Tìm hiểu tình hình sản xuất lương thực của nông dân tại xã Hòa Sơn, huyện Krôngbông, tỉnh đăklăk - Pdf 26

PHẦN THỨ NHẤT
MỞ ĐẦU
1.1. Đặt Vấn Đề
Đảm bảo lương thực đang là một vấn đề mang tính toàn cầu. Theo thống
kê vào năm 2050 thế giới sẽ có hơn 9 tỷ người sinh sống, câu hỏi đặt ra là
tìm đâu ra sản lượng lương thực cung cấp để nuôi sống đủ mọi người?
Việt Nam có nền sản xuất nông nghiệp lâu đời đóng vai trò quan trọng là
nền tảng vững chắc cho công cuộc phát triển của đất nước, 60% dân số làm
nông nghiệp đóng góp 20,6% GDP năm 2010 giá trị xuất nhập khẩu 19,15 tỷ
USD. Chiến lược phát triển nông nghiệp nông thôn Việt Nam 2011-2020
(MARD QĐ số 3310/BNN-KH ngày 12/10/2009) đối với ngành sản xuất
lương thưc là “Phát triển sản xuất lúa gạo Việt Nam trở thành mặt hàng
xuất khẩu mũi nhọn có hiệu quả và đảm bảo an ninh lương thực.” Trên cơ sở
tính toán cân đối giữa nhu cầu tương lai của đất nước và dự báo nhu cầu
chung của thế giới nhằm đảm bảo tuyệt đối an ninh lương thực quốc gia
trong mọi tình huống, đảm bảo quyền lợi hợp lý của người sản xuất và kinh
doanh lúa gạo và xuất khẩu có lợi nhuận cao, đảm bảo sản lượng lúa đến
năm 2020 đạt hơn 41 triệu tấn lúa trên diện tích canh tác 3,7 triệu ha.
Sản xuất lương thực là ngành quan trọng nhất của nông nghiệp Việt
Nam, không những đủ cho nhu cầu trong nước mà còn có khối lượng lớn
cho xuất khẩu. Tuy nhiên để đảm bảo được an ninh lương thực ở cấp hộ gia
đình trên phạm vi cả nước vẫn đang còn là một vấn đề lớn, đặc biệt ở miền
núi phía Bắc và Tây Nguyên: Cần nói rõ vai trò của lương thực hơn nữa để
thấy lương thục và sản xuất ra lương thục đảm bảo an ninh luong thực là rất
cần thiết và tại sao nó lại là vấn đề quan trọng tại hòa sơn
Xã Hòa Sơn, huyện Krông Bông, tỉnh Đak Lak, nằm trong vùng khí hậu
nhiệt đới gió mùa nhưng bị phân hóa do sát dãy núi ChưyangSin. Sản xuất
nông nghiệp là hoạt động chủ yếu của nông dân nhưng mang tính thời vụ và
còn manh mún, nhỏ lẻ, sử dụng công cụ thô sơ chưa có điều kiện đưa máy
móc hiện đại vào sản xuất, việc áp dụng khoa học – kỹ thuật chưa phổ biến
1

