BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC
KHOA
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP
Đề tài: Tìm hiểu tình hình sản xuất lương thực của nông dân
tại xã Hòa Sơn huyện Krông Bông tỉnh Đăk lăk
Giáo viên hướng dẫn:
Sinh viên thực hành:
Lớp:
MSSV:
1
Mục lục
PHẦN THỨ NHẤT 3
MỞ ĐẦU 3
Đặt Vấn Đề 3
Mục Tiêu Nghiên Cứu 4
Phạm Vi Nghiên Cứu 4
PHẦN THỨ HAI 5
Cơ Sở Lý Luận 5
Phương Pháp Nghiên Cứu 8
PHẦN THỨ BA 10
Đặc Điểm Địa Bàn Nghiên Cứu 10
3.1.1.1.Vị trí địa lý 10
3.1.1.2Điều kiện khí hậu 10
3.1.1.3.Địa hình 11
3.1.3.1.Tình hình dân số, dân tộc và tôn giáo 12
3.1.3.2.Tình hình phân bổ và sử dụng đất trên địa bàn 13
Kết Quả Nghiên Cứu 17
Những Đề Xuất Giải Pháp Để Phát Triển Sản Xuất Lương Thực Tại Xã Hòa Sơn 24
KIẾN NGHỊ 27
PHẦN THỨ TƯ 29
không thích hợp cho việc phát triển các loại cây công nghiệp dài ngày như cà phê,cao
3
su,hồ tiêu, điều…, chỉ thích hợp việc phát triển cây lương thực nhất là trồng cây lúa
nước. Vì thế “Tìm hiểu tình hình sản xuất lương thực của nông dân tại xã Hòa Sơn,
huyện KrôngBông, tỉnh Đăklăk”. là vấn đề cấp thiết nhằm thất được vai trò quan trọng
của việc sản xuất lương thực của hộ nông dân vào việc phát triển kinh tế ở nơi đây.
Mục Tiêu Nghiên Cứu
- Tìm hiểu tình hình sản xuất lương thực của hộ nông dân ở xã Hòa Sơn
huyện Krông Bông tỉnh ĐăkLăk.
- Phân tích những thuận lợi và khó khăn mà hộ nông dân gặp phải.
- Đề xuất giải pháp để phát triển sản xuất lương thực, nâng cao đời sống nhân
dân.
Phạm Vi Nghiên Cứu
1.1.1. Nội dung nghiên cứu
- Tình hình dân số, lao động và nhân khẩu ăn theo.
- Tình hình sản xuất lương thực:
+ Tình hình sử dụng đất nông nghiệp trồng cây lương thực.
+ Tình hình năng suất cây cây lương thực.
+ Tình hình thu nhập từ cây lương thực
+ Chi phí cho sản xuất cây lương thực.
- Tình hình vay vốn.
- Tình hình khuyến nông.
1.1.2. Thời gian nghiên cứu
- Thời gian nghiên cứu năm: 2011
1.1.3. Không gian nghiên cứu
- Xã Hòa Sơn- Huyện Krông Bông- Tỉnh Đăk Lăk
4
PHẦN THỨ HAI
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Cơ Sở Lý Luận
“Hộ là một tập hợp những người cùng chung huyết tộc có quan hệ mật thiết với nhau
trong quá trình sáng tạo ra vật phẩm để bảo tồn chính bản thân họ và cộng đồng”
Qua các quan điểm khác nhau về khái niệm hộ trên, có thể rút ra một số đặc
trưng về hộ.
- Hộ là một nhóm người cùng chung huyết tộc hay không cùng huyết tộc.
- Hộ cùng sống chung hay không cùng sống chung một mái nhà.
- Có chung một nguồn thu nhập và ăn chung.
- Cùng tiến hành sản xuất chung.
