Nhóm 4 –PTNT52 Tiểu luận Quản trị kinh doanh nông nghiệp
Báo cáo “Tìm hiểu tình hình sản xuất
và nhập khẩu phân bón của Việt Nam”
1
Nhóm 4 –PTNT52 Tiểu luận Quản trị kinh doanh nông nghiệp
Mục Lục
I. MỞ ĐẦU Error: Reference source not found
1.1 Tính cấp thiết. Error: Reference source not found
1.2 Mục tiêu nghiên cứu Error: Reference source not found
1.2.1 Mục tiêu chung Error: Reference source not found
1.2.2 Mục tiêu cụ thể Error: Reference source not found
1.3 Phạm vi nghiên cứu và Phương pháp nghiên cứu Error: Reference source not
found
1.3.1 Phạm vi nghiên cứu. Error: Reference source not found
1.3.2 Phương pháp nghiên cứu Error: Reference source not found
II. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN Error: Reference source not found
2.1 Cơ sở lý luận Error: Reference source not found
2.2 Cơ sở thực tiễn Error: Reference source not found
2.2.1 Vai trò của phân hoá học đối với năng suất cây trồng ở Việt Nam và một số
nước trên thế giới Error: Reference source not found
2.2.2. Tình hình sử dụng phân bón của một số nước trên thế giới và khu vực
Đông Nam Á Error: Reference source not found
2.2.3. Nhu cầu phân bón đối với cây trồng của Việt Nam đến hết năm 2010 . Error:
Reference source not found
2.2.4 Quá trình sản xuất phân bón của Việt Nam. Error: Reference source not found
III. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN Error: Reference source not found
3.1 Tình hình sản xuất phân bón của Việt Nam. Error: Reference source not found
3.1.1 Tình hình sản xuất phân bón trong nước Error: Reference source not found
3.2. Tình hình nhập khẩu phân bón của Việt Nam Error: Reference source not
found
2
Việt Nam” từ đó tìm ra các yếu tố cơ bản của thị trường phân bón như: cung, cầu,
giá cả phân bón trên thị trường và các chính sách điều tiết của nhà nước nhằm tìm ra
những giải pháp cơ bản ổn định vấn đề phân bón, thị trường phân bón ở Việt Nam
và thị trường nhập khẩu phân bón của Việt Nam là một đòi hỏi cấp bách hiện nay.
1.2 Mục tiêu nghiên cứu
1.2.1 Mục tiêu chung
Tìm hiểu tình hình sản xuất và nhập khẩu phân bón trên thị trường ở Việt Nam.
1.2.2 Mục tiêu cụ thể
4
Nhóm 4 –PTNT52 Tiểu luận Quản trị kinh doanh nông nghiệp
Tìm hiểu tình hình sản xuất và nhập khẩu phân bón của Việt Nam trong thời
gian gần đây, cụ thể chúng tôi tập trung tìm hiểu tình hình sản xuất và nhập khẩu
phân bón từ 2008 - 2010.
- Đề ra các phương án thích hợp đem lại hiệu quả cho người sản xuất, nhập
khẩu đồng thời có lợi cho người tiêu dùng.
1.3 Phạm vi nghiên cứu và Phương pháp nghiên cứu
1.3.1 Phạm vi nghiên cứu.
Phạm vi về nội dung:
Nghiên cứu tình hình sản xuất, nhập khẩu phân bón của Việt Nam.
Nghiên cứu các giải pháp nâng cao nâng cao sản xuất trong nước và
tiềm năng phát triển của ngành phân bón Việt Nam.
Phạm vi về không gian
Tập chung nghiên cứu các số liệu đã công bố của tổng cục thống kê, các
trang wed và số liệu công bố của các nhà máy sản xuất phân bón.
Mặt khác ta cần nghiên cứu tình hình điều trên thị trường thế giới, các nước
trong khu vực: Campuchia, Lào, Thái Lan,…
Phạm vi về thời gian
Nghiên cứu tình hình sản xuất, nhập khẩu phân bón trong 2 năm gần
đây: 2008, 2009, những tháng đầu năm 2010.