2.1. Cơ Sở Lý Luận
Sau 25 năm đổi mới (1986-2010), Việt Nam đã đạt được tốc độ tăng
trưởng cao trong nông nghiệp, đặc biệt trong lĩnh vực sản xuất lương thực.
Sản lượng lương thực Việt Nam không những đủ cho nhu cầu trong nước mà
còn có khối lượng lớn cho xuất khẩu. Bình quân lương thực đầu người tăng
từ 445 kg năm 2000 lên 501 kg năm 2008. Việt Nam đã trở thành nước xuất
khẩu gạo và các sản phẩm sắn (tinh bột sắn và sắn lát) đứng thứ hai trên thế
giới sau một thời gian dài thiếu lương thực.
2.1.1. Khái niệm về lương thực và cây lương thực
- Lương thực là những sản phẩm nông nghiệp nuôi sống con người
Cây lương thực là các loại cây trồng mà sản phẩm dùng làm lương
thực cho người, nguồn cung cấp chính về năng lượng và chất bột
cacbohydrat trong khẩu phần thức ăn cho toàn dân số trên thế giới.
Lúa là cây lương thực quan trọng nhất, chiếm diện tích gieo trồng
lớn nhất. Cây lương thực quan trọng thứ hai là ngô đang có xu hướng
tăng ở Đồng bằng sông Hồng, Đồng bằng sông Cửu Long, Tây Nguyên
và Duyên hải miền Trung. Cây lương thực quan trọng thứ ba là cây sắn
đang có xu hướng tăng ở vùng Đông Nam Bộ, Tây Nguyên, vùng núi và
trung du Bắc Bộ. Cây lương thực quan trọng thứ tư là khoai lang có xu
hướng giảm ở hầu hết các vùng. Những cây lương thực, thực phẩm lấy củ
và lấy hạt khác (như khoai tây, khoai môn, khoai mỡ, dong riềng, hoàng
tinh cao lương, lúa mì, lúa miến, lúa mạch) chiếm tỷ trọng không nhiều.
2.1.2 Khái niệm Hộ và hộ nông dân
 Khái niệm về hộ
Có rất nhiều khái niệm về hộ được đưa ra:
Theo Martin (1988) thì hộ là đơn vị cơ bản liên quan đến sản xuất,
3
tái sản xuất, đến tiêu dùng và các hoạt động xã hội khác.
Theo Harris, ở viện nghiên cứu phát triển trường Đại học tổng hợp Susex
(Lon Don- Anh) cho rằng: “ Hộ là một đơn vị tự nhiên tạo nguồn lao

rộng, coi đó là một nguồn tăng trưởng kinh tế.
Đối tượng sản xuất lương thực là những sinh vật, muốn đạt năng
suất và hiểu quả thì con người phải chăm sóc kỹ lưỡng, đúng lúc, đúng
cách, đúng kỹ thuật…
2.1.3. Nguồn tài nguyên của sản xuất lương thực ở nông thôn.
Đất đai của hộ nông dân nhỏ bé, biểu hiện rõ tính chất tiểu nông. Quy mô
sản xuất ở phạm vi gia đình là chủ yếu, bình quân đất nông nghiệp cho
một nhân khẩu của một hộ nông dân ở nước ta còn rất thấp.
- Lao động: các hộ nông dân thường sử dụng lao động trong gia
đình. Một lao động cảu hộ thường nuôi từ 3-4 nhân khẩu. Đây là khó
khăn của hộ nông dân trong sản xuất nông nghiệp.
- Nguồn vốn sản xuất:
+ Vốn là tư liệu sản xuất của quá trình tái sản xuất kinh tế hộ. Đại
bộ phận hộ nông dân có khả năng tích luy tập trung vốn rất thấp. Tích
lũy vốn không phải trên một nền nông nghiệp thặng dư, sự tích lũy
còn do sự chắt góp của nông dân. Tình trạng vay nặng lãi vẫn còn khá
phổ biến ở nông thôn.
+ Hệ thống công cụ vẫn còn mang tính truyền thống và là nguồn
vốn cố định của hộ nông dân, nó còn thể hiện trình độ phát triển của
lực lượng sản xuất nông nghiệp.
+ Kỹ thuật canh tác: Nhìn chung kỹ thuật canh tác của nông dân
vẫn còn mang nặng tính chất truyền thống.
+ Môi trường sản xuất: Các thị trường vốn, lao động tự nhiên sản
xuất chậm và kém phát triển ảnh hưởng đến đầu ra của sản phẩm
nông nghiệp.
- Thu nhập: Chủ yếu phụ thuộc vào kết quả sản xuất, nó quy định
5
mức sống, khả năng tiêu dung, tích lũy, tái sản xuất của hộ nông dân.
Cơ cấu sản xuất quyết định cơ cấu thu nhập của hộ nông dân.
o Phương Pháp Nghiên Cứu