Khái niệm về hộ nông dân:
Nghị quyết X của BCT (05/04/1988) ra đời đã khẳng định hộ nông dân là một
đơn vị kinh tế cơ sở là những hộ sống ở nông thôn, có ngành sản xuất chính là
nông nghiệp, nguồn thu nhập và sinh sống chủ yếu là nghề nông. Các thành viên
trong hộ gắn bó với nhau chặt chẽ bởi quan hệ hôn nhân, huyết thống ràng buộc
bởi phong tục tập quán về gia dình dòng tộc, truyền thống đạo đức lâu đời. nghoài
ra hộ nông dân là nơi lưu truyền và giữ gìn bản sác văn hóa dân tộc, mang đậm nét
đặc trưng của nền văn minh nông nghiệp lúa nước.
2.1.2. Vì sao phải nghiên cứu về sản xuất lương thực ở nông thôn?
Giải quyết và đảm bảo an toàn lương thực cho nhân dân, khai thác tiềm
năng đất đai và sử dụng hợp lý các nguồn lao động dồi dào ở nông thôn.
Tìm kiến việc làm và nâng cao đời sống cho đa số dân cư đang sống ở nông thôn.
Giải quyết vấn đề nghèo đói, phát triển một nền nông nghiệp mở rộng, coi
đó là một nguồn tăng trưởng kinh tế.
6
Đối tượng sản xuất lương thực là những sinh vật, muốn đạt năng suất và
hiểu quả thì con người phải chăm sóc kỹ lưỡng, đúng lúc, đúng cách, đúng kỹ
thuật …
2.1.3. Nguồn tài nguyên của sản xuất lương thực ở nông thôn.
Đất đai của hộ nông dân nhỏ bé, biểu hiện rõ tính chất tiểu nông. Quy mô sản xuất
ở phạm vi gia đình là chủ yếu, bình quân đất nông nghiệp cho một nhân khẩu của
một hộ nông dân ở nước ta còn rất thấp.
Được thu thập từ UBND xã Hòa Sơn, huyện Krông Bông, tỉnh ĐakLak.
- Thu thập số liệu sơ cấp:
+ Phỏng vấn trực tiếp nông hộ.
+ Từ số liệu năm băt tổng hợp: là gì cần nói cụ thể hơn
2.2. Phương pháp điều tra chọn mẫu
Quá trình điều tra và thu thập số liệu được tiến hành trong 4 thôn, buôn trên
tổng số 15 thôn, buôn tại xã. Những thôn được điều tra là: thôn 1, 8, 10 và buôn Ja.
Đây là những thôn tiêu biểu đại diện cho toàn xã, trong đó có 2 thôn phát triển
nhất là thôn 1 và 8, thôn 10 được xếp là thôn trung bình của xã, buôn Ja là buôn
châm phát triển nhất (theo tổng hợp kết quả điều tra hộ nghèo chính thức của xã
Hòa sơn năm 2010, theo chuẩn nghèo 2011-2015).
Phương pháp chọn hộ điều tra:
Theo phương pháp lấy mẫu ngẫu nhiên, chọn đại diện 100 hộ (lấy 15%
xem lại, em và nhóm điều tra bao nhiêu hộ, mâu thuẫn với số liệu phân tich ở
dưới trang 15 trở đi: trong tổng số hộ của 4 thôn) hộ nào cũng có thể được điều
tra. Mỗi thôn chọn ra 25 hộ, việc lựa chọn hộ điều tra bằng cách đi điều tra từng hộ
trong thôn, hộ nào có người ở nhà thì tiến hành điều tra hộ đó. Đây là hình thức
thu thập số liệu 1 cách ngẫu nhiên các hộ trong thôn có xác suất chọn mẫu như
nhau.
Chỉ tiêu phân loại hộ
Thủ tướng vừa ký quyết định ban hành chuẩn hộ nghèo, hộ cận nghèo mới áp
dụng cho giai đoạn 2011-2015. Theo đó, hộ nghèo ở nông thôn là hộ có mức thu
8
nhập bình quân từ 400.000 đồng/người/tháng (4,8 triệu đồng/người/năm) trở
xuống. Hộ nghèo ở thành thị là hộ có mức thu nhập bình quân từ 500.000
đồng/người/tháng (6 triệu đồng/người/năm) trở xuống.
