341 Nghiên cứu khả năng cạnh tranh của gốm mỹ nghệ Việt Nam nhằm đẩy mạnh xuất khẩu - Pdf 25


1
MỤC LỤC

LỜI MỞ ĐẦU
………………………………………………………………………………………………………….…………….…….
CHƯƠNG 1
: CƠ SỞ KHOA HỌC ĐỂ ĐÁNH GIÁ KHẢ NĂNG CẠNH
TRANH VÀ KHẲNG ĐỊNH SỰ CẦN THIẾT PHẢI NÂNG CAO KHẢ
NĂNG CẠNH TRANH CỦA GỐM MỸ NGHỆ VIỆT NAM………………………
1.1. Những vấn đề lý luận cơ bản về cạnh tranh và khả năng cạnh tranh.………
1.1.1. Đònh nghóa về cạnh tranh, lợi thế cạnh tranh, khả năng cạnh tranh…
1.1.2. Các lý thuyết cạnh tranh…….….…………………………….……………………………………………
1.1.3. Các chỉ số đánh giá khả năng cạnh tranh – Phương pháp đánh giá
khả năng cạnh tranh…………………………………………………………………………………………………………
1.1.4. Các nhân tố ảnh hưởng đến khả năng cạnh tranh………………………….………..
1.2. Sự cần thiết phải nâng cao khả năng cạnh tranh cho sản phẩm gốm mỹ
nghệ Việt Nam ……………………………………………………………………………………………………………….……….……
1.2.1. Gốm mỹ nghệ …….…………………….………………………………………………………………………..…
1.2.2. Vai trò của gốm mỹ nghệ và xuất khẩu gốm mỹ nghệ………………………….
1.2.3. Sự cần thiết phải nâng cao khả năng cạnh tranh của gốm mỹ nghệ
Việt Nam………………………………………………………………………………………………………………………………
1.3. Kinh nghiệm nâng cao khả năng cạnh tranh của mặt hàng gốm mỹ
nghệ tại một số quốc gia trong khu vực…………………………………………………………………………….
1.3.1. Kinh nghiệm của TRUNG QUỐC………………………..…………………………………….…
1.3.2. Kinh nghiệm của MALAYSIA ……………….………………………………………………….….
1.3.3. Kinh nghiệm của THAILAND………………………………….…………………………………….
1.3.4. Những bài học kinh nghiệm rút ra cho Việt Nam ……………………………………
Kết luận chương 1……………….……………….………………………………………………….………………………………….
CHƯƠNG 2
: ĐÁNH GIÁ KHẢ NĂNG CẠNH TRANH VÀ NHỮNG NHÂN


49
50
51
54
54
56

56
56
62

2
2.2.1. Đánh giá khả năng cạnh tranh qua so sánh đơn giá bán sản phẩm….
2.2.2. Đònh vò khả năng cạnh tranh của gốm mỹ nghệ Việt Nam qua
phân tích đánh giá của thò trường nhập khẩu …………….…………………………………………
2.3. Các nhân tố ảnh hưởng đến khả năng cạnh tranh của gốm mỹ nghệ
Việt Nam………………………………………………………………………………………………………………………………….….…..
2.3.1. Các nhân tố bên ngoài ……………………………………………………………………………………...
2.3.2. Các nhân tố bên trong …………………………………………………………………………………….…
2.3.3. Hàm hồi quy biểu thò khả năng cạnh tranh …………………….……………………..…
Kết luận chương 2 …………………………………………………………………………………………………………………….…
CHƯƠNG 3
: GIẢI PHÁP NÂNG CAO KHẢ NĂNG CẠNH TRANH NHẰM
ĐẨY MẠNH XUẤT KHẨU GỐM MỸ NGHỆ VIỆT NAM.……….
3.1. Mục tiêu, quan điểm và căn cứ đề xuất các giải pháp gia tăng khả năng
cạnh tranh nhằm mở rộng thò trường xuất khẩu cho ngành gốm mỹ nghệ