Chỉ tiêu phân loại hộ
Thủ tướng vừa ký quyết định ban hành chuẩn hộ nghèo, hộ cận nghèo
mới áp dụng cho giai đoạn 2011-2015. Theo đó, hộ nghèo ở nông thôn là
hộ có mức thu nhập bình quân từ 400.000 đồng/người/tháng (4,8 triệu
đồng/người/năm) trở xuống. Hộ nghèo ở thành thị là hộ có mức thu nhập
bình quân từ 500.000 đồng/người/tháng (6 triệu đồng/người/năm) trở
xuống.
Hộ cận nghèo ở nông thôn là hộ có mức thu nhập bình quân từ 401.000
- 520.000 đồng/người/tháng. Hộ cận nghèo ở thành thị là hộ có mức thu
nhập bình quân từ 501.000 - 650.000 đồng/người/tháng. Mức chuẩn
nghèo quy định nêu trên là căn cứ để thực hiện các chính sách an sinh xã
hội và chính sách kinh tế, xã hội khác. Quyết định này có hiệu lực thi
hành từ ngày 01-01-2011.
Dựa vào tình hình cụ thể của các hộ trong xã để phân loại nhóm hộ như
sau:
Nhóm hộ nghèo: <401000 VNĐ/người/tháng
Nhóm hộ trung bình: Từ 401000 đến 520000 VNĐ/người/tháng
Nhóm hộ khá và giàu: >520000 VNĐ/người/tháng
Số mẫu được chọn là 120 hộ thuộc xã Hòa Sơn, huyện Krông Bông, tỉnh
ĐăkLăk.
 Phương pháp tổng hợp và xử lý số liệu
- Số liệu được tổng hợp và xử lý bằng phần mềm Excel.
- Phương pháp thống kê mô tả.
 Phương pháp phân tích
- Từ số liệu thu thập được nhận xét, đánh giá tình hình.
- So sánh các kết quả đó.
 Hệ thống các chỉ tiêu nghiên cứu
- Thu nhập bình quân /hộ = Tổng thu nhập của các hộ/ Tổng số
7
hộ

0
C
- Nhiệt độ thấp nhất trung bình năm 22,3
0
C
- Nhiệt độ cao nhất tuyệt đối 38,5
0
C
- Nhiệt độ thấp nhất tuyệt đối 12,6
0
C
*Độ ẩm:
Độ ẩm không khí tương đối ở xã Hòa Sơn nói riêng, vùng cao
nguyên nói chung bình quân năm khoảng 81%. Độ ẩm tương đối trung
bình có giá trị số lớn nhất vào tháng 9 khoảng (92%) và thấp nhất vào các
tháng 2, 3, 4 khoảng (70% - 79%) biến trình ẩm của không khí phù hợp
với biến trình mưa ở đây và ngược lại với biến trình của nhiệt độ trung
bình năm độ ẩm thấp nhất 25% tháng mùa khô và dưới 41% trong các
tháng mùa mưa
o Địa hình
Xã có địa hình bị chia cắt thành 2 vùng tương đối rõ rệt, phía Nam
là vùng núi cao, phía Bắc là vùng trũng tương đối thấp, độ cao trung bình
650-690m. Đất đai khá bằng phẳng ở khu vực trung tâm, Phía đông nam
của Xã là dãy núi Chư Yang Sin chiếm 51,54 % diện tích tự nhiên. Khu
vực có địa hình thấp hơi có lượn sóng, phân bổ ở phía tây bắc. Độ cao
trung bình 450 - 470m, chiếm 48,46 %diện tích tự nhiên. Nhìn chung, địa
hình thuận lợi cho việc phát triển kinh tế nông - lâm nghiệp. Rất thích
9
hợp cho các loại cây Lúa và công nghiệp dài ngày phát triển: cây điều, cà
phê .v.v