Hộ cận nghèo ở nông thôn là hộ có mức thu nhập bình quân từ 401.000 -
520.000 đồng/người/tháng. Hộ cận nghèo ở thành thị là hộ có mức thu nhập bình
quân từ 501.000 - 650.000 đồng/người/tháng. Mức chuẩn nghèo quy định nêu trên
là căn cứ để thực hiện các chính sách an sinh xã hội và chính sách kinh tế, xã hội
Tổng diện tích toàn xã là 5.369 ha (số liệu kiểm kê ĐĐ 2010).
3.1.1.2 Điều kiện khí hậu
Xã Hòa Sơn có đặc điểm khí hậu nhiệt đới gió mùa, nhưng do sự nâng lên
của địa hình ở độ cao trung bình từ 245 - 260 mét (so với mặt nước biển) nên có
đặc điểm rất đặc trưng của chế khí hậu nhiệt đới gió mùa cao nguyên. Về đặc điểm
khí hậu thuỷ văn khu vực này có một số khác biệt so với khu vực khác như sau:
*Nhiệt độ:
- Nhiệt độ trung bình trong năm 25,7
0
C
- Nhiệt độ cao nhất trung bình năm 28,7
0
C
- Nhiệt độ thấp nhất trung bình năm 22,3
0
C
10
- Nhiệt độ cao nhất tuyệt đối 38,5
0
C
- Nhiệt độ thấp nhất tuyệt đối 12,6
0
C
*Độ ẩm:
Độ ẩm không khí tương đối ở xã Hòa Sơn nói riêng, vùng cao nguyên nói
chung bình quân năm khoảng 81%. Độ ẩm tương đối trung bình có giá trị số lớn
nhất vào tháng 9 khoảng ( 92%) và thấp nhất vào các tháng 2, 3, 4 khoảng (70% -
79%) biến trình ẩm của không khí phù hợp với biến trình mưa ở đây và ngược lại
với biến trình của nhiệt độ trung bình năm độ ẩm thấp nhất 25% tháng mùa khô và
dưới 41% trong các tháng mùa mưa
phía tây của xã.
* Nhóm đất vàng nhạt trên đá granit (Fa,Ha) chiếm 18,52%; phân bổ tập
trung ở khu vực nữa xã, phía Đông. Đất có tầng dày <30cm, thành phần cơ giới từ
thịt nặng đến sét, khả năng giữ ẩm kém, có đá lẫn.
* Nhóm đất khác: Bao gồm các loại đất lầy thụt và đất dốc tụ, phân bổ dưới các
khe suối hợp thủy. Loại đất này có độ phì khá cao, giàu mùn, khả năng giữ ẩm rất
tốt, tuy nhiên chỉ chiếm tỷ lệ 17,46%.
3.1.2.3. Tài nguyên rừng
Về diện tích rừng của xã Hòa Sơn, theo kết quả kiểm kê 01/01/2005:
Tổng diện tích đất lâm nghiệp có rừng: 2.790ha.
Trong đó:
- Đất rừng sản xuất: 1.598 ha
- Đất rừng đặc dụng: 959 ha
- Đất rừng trồng: 233 ha
3.1.3. Điều kiện kinh tế - xã hội
3.1.3.1. Tình hình dân số, dân tộc và tôn giáo
Theo báo cáo UBND xã Hòa Sơn toàn xã có 15 thôn, buôn với 2.044 hộ với
9.867 khẩu. Trong đó đồng bào dân tộc tại chỗ có 243 hộ với 1.255 khẩu chiếm
12,7% dân số toàn xã.
Khi đó, tổng số hộ nghèo tại xã Hòa Sơn: 344 hộ - 1.499 khẩu, chiếm 17.28
%, trong năm đã có 160 hộ nghèo và cận nghèo với sự tín chấp của các đoàn thể,
được ngân hàng chính sách cho vay tổng số tiền là 750 triệu đồng, góp phần cải
thiện vốn đầu tư sản xuất cho nhân dân.