1.3.2 Phương pháp nghiên cứu
phân này là có thể tận dụng nguồn rác thải từ động vật hay cây trồng để sản xuất phân
bón và ít gây ô nhiễm môi trường trong quá trình sử dụng. Tuy nhiên khuyết điểm của
nó là giá thành cao và khi sử dụng phân hữu cơ cây không thể sử dụng ngay dưỡng
chất từ phân mà phải trải qua một quá trình chuyển hóa nhờ vào các vi sinh vật vì vậy
cây chỉ có thể lớn từ từ. Hơn nữa mức độ hiệu quả của phân hữu cơ phụ thuộc khá
nhiều vào sự có mặt và mật độ của các vi sinh vật có ích trong môi trường.
- Phân bón vô cơ (phân hóa học): là loại phân chứa các yếu tố dinh dưỡng
dưới dạng muối khoáng (vô cơ) thu được nhờ các quá trình vật lý, hóa học. Nguồn
nguyên liệu sản xuất được lấy từ khí thiên nhiên hay các mỏ khoáng sản. Ưu điểm
của loại phân này là có tác dụng nhanh trong việc tăng năng suất cho cây và giá
thành rẻ. Khuyết điểm lớn nhất của phân hóa học là gây ô nhiễm môi trường. Các
loại phân vô cơ phổ biến hiện nay:
- Các loại phân đơn:
+ Phân đạm: phân ure, phân sunphat đạm, phân amon nitrat…
+ Phân lân: supe lân, phân lân nung chảy…
+ Phân kali: kali clorua, sunphat kali…
- Các loại phân hỗn hợp: chứa từ 2 nguyên tố trở lên như phân SA, phân
NPK, phân DAP…
2.2 Cơ sở thực tiễn
7
Nhóm 4 –PTNT52 Tiểu luận Quản trị kinh doanh nông nghiệp
2.2.1 Vai trò của phân hoá học đối với năng suất cây trồng ở Việt Nam và một
số nước trên thế giới
Cây trồng cũng như con gia súc, tôm, cá muốn sinh trưởng tốt, khoẻ mạnh
tăng trọng nhanh và cho năng suất cao cần phải được nuôi dưỡng trong điều kiện
đầy đủ thức ăn, có đủ các chất bổ dưỡng theo thành phần và tỷ lệ phù hợp. Trẻ con
tuy lúc mới sinh có cơ thể to, nặng cân nhưng nếu sữa mẹ kém chất, nuôi nấng thiếu
khoa học thì cũng có thể trở nên còi cọc. Đối với cây trồng, nguồn dinh dưỡng đó
chính là các chất khoáng có chứa trong đất, trong phân hoá học (còn gọi là phân
khoáng) và các loại phân khác. Trong các loại phân thì phân hoá học có chứa nồng
định mà chủ yếu là do điều kiện tài chánh cũng như trình độ hiểu biết về khoa học
dinh dưỡng cho cây trồng quyết định. Còn trong các nước phát triển mức độ sử dụng
phân khoáng khác nhau là do họ sử dụng cây trồng khác nhau, điều kiện khí hậu
khác nhau, cơ cấu cây trồng khác nhau và họ cũng sử dụng các chủng loại phân khác
nhau để bón bổ sung. Các số liệu khảo sát cho thấy, bình quân các nước châu Á sử
dụng phân khoáng nhiều hơn bình quân thế giới. Tuy nhiên, Ấn Độ (nước có khí hậu
nóng) lại dùng phân khoáng ít hơn bình quân toàn châu Á. Trong lúc đó Trung Quốc
và Nhật lại sử dụng phân khoáng nhiều hơn bình quân toàn châu Á. Hà Lan là nước
sử dụng phân khoáng nhiều nhất. Tuy nhiên lượng phân chủ yếu bón nhiều cho đồng