95
123
132 134 134
134
134
135

136
136

140
142
151

155
159
159
162
163
163 3


68
69

73

76
78

78
80
80
81

82
83

85

86 4
nghệ về sự đa dạng mẫu mã đối với Việt Nam và các đối thủ cạnh tranh.…………….
Bảng 2.15: So sánh và kiểm đònh mức độ hài lòng của nhà nhập khẩu gốm mỹ
nghệ về tốc độ đổi mới mẫu mã đối với Việt Nam và các đối thủ cạnh tranh …….
Bảng 2.16: So sánh và kiểm đònh mức độ hài lòng của nhà nhập khẩu gốm mỹ
nghệ về sự phù hợp kiểu dáng với thò trường nhập khẩu…………………………………………….…
Bảng 2.17: So sánh và kiểm đònh mức độ hài lòng của nhà nhập khẩu gốm mỹ
nghệ về chất lượng bao bì đối với Việt Nam và các đối thủ cạnh tranh …………………
Bảng 2.18: So sánh và kiểm đònh mức độ hài lòng của nhà nhập khẩu gốm mỹ


92
99
99
101
102

107
108
109
110
111
111
112

113

5
Bảng 2.32: Bảng so sánh giá bán FOB giữa sản phẩm Bát Tràng và Thái Lan…..
Bảng 2.33: Bảng so sánh một số yếu tố sản xuất chính giữa Việt Nam – Trung
Quốc – Tháilan – Malaysia ………………………………………………………………………………………………………
Bảng 2.34: Các phương thức tiếp cận khách hàng của doanh nghiệp sản xuất –
kinh doanh gốm mỹ nghệ ……………………………………………………………………………………………………………
Bảng 2.35: Mô hình lý thuyết về các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng cạnh
tranh………………………………………………………………………………………………………………………………………………………
Bảng 2.36: Kết quả hồi quy đối với mô hình lý thuyết bằng phương pháp Enter…
Bảng 2.37: Chỉ tiêu tổng hợp của mô hình hồi quy (b)……………………………………………………
Bảng 2.38: Bảng phân tích kết quả hồi quy ( a)……………………………………………………….……….
Bảng 2.39: Giá trò trung bình của các biến đònh lượng trong hàm hồi quy………………
Bảng 2.40: Cơ cấu các doanh nghiệp có hoạt động xuất khẩu……………………….……………

6
LỜI MỞ ĐẦU
1 – Lý do chọn đề tài nghiên cứu
Gốm mỹ nghệ Việt Nam là một mặt hàng đặc biệt phản ánh văn hóa truyền
thống lâu đời của dân tộc Việt Nam. Gốm mỹ nghệ Việt Nam đã được thò trường
nước ngoài ưa chuộng, điều đó phản ánh qua kim ngạch xuất khẩu ngày càng tăng
cao từ 22,4 triệu USD kim ngạch xuất khẩu năm 1995 đã tăng liên tục và đạt mức
147,5 triệu USD vào năm 2004. Thò trường xuất khẩu của ngành gốm mỹ nghệ cũng
không ngừng được mở rộng từ chỗ chỉ xuất khẩu theo Nghò đònh thư vào các thò
trường Xã hội Chủ nghóa trong thời kỳ bao cấp, ngày nay gốm mỹ nghệ Việt Nam
đã xuất hiện tại hầu hết các thò trường lớn có yêu cầu cao, như: Hoa Kỳ, Châu Âu,
Nhật Bản, các nước Trung Đông và Bắc Mỹ..vv. Nhờ sự phát triển tích cực này đã
thu hút đầu tư mở rộng sản xuất một cách mạnh mẽ tại các vùng sản xuất lớn như tại
Bát Tràng, Bình Dương, Đồng Nai, Vónh Long..vv, và đã tạo ra nhiều công ăn việc
làm cho người lao động. Đẩy mạnh xuất khẩu gốm mỹ nghệ còn có ý nghóa quan
trọng là quảng bá văn hoá truyền thống của Việt Nam trên trường quốc tế và là cầu
nối giao lưu văn hoá với các dân tộc khác trên thế giới, giúp Việt Nam nhanh chóng
hội nhập với các nền kinh tế trong khu vực và thế giới.
Tuy nhiên, ngành gốm Việt Nam hiện đang phải cạnh tranh với các sản phẩm
cùng loại được sản xuất bởi các đối thủ cạnh tranh lớn, như: Trung Quốc, là nước có
kỹ thuật sản xuất cao và thương hiệu đã được khẳng đònh, Thái lan, Malaysia,
Indonesia …vv , là những quốc gia cũng có ngành sản xuất gốm phát triển, đã thâm
nhập và thiết lập được mối quan hệ thương mại rộng tại các thò trường lớn như Châu
Âu, Hoa Kỳ trước chúng ta khá lâu. Vì vậy, sự phát triển của ngành gốm mỹ nghệ
Việt Nam tuy phát triển mạnh nhưng vẫn chưa tương xứng với tiềm năng của đất
nước và sự phát triển hiện nay cũng chưa bền vững do những yếu tố bất cập trong
nội bộ ngành, hơn nữa chúng ta cũng chưa tạo ra được một dòng gốm mang đậm nét