12
Công tác phúc tra hộ nghèo năm 2010, kết quả tại xã: 625 hộ, 2828 khẩu
chiếm tỷ lệ 30.74%, hộ cận nghèo 271 hộ, 1393 khẩu.
Với 11 dân tộc anh em sinh sống trên địa bàn và có 4 tôn giáo chính gồm
có: Phật giáo, Thiên chúa giáo, Tin lành và Cao Đài. Theo thống kê mới nhất: tổng
số hộ có theo tôn giáo trên địa bàn là 119 hộ chiếm tỷ lệ 5,8% tổng số hộ, và số
khẩu tương ứng là 494 khẩu chiếm tỷ lệ 5,0% tổng số khẩu.
Buôn Ja 117 661 124 687 131 725
12 Thôn Thanh Phú
Chưa thành lập 134 681 142 732
13 Thôn Tân Sơn Chưa thành lập 40 166 43 181
14 Thôn Quảng Đông Chưa thành lập 109 573 115 550
15 Thôn Hòa Xuân Chưa thành lập 113 565 115 568
Tổng cộng 1856 9.509 1.940 9.566 2044 9867
(Nguồn: Báo cáo UBND xã)
3.1.3.2. Tình hình phân bổ và sử dụng đất trên địa bàn
Căn cứ vào kết quả điều tra trên địa bàn xã cũng như kế hoạch sử dụng đất
đến 2010, tình hình phân bổ và sử dụng đất như sau:
13
Tổng diện tích đất nông nghiệp là 4.581,69 ha chiếm 85,04% tổng diện tích
tự nhiên. Đất phi nông nghiệp là 303,02 ha chiếm 5,62%, đất chưa sử dụng là 503,29
chiếm 9,34%.
Bảng 3.1.3.2: Tình hình phân bổ và sử dụng đất trên địa bàn xã
Chỉ tiêu Ký hiệu
Diện tích
(ha)
Tỷ lệ
(%)
Tổng diện tích tự nhiên
5388,00 100
1. Đất nông nghiệp
NNP 4581,69 85,04
1.1 Đất sản xuất nông nghiệp
SXN 2179,02 40,44
1.1.1 Đất trồng cây hàng năm
CHN 1717,98 31,89
1.1.2 Đất trồng cây lâu năm
thịt lợn hơi và thịt gà mới tăng trở lại) nên giá trị sản xuất ngành chăn nuôi đã
giảm một cách đáng kể. Trồng trọt cho đến nay vẫn là ngành sản xuất chính trong nền
kinh tế của xã, trong ba năm diện tích gieo trồng có tăng 134ha với tốc độ tăng không
đáng kể.
Cây hàng năm: Có thể nói nhóm cây này là thế mạnh của địa phương, luôn
chiếm tỷ lệ cao trong tổng diện tích gieo trồng (>60%).
Cây lúa:Trên địa bàn xã phần diện tích gieo trồng lúa chủ yếu là cây lúa
nước, chủ yếu là lúa vụ Mùa còn vụ Đông Xuân là không đáng kể (cả về mặt diện
tích và sản lượng)
Cây ngô: Là yếu tố cơ bản trong việc tăng sản lượng lương thực hàng năm
của xã. Hầu hết diện tích là ngô lai được đầu tư phát triển cả hai vụ hoặc một vụ
trồng ngô, một vụ trồng đậu.
Nhóm cây có củ (khoai, đậu xanh và rau xanh) trong cơ cấu cây trồng của nhóm
cây hàng năm thì tăng lên (2009) tăng 25% đối với khoai, đậu xanh tăng 7,14% và
rau xanh là 12,94% còn giảm xuống 20% (2008) với khoai, đậu xanh là giảm
xuống 12,5% và rau xanh giảm 10,53%. Còn cây lúa, sắn thì diện tích không thay
đổi qua 3 năm.