cỏ, rau và hoa để thu sản lượng chất xanh cao. Việt Nam được coi là nước sử dụng
nhiều phân khoáng trong số các nước ở Đông Nam Á, số liệu tham khảo năm 1999
như sau: - Việt Nam: bình quân 241,82 kg NPK/ha - Malaysia: bình quân 192,60 -
Thái Lan: bình quân 95,83 - Philippin: bình quân 65,62 - Indonesia: bình quân 63,0 -
Myanma: bình quân 14,93 - Lào: bình quân 4,50 - Campuchia: bình quân 1,49 Theo
số liệu ghi nhận được ở trên cho thấy Campuchia, Lào và Myanma sử dụng phân
khoáng ít nhất, đặc biệt là Campuchia. Có thể đó là thị trường xuất khẩu phân bón
của Việt Nam khá thuận lợi, nếu Việt Nam góp phần nâng cao kiến thức sử dụng
phân bón cho họ có kết quả
2.2.3. Nhu cầu phân bón đối với cây trồng của Việt Nam đến hết năm 2010
9
Nhóm 4 –PTNT52 Tiểu luận Quản trị kinh doanh nông nghiệp
Tính nhu cầu phân bón cho cây trồng là dựa trên cơ sở đặc điểm của đất đai,
đặc điểm của cây trồng để tính số lượng phân cần cung cấp làm cho cây trồng có thể
đạt được năng suất tối ưu (năng suất cao nhưng hiệu quả kinh tế cũng cao). Cho đến
năm 2010, ước tính tổng diện tích gieo trồng ở nước ta vào khoảng 12.285.500 ha,
trong đó cây có thời gian sinh trưởng hàng năm là 9.855.500 ha và cây lâu năm
khoảng 2.431.000 ha (Theo số liệu của Vũ Năng Dũng, Viện Quy hoạch và Thiết kế
Nông nghiệp, 2002). Để thoả mãn nhu cầu phân bón cho các loại cây trồng trên các
diện tích này, đến hết năm 2010 ta cần có 2.100.000 tấn phân Urê, 300.000 tấn phân
DAP, 3.000.000 tấn phân NPK các loại, 1.400.000 tấn phân lân dạng super và nung
2.2.4 Quá trình sản xuất phân bón của Việt Nam.
Trước những năm 1960, Nông nghiệp Việt Nam chỉ sử dụng phân hữu cơ và
phân chuồng để bón cho cây trồng; sau những năm 60 mới có sự chuyển hưởng kết
hợp dùng phân hóa học với phân hữu cơ trong sản xuất nông nghiệp.
Trong thập kỷ 60, Nhà nước Việt Nam bắt đầu đầu tư xây dựng một số nhà
máy sản xuất phân bón hóa học: Nhà máy Phân lân nung chảy Văn Điển Hà Nội, với
công suất thiết kế ban đầu là 20.000 tấn/ năm; Xí nghiệp Liên hợp Supe Phốt phát
Lâm Thao - Vĩnh Phú, công suất thiết kế ban đầu 100.000 tấn supephot-phát đơn/
năm; Xí nghiệp Liên hợp Phân bón và Hóa chất Hà Bắc, công suất 1 00.000 tấn urê/
năm. Về sau hai nhà máy phân lân chế biến khác đã được xây dựng thêm: Nhà máy
Phân lân nung chảy Ninh Bình đi vào vận hành từ năm 1975 có công suất thiết kế là
100.000 tấn/năm và Nhà máy Supe Phốt phát Long Thành đi vào sản xuất từ tháng
12/1992 có công suất thiết kế 100.000 tấn/ năm.
Từ những năm 1979-1980 ngành sản xuất phân hỗn hợp NPK bắt đầu được
phát triển; đến những năm 1990- 1991 đã có năng lực sản xuất đạt trên 100.000
tấn/năm và từ đó đến nay ngành này đã phát triển không ngừng về số lượng, chất
lượng cũng như về chủng loại các sản phẩm.