án còn nghiên cứu và so sánh với các đối thủ cạnh tranh chủ yếu tại nước ngoài,

8
như: Trung Quốc, Thái Lan, Malaysia, chứ không so sánh với tất cả các quốc gia
khác trên thế giới cũng có ngành sản xuất gốm mỹ nghệ phát triển.
- Về thời gian: Luận án tập trung nghiên cứu hoạt động sản xuất – kinh doanh
xuất khẩu gốm mỹ nghệ Việt Nam trong vòng 5 năm gần đây, kể từ năm 1999 đến
hết năm 2004.
3 – Mục đích nghiên cứu

Xuất phát từ đối tượng và phạm vi đề tài, mục đích nghiên cứu của luận án bao
gồm :
* Hệ thống lại những học thuyết về cạnh tranh nhằm xác đònh sự cần thiết phải
nâng cao khả năng cạnh tranh cho gốm mỹ nghệ Việt Nam.
* Nghiên cứu tổng kết kinh nghiệm nâng cao khả năng cạnh tranh của gốm mỹ
nghệ của một số quốc gia, như : Trung Quốc, Thái Lan, Malaysia nhằm rút ra những
bài học kinh nghiệm có thể áp dụng cho ngành gốm mỹ nghệ Việt Nam.
* Đánh giá thực trạng sản xuất kinh doanh gốm mỹ nghệ Việt Nam để khẳng
đònh sự cấp thiết phải nâng cao khả năng cạnh tranh của gốm mỹ nghệ.
* Phân tích, đánh giá khả năng cạnh tranh và tác động của các nhân tố ảnh
hưởng đến khả năng cạnh tranh của gốm mỹ nghệ.
* Đề xuất các giải pháp phù hợp với điều kiện hiện tại nhằm nâng cao khả năng
cạnh tranh cho gốm mỹ nghệ Việt Nam.
4 – Phương pháp nghiên cứu của luận án

Trên cơ sở nghiên cứu các số liệu thứ cấp từ các tài liệu, như: niên
giám thống kê, số liệu thống kê từ Bộ Thương mại, từ các đòa phương, thông tin trên
internet, và các số liệu thông tin sơ cấp…vv. Tác giả đã vận dụng hệ thống các
phương pháp phân tích đònh tính kết hợp với đònh lượng và các phương pháp duy vật
biện chứng, logic hình thức, phương pháp phân tích, so sánh, tổng hợp; phương pháp

vấn đề phát triển xuất khẩu gốm mỹ nghệ như sau :
1 - Công trình nghiên cứu khoa học cấp bộ : “Những giải pháp đẩy mạnh
xuất khẩu gốm sứ mỹ nghệ Việt Nam” do PGS. TS. Đòan Thò Hồng Vân làm chủ