Cây công nghiệp ngắn ngày (lạc, mía, DT Trồng cỏ): Có tăng lên năm
2008 nhưng đều giảm xuống vào năm 2009. Do đất trồng màu đã bị thu hẹp dần do
chuyển mục đích sử dụng đất, và một điều quan trọng nữa là các loại cây trồng này
không mang lại hiệu quả kinh tế cao bằng các nhóm cây khác do đất đai ít phù hợp
cho việc trồng màu.
Cây lâu năm: Nhìn chung cây cà phê có tăng lên trong năm 2008, 2009
khoảng 54%, cây điều giảm diện tích xuống để chuyển đổi mục đích sử dụng năm
2009 giảm 55,59%.
15
Bảng 3.1.3.3: Cơ cấu cây trồng trên địa bàn xã
ĐVT: ha
Chỉ tiêu
Năm
trong khu dân cư, giao thông nội đồng là đường đất hẹp, gặp khó khăn cho việc đi
lại vận chuyển nông sản, hàng hóa nhất là vào mùa mưa.
* Hệ thống thủy lợi: Năm 2009 Xã Hòa Sơn đã được nhà nước đầu tư đang thi
công bê tông hóa tuyến kênh N1, đã góp phần rất lớn giúp người dân trên địa bàn
Xã Hòa Sơn nói riêng và cả Huyện Krông Bông nói chung cung cấp được lượng
nước cho đồng ruộng vào mùa khô và thoát nước nhanh chóng khi mùa lũ tràn về.
Theo Báo cáo tổng kết UBND Xã Hòa Sơn năm 2008, diện tích được tưới
theo kế hoạch năm 2008là 2.166 ha, đến năm 2009 diện tích được tưới 2.170ha.
16
Kết Quả Nghiên Cứu
3.2.1. Tình hình dân số. lao động và nhân khẩu ăn theo.
Bảng 3.2.1. Tình hình dân số. lao động và nhân khẩu ăn theo.
Mẫu điều tra 135 hộ đã nới rong
pương pháp điều tra
Nhóm hộ Tỉ lệ
Số
khẩu
Tỉ lệ
(%) (%)
Khá 70.37 427 68.21 4.49 289 3.04
31.83
Cận Nghèo 6.67 43 6.87 5.38 26 3.25
80.95
Nghèo 22.96 156 24.92 4.88 98 3.06
32.09
Nguồn: tổng hợp từ phiếu điều tra
Qua bảng số liệu ta thấy:
Trong tổng số 135 hộ điều tra thì nhóm hộ khá chiếm 70.73%, hộ cận nghèo
chiếm 6.67% và hộ nghèo 22.96%. Tuy tỉ lệ hộ nghèo và cận nghèo tương đối cao
phản ánh mức thu nhập của người dân vần còn thấp nên cần tăng nhóm hộ khá lên
(ha)
Tỉ lệ % DT (ha) Tỉ lệ %
Lúa 28.2 60.71 2.15 48.31 4.91 55.73
Ngô 7.2 15.50 0.9 20.23 1.8 20.43
Sắn 11.05 23.79 1.4 31.46 2.1 23.84
Tổng 46.45 100 4.45 100 8.81 100
Nguồn: Tổng hợp từ phiếu điều tra
Qua bảng 3.2.2.1. cho ta thấy:
18
Việc phân bổ đất trồng để sản xuất lương thực của các nhóm hộ không đồng
đều, chủ yếu đất được các hộ dùng trồng lúa là nhiều nhất, đất trồng sắn và ngô chỉ
chiếm một lượng nhỏ.
- Nhóm hộ khá: Sử dụng đất để trồng lúa là nhiều nhất 28.2 ha chiếm 60.71%
trong tổng diện tích trồng cây lương thực, đất trồng ngô ít nhất là 7.2 ha chiếm
15.5%, còn đất trồng sắn chỉ 11.05 ha chiếm 23.79%.
- Nhóm hộ cận nghèo: Có tổng diện tích sản xuất lương thực là 4.45 ha, trong
đó đất trồng lúa chiếm 48.31%, đát trồng sắn là 1.4 ha chiếm 31.46%, đất
trồng ngô là 0.9 ha chiếm tỉ lệ nhỏ nhất 20.23%.