khả năng giữ ẩm rất tốt, tuy nhiên chỉ chiếm tỷ lệ 17,46%.
o Tài nguyên rừng
Về diện tích rừng của xã Hòa Sơn, theo kết quả kiểm kê
01/01/2005:
Tổng diện tích đất lâm nghiệp có rừng: 2.790ha.
Trong đó:
- Đất rừng sản xuất: 1.598 ha
- Đất rừng đặc dụng: 959 ha
- Đất rừng trồng: 233 ha
 Điều kiện kinh tế - xã hội
o Tình hình dân số, dân tộc và tôn giáo
Theo báo cáo UBND xã Hòa Sơn toàn xã có 15 thôn, buôn với
2.044 hộ với 9.867 khẩu. Trong đó đồng bào dân tộc tại chỗ có 243 hộ
với 1.255 khẩu chiếm 12,7% dân số toàn xã.
Khi đó, tổng số hộ nghèo tại xã Hòa Sơn: 344 hộ - 1.499 khẩu,
chiếm 17.28 %, trong năm đã có 160 hộ nghèo và cận nghèo với sự tín
chấp của các đoàn thể, được ngân hàng chính sách cho vay tổng số tiền là
750 triệu đồng, góp phần cải thiện vốn đầu tư sản xuất cho nhân dân.
Công tác phúc tra hộ nghèo năm 2010, kết quả tại xã: 625 hộ,
2828 khẩu chiếm tỷ lệ 30.74%, hộ cận nghèo 271 hộ, 1393 khẩu.
Với 11 dân tộc anh em sinh sống trên địa bàn và có 4 tôn giáo
chính gồm có: Phật giáo, Thiên chúa giáo, Tin lành và Cao Đài. Theo
thống kê mới nhất: tổng số hộ có theo tôn giáo trên địa bàn là 119 hộ
chiếm tỷ lệ 5,8% tổng số hộ, và số khẩu tương ứng là 494 khẩu chiếm tỷ
lệ 5,0% tổng số khẩu.
Bảng 3.1.3.1: Tình hình dân số trên địa bàn xã
Stt Thôn, buôn Năm 2008 Năm 2009
Năm 2010
Số hộ Số khẩu Số hộ Số Số hộ Số
11

xã)
o Tình hình phân bổ và sử dụng đất trên
địa bàn
Căn cứ vào kết quả điều tra trên địa bàn xã cũng như kế hoạch sử
dụng đất đến 2010, tình hình phân bổ và sử dụng đất như sau:
Tổng diện tích đất nông nghiệp là 4.581,69 ha chiếm 85,04% tổng
diện tích tự nhiên. Đất phi nông nghiệp là 303,02 ha chiếm 5,62%, đất chưa
sử dụng là 503,29 chiếm 9,34%.
Bảng 3.1.3.2: Tình hình phân bổ và sử dụng đất trên địa bàn xã
12
Chỉ tiêu Ký hiệu
Diện tích
(ha)
Tỷ lệ
(%)
Tổng diện tích tự nhiên
5388,00 100
1. Đất nông nghiệp
NNP 4581,69 85,04
1.1 Đất sản xuất nông nghiệp
SXN 2179,02 40,44
1.1.1 Đất trồng cây hàng năm
CHN 1717,98 31,89
1.1.2 Đất trồng cây lâu năm
CLN 461,04 8,56
1.2 Đất lâm nghiệp
LNP 2376,96 44,12
1.3 Đất nuôi trồng thuỷ sản
NTS 25,71 0,48
2. Đất phi nông nghiệp