Sản lượng NPK của các đơn vị ngoài VINACHEM chiếm khoảng 35-40%
tổng sản lượng NPK tiêu thụ trên thị trường và chiếm khoảng 20% tổng sản lượng
phân bón các loại trong toàn quốc. Ngoài những loại phân bón truyền thống trên, từ
11
Nhóm 4 –PTNT52 Tiểu luận Quản trị kinh doanh nông nghiệp
những năm 1990 trở lại đây tại Việt Nam, người ta bắt đầu sử dụng phân vi sinh và
phân hữu cơ sinh học. Tổng lượng phân vi sinh và phân hữu cơ sinh học sử dụng
trong các năm 1999 - 2000 vào khoảng 100.000 tấn/năm.
Trong giai đoạn từ 2000 đến nay, chúng ta xây dựng 2 nhà máy đạm urê từ
khí thiên nhiên ở miền Nam và 1 nhà máy đạm urê từ than cám ở miền Bắc. Ba nhà
máy này có công suất 2,2 triệu tấn/năm. Ngoài ra, Nhà máy Phân đạm Bắc Giang
mở rộng với công suất 150.000 tấn urê/năm được đưa vào sản xuất từ cuối năm
2002 đưa tổng năng lực sản xuất phân đạm urê trong cả nước lên 2,35 triệu tấn/năm,
chiếm hầu như toàn bộ lượng phân bón sử dụng và cũng được đề cập nhiều nhất khi
nói về ngành phân bón. Trong nhóm phân đa lượng, phân đạm có lượng sử dụng cao
nhất, kế đến là phân lân, cuối cùng là phân kali. Mặc dù xét về mức độ cần thiết, cây
trồng cần nhiều kali hơn đạm hay lân nhưng do trong đât có tương đối nhiều K hơn
N và P nên lượng nhu cầu phân kali thấp hơn hai loại còn lại.
Tại Việt Nam, trong những năm gần đây, xu thế sử dụng phân bón cũng có
khá nhiều thay đổi. Do yêu cầu cần bổ sung đồng bộ các chất dinh dưỡng cho cây
nên người nông dân đang chuyển sang sử dụng phân tổng hợp thay cho phân đơn. Vì
vậy, phân NPK, SA, DAP đang có xu hướng sử dụng tăng lên còn phân Ure đang có
chiều hướng trong cơ cấu phân bón sử dụng của nước ta hằng năm.
III. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
3.1 Tình hình sản xuất phân bón của Việt Nam.
3.1.1 Tình hình sản xuất phân bón trong nước
Hằng năm, Việt Nam cần nhập khẩu khoảng 50% nhu cầu, trong đó
kali, SA phải nhập khẩu 100%. Sản xuất trong nước chỉ có khả năng đáp ứng các
loại:
13
Nhóm 4 –PTNT52 Tiểu luận Quản trị kinh doanh nông nghiệp
- Phân đạm: do hai nhà máy Đạm Hà Bắc có công suất 180.000 tấn urê/năm.
Nhà máy Đạm Phú Mỹ có công suất 740.000 tấn urê/năm. Hiện cả hai nhà máy này
có khả năng đáp ứng được một nửa nhu cầu đạm trong nước
- Phân Lân: supe lân do 2 đơn vị CTCP Supe Phosphat và hóa chất Lâm Thao
công suất 880.000 tấn/năm và nhà máy Supe Phosphat Long Thành công suất
180.000 tấn/năm. Phân lân nung chảy do CTCP Phân lân Ninh Bình công suất
300.000 tấn/năm và CTCP Phân lân nung chảy Văn Điển công suất 300.000
tấn/năm. Năng lực sản xuất phân lân trong nước đã đáp ứng được phần lớn nhu cầu.
- Phân NPK phối trộn: số lượng các nhà máy có cung cấp phân NPK trong
nước khá nhiều có khả năng cung cấp 4,2 triệu tấn NPK. Về cơ bản, lượng cung
trong nước đủ khả năng đáp ứng nhu cầu phân NPK. Hiện nay, một số doanh nghiệp
đã xuất khẩu loại phân này sang các thị trường lân cận là Lào, Campuchia, Thái Lan.