10
nhiệm. Trong đó, trọng tâm nghiên cứu phân tích thực trạng sản xuất - xuất khẩu
gốm mỹ nghệ Việt Nam và xác đònh những nguyên nhân cơ bản kìm hãm tiềm năng
xuất khẩu của ngành gốm mỹ nghệ Việt Nam từ đó đề ra những giải pháp nhằm đẩy
mạnh xuất khẩu trong thời gian sắp tới.
2 – Đề tài nghiên cứu khoa học cấp tỉnh : “Nghiên cứu xây dựng chiến lược,
đề xuất giải pháp thực hiện chương trình hội nhập kinh tế quốc tế của tỉnh Vónh
Long đến năm 2010 và tầm nhìn đến năm 2020” do GS. TS. Võ Thanh Thu làm
chủ nhiệm đề tài, trong đó đã nghiên cứu và xây dựng các chiến lược nâng cao khả
năng cạnh tranh cho sản phẩm gốm mỹ nghệ của tỉnh Vónh Long trong một loạt
chiến lược tổng thể nâng cao khả năng cạnh tranh các lực lượng kinh tế của tỉnh
Vónh Long đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế.
3 – Đề án Phát triển ngành gốm mỹ nghệ xuất khẩu Vónh Long từ năm
2004 đến năm 2010 do Sở Công nghiệp tỉnh Vónh Long nghiên cứu. Nội dung chủ
yếu nghiên cứu những đặc điểm cụ thể về ngành gốm mỹ nghệ Vónh Long, phân
tích các điểm yếu, điểm mạnh, thách thức để đề xuất những biện pháp phát triển
ngành gốm mỹ nghệ của riêng Tỉnh Vónh Long.
4 - Báo cáo Quy hoạch phát triển ngành gốm mỹ nghệ tỉnh Đồng nai giai
đoạn 2001 – 2010 do Sở Công nghiệp tỉnh Đồng Nai soạn thảo. Báo cáo tập trung
phân tích sâu về những khó khăn và sự cạnh tranh ngành sẽ gặp phải trong tương lai
từ môi trường kinh doanh trong nước. Từ đó, xây dựng đònh hướng quy hoạch phát
triển chung cho ngành gốm đòa phương trong giai đoạn từ 2001-2010.
5 – Rất nhiều bài báo, tham luận được đăng tải trên các tạp chí chuyên ngành
hoặc trên các tờ báo của Trung ương lẫn đòa phương liên quan phản ánh tình hình
sản xuất – xuất khẩu của ngành gốm của các đòa phương trên cả nước cũng như một
số khuynh hướng tiêu dùng mới, công nghệ mới ..vv ..

12
CHƯƠNG 1
CƠ SỞ KHOA HỌC ĐỂ ĐÁNH GIÁ KHẢ NĂNG CẠNH TRANH
VÀ KHẲNG ĐỊNH SỰ CẦN THIẾT PHẢI NÂNG CAO KHẢ
NĂNG CẠNH TRANH CỦA GỐM MỸ NGHỆ VIỆT NAM
_______________
Để phân tích mối quan hệ giữa khả năng cạnh tranh và tác động của nó đối
việc mở rộng thò trường xuất khẩu cho ngành gốm mỹ nghệ, trước hết cần tìm hiểu
những khái niệm, những đònh nghóa về cạnh tranh, lợi thế cạnh tranh, khả năng cạnh
tranh, những yếu tố tạo nên cạnh tranh cũng như các áp lực tác động đến khả năng
cạnh tranh. Bên cạnh đó cần nghiên cứu các bài học kinh nghiệm từ chính các đối
thủ cạnh tranh là những nước trong khu vực và phân tích sự thiết yếu của việc nâng
cao khả năng cạnh tranh cho sản phẩm gốm mỹ nghệ Việt Nam. Từ những cơ sở
nghiên cứu trên đề xuất những giải pháp nâng cao khả năng cạnh tranh nhằm giữ
vững mở rộng thò trường xuất khẩu.
1.
1. NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ CẠNH TRANH VÀ KHẢ NĂNG CẠNH
TRANH.
1.1.1. ĐỊNH NGHĨA VỀ CẠNH TRANH, LI THẾ CẠNH TRANH, KHẢ NĂNG
CẠNH TRANH
1.1.1 .1. Đònh nghóa về cạnh tranh
Theo đònh nghóa trong Đại Từ điển tiếng Việt, cạnh tranh được đònh nghóa là
“tranh đua giữa những cá nhân, tập thể có chức năng như nhau, nhằm giành phần
hơn, phần thắng về mình” [45]
Theo Từ điển thuật ngữ Kinh tế học “cạnh tranh –sự đấu tranh đối lập giữa
các cá nhân, tập đoàn hay quốc gia. Cạnh tranh nảy sinh khi hai bên hay nhiều bên
cố gắng giành lấy thứ mà không phải ai cũng có thể giành được” [59]

do lợi thế tương đối về mức độ dồi dào của các yếu tố sản xuất: vốn, lao động. Nhân