- Nhóm hộ nghèo: Có tổng diện tích sản xuất lương thực là 8.81 ha, đất trồng
lúa là 4.91 ha chiếm 55.73%, đất trồng ngô và trồng sắn 3.9 ha chiếm 44.27%.
Vậy, Ngô là loại cây được các nhóm hộ trồng với diện tích ít nhất khoảng
16.56% tổng diện tích dùng để sản xuất lương thực. Lúa là cây trồng chủ lực nên
được trồng nhiều. Hộ nghèo bình quân một hộ chỉ trồng 0.153 ha lúa, còn sắn và
ngô thì trồng rất ít nên thu nhập của nhóm hộ này từ sản xuất lương thực không
cao, sản xuất chỉ phục vụ cho cuộc sống thậm chí không đủ dẫn đến mức sống
ngày càng giảm sút đây là một trong những nguyên nhân của sự nghèo đói.
3.2.2.2. Tình hình năng suất cây lương thực.
Năng suất cây trồng chính là hiệu quả đạt được trên một đơn vị diện tích.
Năng suất càng cao thì thể hiện canh tác hợp lý, khả năng áp dụng khoa học - kỹ
thuật vào sản xuất của người dân,…Để biết được tình hình sử dụng đất đai và năng
lợi và sâu bệnh nên ảnh hưởng lớn đến năng suất cây trồng. Vì vậy, cần có những
chính sách hộ trở vốn để tái sản suất, nhất là các nhóm hộ cận ngèo và hộ nghèo
thiếu tư liệu sản suất.
Tất cả các bảng thể hiện là tổng số hô điều tra là q 135 hộ nên không cần
ghi như thế nhìn khoog khoa học
3.2.2.3. Tình hình thu nhập từ trồng cây lương thực.
Sản xuất lương thực là nguồn thu nhập chính của người dân ở đây,
việc canh tác hợp lý sẽ nâng cao được năng suất, nâng cao được thu nhập và
từ đó đời sống kinh tế hộ được nâng lên. Cây lương thực có nhiều loại và kỹ
thuật áp dụng cho từng loại cây khác nhau. Để biết được tình hình thu nhập của
các hộ nông dân ta nghiên cứu bảng số liệu tổng hợp sau:
Bảng 3.2.2.3. Tình hình thu nhập từ trồng cây lương thực.
Mẫu điều tra 135 hộ
Đơn vị tính: 1.000 đồng
20
Nhóm
hộ
Lúa Ngô Sắn Tổng thu Tổng thu/hộ
Khá 1463467 142210 8253336 9859013 103779.1
TB 92340 29860 15045 137245 17155.6
Nghèo 105480 35700 36540 177720 5553.8
Nguồn: Tổng hợp từ phiếu điều tra
Qua bảng trên cho ta thấy:
Nguồn thu nhập chính của các hộ trồng cây lương thực của các nhóm hộ
chủ yếu là cây lúa chiếm 97% tổng thu nhập từ cây lương thực, thu nhập từ ngô và
sắn rất nhỏ chỉ chiếm 3%. Điều này cho thấy đất đai ở dây rất thích hợp để trồng
lúa, người nông dân ở đây chưa chú trộng đến sản xuất ngô và sắn nên năng suất
chưa đạt dẫn đến thu nhập vẫn còn thấp. Bình quân tổng thu nhập từ cây lương
thực/hộ là 126,488 triệu đồng.