phương, luôn chiếm tỷ lệ cao trong tổng diện tích gieo trồng (>60%).
Cây lúa: Trên địa bàn xã phần diện tích gieo trồng lúa chủ yếu là
cây lúa nước, chủ yếu là lúa vụ Mùa còn vụ Đông Xuân là không đáng kể
(cả về mặt diện tích và sản lượng)
Cây ngô: Là yếu tố cơ bản trong việc tăng sản lượng lương thực
hàng năm của xã. Hầu hết diện tích là ngô lai được đầu tư phát triển cả
hai vụ hoặc một vụ trồng ngô, một vụ trồng đậu.
Nhóm cây có củ (khoai, đậu xanh và rau xanh) trong cơ cấu cây trồng
của nhóm cây hàng năm thì tăng lên (2009) tăng 25% đối với khoai, đậu
xanh tăng 7,14% và rau xanh là 12,94% còn giảm xuống 20% (2008) với
khoai, đậu xanh là giảm xuống 12,5% và rau xanh giảm 10,53%. Còn cây
lúa, sắn thì diện tích không thay đổi qua 3 năm.
Cây công nghiệp ngắn ngày (lạc, mía, DT Trồng cỏ): Có tăng lên
năm 2008 nhưng đều giảm xuống vào năm 2009. Do đất trồng màu đã bị
thu hẹp dần do chuyển mục đích sử dụng đất, và một điều quan trọng nữa
là các loại cây trồng này không mang lại hiệu quả kinh tế cao bằng các
nhóm cây khác do đất đai ít phù hợp cho việc trồng màu.
Cây lâu năm: Nhìn chung cây cà phê có tăng lên trong năm 2008,
2009 khoảng 54%, cây điều giảm diện tích xuống để chuyển đổi mục
đích sử dụng năm 2009 giảm 55,59%.
Bảng 3.1.3.3: Cơ cấu cây trồng trên địa bàn xã
ĐVT: ha
Chỉ tiêu
Năm
2007
Năm
2008
Năm
2009
2008/2007 2009/2008

dân trên địa bàn Xã Hòa Sơn nói riêng và cả Huyện Krông Bông nói
chung cung cấp được lượng nước cho đồng ruộng vào mùa khô và thoát
nước nhanh chóng khi mùa lũ tràn về.
Theo Báo cáo tổng kết UBND Xã Hòa Sơn năm 2008, diện tích
được tưới theo kế hoạch năm 2008là 2.166 ha, đến năm 2009 diện tích
được tưới 2.170ha.
o Kết Quả Nghiên Cứu
 Tình hình dân số. lao động và nhân khẩu ăn theo.
Bảng 3.2.1. Tình hình dân số. lao động và nhân khẩu ăn theo.
15
Mẫu điều tra 135 hộ đã nới
rong pương pháp điều tra
Nhóm hộ Tỉ lệ
Số
khẩu
Tỉ lệ
(%) (%)
Khá 70.37 427 68.21 4.49 289 3.04
31.83
Cận Nghèo 6.67 43 6.87 5.38 26 3.25
80.95
Nghèo 22.96 156 24.92 4.88 98 3.06
32.09
Nguồn: tổng hợp từ phiếu điều tra
Qua bảng số liệu ta thấy:
Trong tổng số 135 hộ điều tra thì nhóm hộ khá chiếm 70.73%, hộ
cận nghèo chiếm 6.67% và hộ nghèo 22.96%. Tuy tỉ lệ hộ nghèo và cận
nghèo tương đối cao phản ánh mức thu nhập của người dân vần còn thấp
nên cần tăng nhóm hộ khá lên để mức sống của người dân được nâng lên.
Tỏng số nhân khẩu là 626 người, các nhân khẩu cũng làm ảnh hưởng đến