14
tố quyết đònh hình thành lợi thế cạnh tranh là chi phí về vốn và chi phí về lao
động.[18]
Theo Michael. E. Porter, lợi thế cạnh tranh trước hết dựa vào khả năng duy trì
một chi phí sản xuất thấp và sau đó là dựa vào sự khác biệt hóa sản phẩm so với đối
thủ cạnh tranh như: chất lượng sản phẩm dòch vụ, mạng lưới phân phối, cơ sở vật
chất, trang bò kỹ thuật.[75]
Theo tác giả : lợi thế cạnh tranh là cái làm cho doanh nghiệp khác biệt hơn
so với đối thủ cạnh tranh (làm tốt hơn) hoặc làm những cái mình có mà đối thủ
không có (là những cái mà doanh nghiệp dùng để xây dựng chiến lược cạnh tranh),
nhờ đó doanh nghiệp đạt được mục tiêu nhất đònh của mình.
1.1.1.3. Khả năng cạnh tranh

Theo đònh nghóa trong Đại Từ điển Tiếng Việt, khả năng cạnh tranh được
đònh nghóa là “khả năng giành thắng lợi trong cuộc cạnh tranh của những hàng hóa
cùng loại trên cùng một thò trường tiêu thụ” [45]
Theo quan điểm tân cổ điển dựa trên lý thuyết thương mại truyền thống thì
năng lực cạnh tranh của ngành, doanh nghiệp được xem xét qua lợi thế so sánh về
chi phí sản xuất và năng suất.
Quan điểm của lý thuyết tổ chức công nghiệp thì xem xét khả năng cạnh
tranh dựa vào khả năng sản xuất ra sản phẩm ở mức chi phí ngang bằng hay thấp
hơn mức chi phí bình quân của xã hội, đảm bảo đứng vững trước các đối thủ hay sản
phẩm thay thế.
Theo Michael.E. Porter thì cho rằng khả năng cạnh tranh là khả năng tạo
những sản phẩm có quy trình công nghệ độc đáo tạo ra giá trò gia tăng cao phù hợp
với nhu cầu khách hàng, chi phí thấp, năng suất cao nhằm nâng cao lợi nhuận. [74]
Tóm lại, khả năng cạnh tranh là khả năng khai thác, huy động, quản lý và sử
dụng các nguồn lực có giới hạn như nhân lực, vật lực, tài lực..vv và các điều kiện

2 / Cạnh tranh là sức mạnh thúc đẩy gia tăng giá trò thặng dư tương đối.
Thực hiện bằng cách rút ngắn thời gian lao động xã hội tất yếu, trên tiền đề nâng

16
cao năng suất xã hội. Trong hiện thực tư bản chủ nghóa, việc nâng cao năng suất lao
động xã hội được thực hiện nhờ các công ty theo đuổi giá trò thăng dư siêu ngạch, do
đó cạnh tranh diễn ra tự do hơn, triệt để hơn. Lợi ích thu được từ giá trò thặng dư
tương đối thôi thúc các công ty phát triển công nghệ, cuộc cách mạng về khoa học
kỹ thuật một lần nữa trở thành động lực cơ bản để cho các nhà tư bản chiếm hữu và
phân chia giá trò thặng dư tương đối.
3 / Cạnh tranh thúc đẩy qúa trình lưu thông các yếu tố của sản xuất. Theo
Mác thì tích luỹ tư bản và tái sản xuất mở rộng là xu thế phát triển của chủ nghóa tư
bản. Bởi vì, trước hết cạnh tranh gây sức ép từ bên ngoài, buộc các nhà tư bản phải
tích luỹ tư bản, tăng cường thực lực để chiến thắng trong cạnh tranh, họ phải đầu tư
ngày càng nhiều tư bản để mở rộng sản xuất, áp dụng công nghệ mới, giảm chi phí
sản xuất và nâng cao năng suất lao động. Năng suất lao động lại bò chi phối bởi kỹ
thuật sản xuất, quy mô sản xuất và hoạt động kinh doanh. Việc nâng cao trình độ kỹ
thuật sản xuất, mở rộng quy mô sản xuất, kinh doanh diễn ra trong cạnh tranh gay
gắt. Kết quả là cạnh tranh làm cho tư bản, sức sản xuất không ngừng chuyển dòch từ
ngành có lợi nhuận thấp sang ngành có lợi nhuận cao và cạnh tranh cũng phát triển
trong nội bộ của một ngành, cạnh tranh càng gay gắt thì tài nguyên về kinh tế xã
hội, tự nhiên càng đựơc phân phối lại một cách hợp lý hơn. Dẫn đến kết quả điều
chỉnh kết cấu ngành, cơ cấu lao động được thực hiện mau chóng, tối ưu để tăng tích
lũy cơ bản. Như vậy, cạnh tranh là đòn bẩy mạnh mẽ nhất thúc đẩy quá trình luân
chuyển vốn, luân chuyển các yếu tố sản xuất, phân phối lại tài nguyên, tập trung
sản xuất, tích luỹ tư bản.
4 / Cạnh tranh là cơ chế điều tiết việc phân phối lợi nhuận. Yêu cầu tất
nhiên của nhà tư bản trong việc theo đuổi lợi nhuận là phân chia và chiếm giữ giá trò
thặng dư. Sự phân chia giá trò thặng dư giữa các nhà tư bản chòu sự chi phối của cơ
chế cạnh tranh, còn tác dụng của cơ chế cạnh tranh lại chòu sự ảnh hưởng bởi quy