Các hộ khá có thu nhập từ cây lương thực cao hơn hẳn so với các nhóm hộ
dõi bảng sau:
Bảng 3.2.2.5. Tình hình vay vốn của các hộ
Mẫu điều tra 135 hộ
Nhóm hộ Lúa Ngô Sắn Tổng chi
Tổng
chi/hộ
Khá 453870 38454.5 25640 517964.5 5452.3
Cận Ngèo 44798 2730 1710 49238 6154.8
Nghèo 64639 6796.3 6830 78265.3 2445.8
22
Đơn vị tính: 1.000 đồng
Nguồn: Tổng hợp từ phiếu điều tra
Qua bảng tình hình vay vốn của các nông hộ ta thấy nhóm hộ khá được tiếp
cận với vố vay nhiều nhất so với các nhóm hộ khác. Bình quân một hộ vay được
14,157 triệu đồng. Lượng vay cũng tương đối nhiều chủ yếu là vay ngân hàng
nông nghiệp về để lấy vốn tích lũy đầu tư tái sản xuất cũng như chi tiêu cho sinh
hoạt…
Nhóm hộ cận nghèo và hộ nghèo được vay với số lượng ít hơn do phần lớn
họ ưu tiên vay được ngân hàng chính sách và vay ngân hàng nông nghiệp nhưng
không được nhiều do các hộ có ít tài sản thế chấp để vay một lượng vốn lớn.
Lượng vốn nhỏ nên không đủ để đầu tư cho sản xuất mặt khác còn bù vào tiêu
Khá 65 67.71 68.42 14157.89
Cận
Nghèo
5 5.21 62.50 7875.00
Nghèo 26 27.08 81.25 7625.00
23
dùng hằng ngày nữa nên hiệu quả sản xuất không cao, việc phát triển kinh tế gặp
rất nhiều khó khăn.
3.2.3. Hoạt động khuyến nông
24
Qua quá trình tìm hiểu, điều tra và nghiên cứu 135 hộ ở 4 thôn tại xã Hòa
Sơn thì người dân cho biết họ đã được ngân hàng chính sách nhà nước cũng như
ngân hàng nông nghiệp tạo điều kiện cho vay vốn để đầu tư cho sản xuất nông
nghiệp nói chung và sản xuất lương thực nói riêng. Nhưng thưc tế là số lượng
người vay vốn chính sách nhà nước rất ít chủ yếu là hộ nghèo hoặc hộ năm trong
diện chính sách, lượng vốn mỗi hộ vay còn hạn chế không đủ để đầu tư phải vay
các nguồn khác như ngân hàng nông nghiệp và tư nhân ngoài. Vay ngân hàng
nông nghiệp người nông dân phải thế chấp bằng tài sản nên họ không vay được
lượng vốn nhiều bằng các hộ khá giàu, cuối cùng họ thường phải đi vay vốn tư
nhân ở ngoài với lãi suất rất cao với hình thức tiền mặt hoặc lấy đầu tư giống, phân
bón…
Thực tế cho thấy đời sống của người dân nơi đây đang gặp nhiều khó khăn
khi sản xuất, đặc biệt là nguồn vố đầu tư cho sản xuất lương thực trong nông
nghiệp. Như vậy các cấp chính quyền địa phương nơi đây nên có giải pháp thích
hợp để người dân có thể vay vốn dễ dàng, nhanh chóng kịp thời nhằm đáp ứng
được nhu cầu cho sản xuất đúng thời vu. Đây chính là nhu cầu rất cần thiết và cấp
bách đối với người dân đang sản xuất nông nghiệp.
3.3.2. Kỹ thuật canh tác
Sản xuất lương thực của người dân nơi đây vẫn còn lạc hậu. Tuy đã cơ giới
hóa nhiều nhưng phần lớn vẫn sử dụng những phương tiện sản xuất truyền thống,
những hộ sử dụng máy móc trong các khâu sản xuất còn rất ít chủ yếu là dùng
trong khâu làm đất và thu hoạch. Việc áp dụng khoa học kỹ thuật vào sản xuất
lương thực còn hạn chế vì vốn nhỏ và các yếu tố khác chi phối, phân bố cây trồng
chưa hợp lý nên cần có giải pháp sau:
- Khuyến khích người dân gieo trồng các loại giống mới, giống lai có năng
suất cao và chất lượng tốt vào sản xuất.
- Thực hiện chuyển đổi cơ cấu mùa vụ đối với sản xuất lúa, gieo cấy sớm
nhằm tranh thủ nguồn nước lúc đầu vụ từ các kênh mương thủy lợi.
25