Khá Cận nghèo Nghèo
DT (ha) Tỉ lệ %
DT
(ha)
Tỉ lệ % DT (ha) Tỉ lệ %
Lúa 28.2 60.71 2.15 48.31 4.91 55.73
Ngô 7.2 15.50 0.9 20.23 1.8 20.43
17
Sắn 11.05 23.79 1.4 31.46 2.1 23.84
Tổng 46.45 100 4.45 100 8.81 100
Nguồn: Tổng hợp từ phiếu điều tra
Qua bảng 3.2.2.1. cho ta thấy:
Việc phân bổ đất trồng để sản xuất lương thực của các nhóm hộ
không đồng đều, chủ yếu đất được các hộ dùng trồng lúa là nhiều nhất,
đất trồng sắn và ngô chỉ chiếm một lượng nhỏ.
- Nhóm hộ khá: Sử dụng đất để trồng lúa là nhiều nhất 28.2 ha
chiếm 60.71% trong tổng diện tích trồng cây lương thực, đất trồng
ngô ít nhất là 7.2 ha chiếm 15.5%, còn đất trồng sắn chỉ 11.05 ha
chiếm 23.79%.
- Nhóm hộ cận nghèo: Có tổng diện tích sản xuất lương thực là 4.45
ha, trong đó đất trồng lúa chiếm 48.31%, đát trồng sắn là 1.4 ha
chiếm 31.46%, đất trồng ngô là 0.9 ha chiếm tỉ lệ nhỏ nhất 20.23%.
- Nhóm hộ nghèo: Có tổng diện tích sản xuất lương thực là 8.81 ha,
đất trồng lúa là 4.91 ha chiếm 55.73%, đất trồng ngô và trồng sắn 3.9
ha chiếm 44.27%.
Vậy Ngô là loại cây được các nhóm hộ trồng với diện tích ít nhất
khoảng 16.56% tổng diện tích dùng để sản xuất lương thực. Lúa là cây
trồng chủ lực nên được trồng nhiều. Hộ nghèo bình quân một hộ chỉ
trồng 0.153 ha lúa, còn sắn và ngô thì trồng rất ít nên thu nhập của nhóm
hộ này từ sản xuất lương thực không cao, sản xuất chỉ phục vụ cho cuộc

nhiều so với các năm trước và mặt bằng chung của toàn xã 6.5 tấn/ha,
năng suất lúa của hộ cận nghèo cũng đạt chỉ có năng suất lúa của hộ
nghèo là thấp 3.52 tấn/ha chủ yếu là các hộ đồng bào dân tộc êđê,
m’nông sản xuất lúa rẫy.
Nhìn chung thì năng suất của ngô và sắn còn rất thấp do đất trồng
xấu và vốn đầu tư cho ản xuất chưa cao. Đời sống của người dân phụ
thuộc nhiều vào thu nhập từ sản xuất lương thực, khi năng suất thấp chỉ
đủ bù đắp cho chi phí sản xuất, chưa có dư thừa để tích lũy sản xuất. Mặt
khác do điều kiện thời tiết không thuận lợi và sâu bệnh nên ảnh hưởng
lớn đến năng suất cây trồng. Vì vậy, cần có những chính sách hộ trở vốn
để tái sản suất, nhất là các nhóm hộ cận ngèo và hộ nghèo thiếu tư liệu
sản suất.
Tất cả các bảng thể hiện là tổng số hô điều tra là q 135 hộ nên
không cần ghi như thế nhìn khoog khoa học
19
o Tình hình thu nhập từ trồng cây
lương thực.
Sản xuất lương thực là nguồn thu nhập chính của người dân ở
đây, việc canh tác hợp lý sẽ nâng cao được năng suất, nâng cao
được thu nhập và từ đó đời sống kinh tế hộ được nâng lên. Cây
lương thực có nhiều loại và kỹ thuật áp dụng cho từng loại cây khác
nhau. Để biết được tình hình thu nhập của các hộ nông dân ta nghiên cứu
bảng số liệu tổng hợp sau:
Bảng 3.2.2.3. Tình hình thu nhập từ trồng cây lương thực.
Mẫu điều tra 135 hộ
Đơn vị tính: 1.000 đồng
Nhóm
hộ
Lúa Ngô Sắn Tổng thu Tổng thu/hộ
Khá 1463467 142210 8253336 9859013 103779.1