Smith còn cho rằng, cạnh tranh có thể điều tiết sự phù hợp trong quan hệ giữa
sản xuất và nhu cầu xã hội, trong điều kiện cạnh tranh, do có nhiều người cùng tham
gia nên họ phải thường xuyên theo dõi sự biến động của thò trường, họ còn phải chú

18
ý tới sự biến động cung cầu và áp lực cạnh tranh để điều chỉnh sản lượng cho thích
ứng với tình hình thay đổi cung cầu và áp lực cạnh tranh, như vậy cạnh tranh có thể
làm cân bằng cung cầu xã hội. Cạnh tranh còn có tác dụng nâng cao năng lực của
lao động, điều tiết, phân phối các yếu tố tư bản một cách hợp lý, cạnh tranh kích
thích người lao động rèn luyện và nâng cao kỹ năng lao động. Việc tuyển chọn lao
động làm cho các chủ thể cạnh tranh với nhau làm cho tiền lương có thể tăng lên
hoặc giảm xuống, sức lao động và tư bản có thể tự do di chuyển giữa các ngành và
công ty. [50]
Thuyết cạnh tranh của Adam Smith giúp làm rõ lợi ích của cạnh tranh trong
chiến lược phát triển ngành gốm mỹ nghệ Việt Nam, theo đó các doanh nghiệp cần
phải gắn kết chặt chẽ sản xuất với thò trường, đặc biệt là thò trường xuất khẩu để cải
tiến đổi mới công nghệ, cải tiến mẫu mã, cải tiến chất lượng sản phẩm nhằm đáp ứng
với yêu cầu ngày càng cao của thò trường và khách hàng. Quá trình cải tiến để đáp
ứng cho thò trường cũng giúp cho ngành gốm mỹ nghệ nâng cao khả năng cạnh tranh
của mình khi tham gia vào thò trường xuất khẩu…
1.1.2.3. Lý thuyết lợi thế cạnh tranh quốc gia của Michael .E.PorterTheo M.Porter, của cải nhiều hay ít là do năng suất quyết đònh phụ thuộc vào
môi trường cạnh tranh của mỗi nước, môi trường này được sinh ra trong khung cảnh
nào đó giống như hình kim cương 4 cạnh. Theo lý luận này thông tin, nhân tố kích
thích, sức ép cạnh tranh, doanh nghiệp chủ lực, thể chế, công trình hạ tầng, năng lực
quan sát và kỹ năng của con người đều có tác dụng trong việc nâng cao năng suất
sản xuất của một quốc gia và một lónh vực nào đó. Việc nâng cao năng suất một
cách bền vững đòi hỏi bản thân nền kinh tế của mỗi quốc gia phải nâng cấp không

giá của thương
Người bán lượng của
Người mua
Đe dọa từ sản phẩm thay thế Các đối thủ cạnh tranh trong
ngành Ma
ät độ của các nhà cạnh tranh
Người
cung cấp
Những sản
phẩm thay
thế
Người mua
Các đối thủ
tiềm năng