Phân DAP là một loại phân tổng hợp của phân lân và phân đạm. Phân DAP
cũng được sản xuất từ quặng apatit. Từ trước đến nay, phân DAP vẫn được nhập
khẩu 100%. Hiện nay nước ta đã xây dựng được 2 nhà máy sản xuất phân DAP ở
Hải Phòng và Lào Cai bảo đảm đáp ứng đủ nhu cầu phân bón DAP trong nước ( mỗi
năm khoảng 700.000 tấn), không phải nhập khẩu từ bên ngoài.
Phân NPK cũng là một loại phân tổng hợp của ba loại phân đạm, kali và
DAP, do đó sự thiếu hụt nguyên liệu để sản xuất phân NPK sẽ phụ thuộc vào nguồn
cung của 3 loại phân trên. Đến nay, với việc xây dựng 2 nhà máy DAP (số 1 ở khu
công nghiệp Đình Vũ- Hải Phòng và số 2 ở khu công nghiệp Tằng Loỏng, huyện
Bảo Thắng, tỉnh Lào Cai) đã nâng sản lượng phân bón DAP sản xuất trong nước lên
660.000 tấn/năm, đáp ứng cơ bản nhu cầu thị trường về phân bón DAP, góp phần
đảm bảo an ninh lương thực quốc gia và sử dụng hiệu quả nguồn tài nguyên có sẵn
của Việt Nam.
Các khó khăn tồn tại
15
Nhóm 4 –PTNT52 Tiểu luận Quản trị kinh doanh nông nghiệp
Đánh giá
3.2. Tình hình nhập khẩu phân bón của Việt Nam
3.2.1 Tình hình nhập khẩu phân bón năm 2008
Theo số liệu thống kê, năm 2008 Việt Nam nhập về khoảng 3 triệu tấn phân
bón các loại với kim ngạch 1,46 tỷ USD, giảm 17,9% về lượng nhưng lại tăng
32,73% về trị giá so với năm 2007.
16
Nhóm 4 –PTNT52 Tiểu luận Quản trị kinh doanh nông nghiệp
So với năm 2007, lượng phân bón nhập về từ một số thị trường chính đều
giảm như lượng phân bón nhập về từ thị trường Trung Quốc giảm 28,17%; Nhật
Bản giảm 26,3%; Belarus giảm 37,37%; Đài Loan giảm 9,65% và Philippines giảm
42,08%.
Ngược lại, lượng phân bón nhập về từ một số thị trường khác lại tăng như từ
Nga tăng 28,46%, Hàn Quốc tăng 3,78% và Đài Loan tăng 23,52%. Đáng chú ý,
Anh 13.598 4.337.792 21146,95 97247,21
Thái Lan 9.412 3.625.952 -33,72 66,95
Mỹ 7.570 870.754 -42,99 -76,07
Bỉ 7.429 4.870.845 -58,57 5,66
Thuỵ Sỹ 7.068 3.290.526 16,38 255,30
Đức 5.555 3.246.545 247,40 528,58
… … … … ….
(Nguồn tinthuongmai.vn)
3.2.2 Tình hình nhập khẩu phân bón năm 2009
Theo số liệu thống kê, năm 2009 Việt Nam nhập về trên 4,5 triệu tấn phân
bón các loại với kim ngạch đạt 1,4 tỷ USD, so với cùng kỳ năm ngoái mặc dù tăng
48,9% về lượng song lại giảm 4% về trị giá so với năm 2008. Nguyên nhân khiến
lượng phân bón nhập về tăng mạnh trong năm vừa qua là do các doanh nghiệp đã
tranh thủ gia tăng nhập khẩu khi giá phân bón thế giới giảm mạnh.