nhóm hộ cận nghèo là 61,54 triệu đồng, chênh lệch nhiều so với nhóm hộ
nghèo 24,45 triệu đồng nhưng thu nhập thấp, nguyên nhân là do các hộ
cận nghèo đầu tư nhiều cho sản xuất lương thực nhưng chưa hiệu quả
hoặc gặp rủi ro trong sản xuất như thiên tai, dịch bệnh …
Nhóm hộ khá họ chi cho sản xuất lương thực không cao lắm, trung
Nhóm hộ Lúa Ngô Sắn Tổng chi
Tổng
chi/hộ
Khá 453870 38454.5 25640 517964.5 5452.3
Cận Ngèo 44798 2730 1710 49238 6154.8
Nghèo 64639 6796.3 6830 78265.3 2445.8
21
bình/hộ là 54,52 triệu đồng đáp ứng yêu cầu của cây trồng nên đạt hiệu
quả cao. Nhóm hộ nghèo chi cho sản xuất lương thực ít chỉ bằng 50% so
với hộ khá nên không đủ đáp ứng cho yêu cầu của cây trồng nên kết quả
sản xuất không cao, dẫn đến thu nhập sẽ giảm. Điều này là do họ không
có đủ vốn để đầu tư cho sản xuất.
o Tình hình vay vốn của các hộ.
Vốn là yếu tố quan trọng cho sản xuất các các hộ nông dân, phát
triển kinh tế hàng hóa, trong nông nghiệp vốn là yếu quyết định đến hiểu
quả sản xuất. Các hộ nông dân ở vùng núi, vùng sâu, vùng xa thường sản
xuất theo phương thức tự cung tự cấp.Trong thực tế ở nông thôn nói
chung và ở xã Hòa Sơn nói riêng đang tồn tại một vấn vấn đề là thiếu
vốn. Để biết tình hình vay vốn của các hộ ta theo dõi bảng sau:
Bảng 3.2.2.5. Tình hình vay vốn của các hộ
Mẫu điều
tra 135 hộ
Đơn vị tính: 1.000 đồng
Khá 65 67.71 68.42 14157.89
Cận

để tập huấn kỹ thuật cho nông dân bằng các hình thức như xây dựng
mô hình thử nghiệm các loại giống lúa lai mới trên ruộng đất của
nông hộ. Đó cũng là mong muốn của bà con nông dân ở nơi đây, đặc
biệt là đối với những hộ còn khó khăn nên sản xuất còn lạc hậu và
mang tính truyền thống nhiều ên năng suất không cao.
- Bố trí lại các loại cây trồng cho hợp lý, tập trung nghiên cứu các
loại
cây trồng thích hợp với đất đai và khí hậu nơi đây, chuyển đổi sang
các loại gống lai thời gian ngắn nhưng cho năng suất cao và chất
lượng nâng cao hiểu quả sản xuất của người dân nơi đây.
Cần đánh giá những thuận lợi và khó khăn của nông họ trong sản
xuất lương thực chính là xem cá yếu tố ảnh hưởng đến sản xuất của
nông hộ bị ảnh hưởng bởi gì, mức đọ ra sao

đáp ứng mục tiêu là
phân tích thuận lợi và khó khăn của các nhóm hộ

giải pháp cho
từng nhóm hộ sẽ chính xác
 Những Đề Xuất Giải Pháp Để Phát Triển Sản
Xuất Lương Thực Tại Xã Hòa Sơn.
 Giải pháp về vốn
Qua quá trình tìm hiểu, điều tra và nghiên cứu 135 hộ ở 4 thôn tại
xã Hòa Sơn thì người dân cho biết họ đã được ngân hàng chính sách nhà
nước cũng như ngân hàng nông nghiệp tạo điều kiện cho vay vốn để đầu
tư cho sản xuất nông nghiệp nói chung và sản xuất lương thực nói riêng.
Nhưng thưc tế là số lượng người vay vốn chính sách nhà nước rất ít chủ
yếu là hộ nghèo hoặc hộ năm trong diện chính sách, lượng vốn mỗi hộ
vay còn hạn chế không đủ để đầu tư phải vay các nguồn khác như ngân
hàng nông nghiệp và tư nhân ngoài. Vay ngân hàng nông nghiệp người

tư cho sản xuất ở mức đạt hiểu quả kinh tế cao nhất, áp dụng các biện
25


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status