1995 2.005 530,1
1996 3.003 868,4
1997 3.553 891,3
1998 3.793 1.006,3
1999 4.560 1.011,0
2000 4.500 1.038,0
25