Theo ước tính, lượng phân bón cung cấp cho thị trường năm 2009 lên tới 9
triệu tấn (bao gồm: 2,38 triệu tấn sản xuất trong nước, 4,5 triệu tấn nhập khẩu và 2
triệu tấn tồn kho của năm 2008). Trong khi đó, nhu cầu tiêu thụ phân bón năm 2009
chỉ vào khoảng từ 8 – 8,5 triệu tấn. Do đó, có thể thấy nguồn cung phân bón cho sản
xuất nông nghiệp năm 2009 và những tháng đầu năm 2010 là khá dồi dào.
Chính vì nguồn cung dồi dào, nên đã dẫn tới chênh lệch cung cầu trong nước,
ảnh hưởng tới giá và đặc biệt là hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp sản
xuất trong nước. Vị vậy, ngày 30/10/09 Bộ công thương đã tạm thời bãi bỏ quota
xuất khẩu đối với mặt hàng phân bón, cho phép các doanh nghiệp xuất khẩu mặt
hàng này.
Cơ cấu nhập khẩu: Năm 2009, cơ cấu nhập khẩu phân bón của nước ta đã có
sự thay đổi rõ rệt so với năm 2008. Nhập khẩu một số chủng loại như: Urea, DAP, SA,
NPK đều tăng mạnh, trong khi đó lượng Kali nhập về lại sụt giảm, cụ thể:
Urea là chủng loại được nhập về nhiều nhất trong năm qua, với 1,4 triệu tấn,
trị giá 416,7 triệu USD, tăng 2 lần về lượng và tăng 45,51% về trị giá so với năm
18
Nhóm 4 –PTNT52 Tiểu luận Quản trị kinh doanh nông nghiệp
(Nguồn tinthuongmai.vn)
Về thị trường nhập khẩu: Trong năm 2009, có tất cả 15 thị trường cung cấp
phân bón tới Việt Nam. Với lợi thế giá rẻ, lại thuận lợi về mặt địa lý nên Trung
Quốc vẫn là nhà cung cấp phân bón hàng đầu của nước ta. Tỷ trọng nhập khẩu phân
bón từ Trung Quốc chiếm 51% tổng lượng nhập, bỏ khá xa so với nhà cung cấp lớn
thứ hai là Nga với tỷ trọng chiếm 10,26% tổng nhập. Trung Quốc hiện là nhà cung
cấp duy nhất có lượng phân bón xuất khẩu tới Việt Nam đạt trên 1 triệu tấn mỗi
năm. Trong năm 2009, lượng phân bón nhập khẩu từ Trung Quốc đạt 1, 95 triệu tấn,
tăng 29,44% so với năm 2008.
Sau Trung Quốc, nhập khẩu phân bón từ các thị trường khác như: Nga,
Philippin, Ucraina, Đài Loan, Mỹ, Hàn Quốc…cũng tăng trưởng khá ấn tượng.
Trong đó, nhập khẩu từ Hàn Quốc tăng tới 2,1 lần so với năm trước, đạt 355 ngàn tấn.
Còn nhập khẩu từ Nga, thị trường cung cấp phân bón lớn thứ 2, trong năm qua cũng
tăng khá, tăng 14,10% về lượng lên 394,8 ngàn tấn. Đáng chú ý, nhập khẩu phân bón từ
Mỹ và Ucraina tăng rất mạnh, thị trường Mỹ từ 1,1 ngàn tấn của năm ngoái lên 154,7
ngàn tấn, Ucraina từ 1,5 ngàn tấn của năm ngoái lên 189 ngàn tấn. Tuy nhiên, do giá
nhập khẩu đứng ở mức thấp nên mặc dù về lượng tăng mạnh, nhưng do giá phân bón
giảm mạnh nên kim ngạch nhập khẩu từ hầu hết các thị trường đều giảm: Trung Quốc
giảm 17,21%, Nga giảm 29,45%, Hàn Quốc: 7,76%…
Nhập khẩu từ Philippin và Ấn Độ cũng có sự tăng trưởng đáng ghi nhận,
trong đó, nhập khẩu từ Ấn Độ tăng từ 17,4 ngàn tấn lên 40,7 ngàn tấn tăng 2,3 lần,
nhập khẩu từ Philippin từ mức 80,52 ngàn tấn trong năm 2008, tăng gấp 2,7 lần lên
294 ngàn tấn. Kim ngạch nhập khẩu từ Philippin và Ấn Độ cũng tăng khá lần lượt
152,6%, và 86,22 %.