20
(Nguồn : Michael .E. Porter. “ Competitive advantage” New York Press , 1985)[75]
Sơ đồ 1.1 : Sơ đồ năm lực lượng cạnh tranh theo quan điểm Michael Porter
Với năm lực lượng trên theo quan điểm chiến lược, lực lượng mạnh nhất sẽ
thống trò và trở thành trọng yếu. Khi xác đònh được ảnh hưởng của các lực lượng
cạnh tranh, nhiệm vụ của doanh nghiệp là xác đònh những điểm mạnh, yếu của mình

- Khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp: là khả năng duy trì và mở rộng thò
phần, khả năng tổ chức, quản trò kinh doanh, áp dụng công nghệ tiên tiến, hạ thấp
chi phí sản xuất nhằm thu lợi nhuận cao hơn của doanh nghiệp trong môi trường
cạnh tranh trong nước và ngoài nước. Một doanh nghiệp có thể kinh doanh một hay
nhiều sản phẩm và dòch vụ, do đó có thể phân biệt khả năng cạnh tranh của doanh
nghiệp với khả năng cạnh tranh của sản phẩm dòch vụ.
- Khả năng cạnh tranh của sản phẩm, dòch vụ: là khả năng trội hơn của một
loại hàng hoá, dòch vụ so với sản phẩm, dòch vụ cùng loại trên thò trường tại một thời
điểm; sản phẩm, dòch vụ có khả năng cạnh tranh cao hơn có thể đánh bại sản phẩm
dòch vụ cùng loại để chiếm lấy thò phần lớn hơn. Do đó khả năng cạnh tranh của sản
phẩm, dòch vụ được đo bằng thò phần của sản phẩm hay dòch vụ cụ thể trên thò
trường.
Ba cấp độ khả năng cạnh tranh có mối quan hệ qua lại mật thiết với nhau, tạo
điều kiện cho nhau, chế đònh và phụ thuộc lẫn nhau. Một nền kinh tế có khả năng
cạnh tranh quốc gia cao phải có nhiều doanh nghiệp có khả năng cạnh tranh, ngược
lại để tạo điều kiện cho doanh nghiệp có khả năng cạnh tranh, môi trường kinh
doanh của nền kinh tế phải thuận lợi, các chính sách kinh tế vó mô phải rõ ràng, có
thể dự báo được, nền kinh tế phải ổn đònh; bộ máy nhà nước phải trong sạch, hoạt
động có hiệu quả, có tính chuyên nghiệp. Mặt khác, khả năng cạnh tranh của doanh
nghiệp tạo cơ sở cho khả năng cạnh tranh của quốc gia, đồng thời khả năng cạnh
tranh của doanh nghiệp cũng thể hiện qua khả năng cạnh tranh của các sản phẩm và
dòch vụ mà doanh nghiệp sản xuất hay kinh doanh.

22
Như đã trình bày trong phần mở đầu, luận án tập trung nghiên cứu khả năng
cạnh tranh của sản phẩm gốm mỹ nghệ Việt Nam trong tương quan so sánh với các
đối thủ cạnh tranh trên thế giới và thông qua các giải pháp nâng cao khả năng cạnh
tranh của sản phẩm gốm mỹ nghệ sẽ nâng cao khả năng cạnh tranh của doanh
nghiệp nói riêng và ngành gốm nói chung. Đánh giá khả năng cạnh tranh của từng
cấp độ có những phương pháp và chỉ số sau đây:

cạnh tranh hiện tại là phương pháp tổng hợp năng lực cạnh tranh vi mô với hai nhóm
chỉ số nhỏ:
Nhóm thứ nhất : Chỉ số đánh giá chiến lược và hoạt động của công ty:

Khả năng cạnh tranh của mỗi quốc gia đều xuất phát từ khả năng cạnh tranh
của mỗi doanh nghiệp. Ở cấp doanh nghiệp, lợi thế cạnh tranh thể hiện ở chi phí
thấp hoặc ở tính chất độc đáo, phân biệt với sản phẩm khác (bằng chất lượng, tính
năng sản phẩm, các dòch vụ sau khi bán hàng). Lợi thế cạnh tranh của doanh nghiệp
phụ thuộc vào việc lựa chọn chiến lược cạnh tranh và vào các hoạt động tạo ra, tìm
kiếm, vận dụng và duy trì lợi thế cạnh tranh.
Việc lựa chọn chiến lược cạnh tranh của doanh nghiệp còn phụ thuộc vào cấu
trúc ngành công nghiệp mà doanh nghiệp dự đònh tham gia việc xác lập vò trí của
doanh nghiệp trong ngành công nghiệp được lựa chọn. Những lợi thế cạnh tranh trên
có thể xuất hiện ở bất kỳ khâu nào trong toàn bộ quy trình sản xuất, kinh doanh bao
gồm các hoạt động cơ bản (hoạt động cung ứng đầu vào của sản xuất, hoạt động sản
xuất, hoạt động cung ứng đầu ra, tiếp thò, dòch vụ sau bán hàng) và các hoạt động
phụ trợ (cơ sở hạ tầng của doanh nghiệp, quản lý nguồn nhân lực, phát triển công
nghệ, mua hàng). Doanh nghiệp phối hợp các hoạt động trên để tạo ra lợi thế về chi
phí hoặc tính chất độc đáo của sản phẩm. Để làm được điều đó, doanh nghiệp phải
thường xuyên tự đổi mới, tìm kiếm và áp dụng thường xuyên những đổi mới. Hơn
nữa, doanh nghiệp cũng phải luôn duy trì những lợi thế cạnh tranh. Điều này phụ
thuộc vào bản chất của lợi thế cạnh tranh, số lượng các nguồn tạo ra lợi thế cạnh
tranh hiện có và liên tục cải tiến, nâng cấp lợi thế cạnh tranh.

24
Đối với cấp độ ngành và công ty, trên giác độ hiệu ứng của các chính sách và
biện pháp được xem xét trên cơ sở tạo ra và duy trì khả năng sinh lời, bảo tồn thò
phần và mở rộng thò phần…vv, đánh giá khả năng cạnh tranh còn được thể hiện qua
các chỉ số như sau:
• Chỉ số về năng suất: năng suất lao động tổng hợp và năng suất của từng

nhiều nhân tố, do đó nhận diện và đánh giá đúng vai trò của những nhân tố tạo nên
vò thế khả năng cạnh tranh là một việc làm có ý nghóa hết sức to lớn. Có nhiều quan
điểm nhận đònh và đánh giá các nhân tố ảnh hưởng đến khả năng cạnh tranh, tuy
nhiên có thể tập trung vào hai nhóm như sau :
1.1.4.1. Các nhân tố ảnh hưởng đến khả năng cạnh tranh theo quan điểm
của Michael.E.Porter
Theo quan điểm của Michael. E. Porter: phát triển chiến lược kinh doanh là
phát triển vò thế cạnh tranh thông qua việc phát triển các lợi thế cạnh tranh [73].
Như vậy, bản chất của quản trò chiến lược chính là phát hiện ra và tăng cường các
lợi thế cạnh tranh, thông qua việc phân tích môi trường bên trong nhằm phát hiện
những điểm mạnh, điểm yếu của doanh nghiệp, từ đó xác đònh được khả năng và lợi
thế cạnh tranh của doanh nghiệp. Đồng thời qua phân tích môi trường bên ngoài
nhằm nhận dạng những cơ hội hay những thách thức, đe dọa ảnh hưởng đến khả
năng cạnh tranh của doanh nghiệp.
Từ quan điểm trên có thể nhận đònh các nhân tố ảnh hưởng đến khả năng
cạnh tranh qua phân tích môi trường bên ngoài và môi trường bên trong như sau:
1.4.4.1.1. Nhóm nhân tố ảnh hưởng bởi môi trường bên ngoài
* Môi trường vó mô: tác động trực tiếp đến hoạt động của doanh nghiệp và
đem đến những cơ hội, đe dọa khác nhau cho mỗi ngành, mỗi doanh nghiệp, các
nhân tố ảnh hưởng đến từ môi trường này gồm có: xu hướng tổng sản phẩm quốc nội
và thu nhập bình quân đầu người; xu hướng lãi suất; xu hướng tăng giảm thu nhập
thực tế; lạm phát; hệ thống thuế và mức thuế...vv

Trích đoạn Các nhađn tô beđn ngoài Hàm hoăi quy bieơu thị khạ naíng cánh tranh Các caín cứ đeă xuât giại pháp Nhóm giại pháp veă đaău tư đoơi mới cođng ngheơ Nhóm giại pháp veă cại tiên mău mã sạn phaơm, cại tiên phương
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status