Trong khi đó, nhập khẩu phân bón từ một số thị trường lại giảm
mạnh so với năm 2008, như: Nhật Bản, Canada, Nauy, Bỉ, Malaixia. Cụ thể: nhập
khẩu từ Nhật Bản giảm 4,07% về lượng và 53,27% trị giá, Canada giảm 26,53% về
lượng, 23,17% trị giá; Nauy giảm 87,42% về lượng, 92,27% trị giá; Bỉ giảm 55,72%
về lượng, 51,02% trị giá; còn Malaixia về lượng giảm 7,17%, trị giá là 31,78%.
Việt Nam đã nhập khẩu phân bón từ 13 thị trường trên thế giới trong 8 tháng
đầu năm 2010, trong đó có tới 7 thị trường giảm cả về lượng và trị giá (chiếm 53,8%
trong tổng số thị trường). Nếu như 7 tháng đầu năm Trung Quốc là thị trường cung
21
Nhóm 4 –PTNT52 Tiểu luận Quản trị kinh doanh nông nghiệp
cấp chính mặt hàng phân bón cho Việt Nam thì sang đến 8 tháng đầu năm Trung
Quốc – tiếp tục vẫn là thị trường nhập khẩu phân bón chủ yếu của Việt Nam.
8 tháng năm 2010, Việt Nam đã nhập khẩu hơn 800 nghìn tấn phân bón các
loại từ thị trường Trung Quốc, chiếm 41,2% tổng lượng phân bón nhập khẩu của cả
nước từ đầu năm đến nay, đạt trị giá trên 24,2 triệu USD, nhưng giảm 29% về lượng
và giảm 32,57% về trị giá so với 8 tháng năm 2009.
Đứng thứ hai và chiếm 14,6% trong tổng lượng nhập khẩu mặt hàng, Nga là
thị trường đứng sau Trung Quốc về nhập khẩu phân bón của Việt Nam, với lượng
nhập là 283,6 nghìn tấn, trị giá 97,2 triệu USD, giảm 2,45% về lượng nhưng lại tăng
15,39% về trị giá so với cùng kỳ năm 2009.
Tuy thứ ba, nhưng thị trường Canada, lại có lượng và trị giá tăng so với cùng
kỳ. 8 tháng đầu năm, Canada đã xuất khẩu 94,3 nghìn tấn phân bón các loại sang thị
trường Việt Nam, đạt trị giá 39,2 triệu USD, tăng 95,55% về lượng và tăng 19,98%
về trị giá so với cùng kỳ.
Đáng chú ý, nhập khẩu phân bón từ một số thị trường có sự tăng trưởng mạnh
trong 8 tháng đầu năm. Tiếp tục đứng đầu Top về sự tăng trưởng, sang đến 8 tháng
Nauy tiếp tục giữ vị trí về sự tăng trưởng, tăng 6599,31% về lượng và 4.261,82% về
trị giá so với cùng kỳ đạt 19,4 nghìn tấn đạt kim ngạch 8,3 triệu USD; đứng thứ hai
sau Nauy là Malaixia tăng 255,97% về lượng và 230,57% về trị giá đạt 54,7 nghìn
tấn , kim ngạch đạt 16,4 triệu USD…
Thống kê thị trường nhập khẩu mặt hàng phân bón 8 tháng năm 2010
ĐVT: Lượng (tấn); trị giá (USD)
Kim ngạch
8T/2010 8T/2009
So sánh 8T/2010 với