Tiểu luận: Tình hình sản xuất lương thực của nông dân tại xã Hòa Sơn - Pdf 25

1
PHẦN THỨ NHẤT
MỞ ĐẦU
1.1. Đặt Vấn Đề
Đảm bảo lương thực đang là một vấn đề mang tính toàn cầu. Theo thống kê vào
năm 2050 thế giới sẽ có hơn 9 tỷ người sinh sống, câu hỏi đặt ra là tìm đâu ra sản
lượng lương thực cung cấp để nuôi sống đủ mọi người?
Việt Nam có nền sản xuất nông nghiệp lâu đời đóng vai trò quan trọng là nền tảng
vững chắc cho công cuộc phát triển của đất nước, 60% dân số làm nông nghiệp đóng
góp 20,6% GDP năm 2010 giá trị xuất nhập khẩu 19,15 tỷ USD. Chiến lược phát triển
nông nghiệp nông thôn Việt Nam 2011-2020 (MARD QĐ số 3310/BNN-KH ngày
12/10/2009) đối với ngành sản xuất lương thưc là “Phát triển sản xuất lúa gạo Việt
Nam trở thành mặt hàng xuất khẩu mũi nhọn có hiệu quả và đảm bảo an ninh lương
thực.” Trên cơ sở tính toán cân đối giữa nhu cầu tương lai của đất nước và dự báo nhu
cầu chung của thế giới nhằm đảm bảo tuyệt đối an ninh lương thực quốc gia trong mọi
tình huống, đảm bảo quyền lợi hợp lý của người sản xuất và kinh doanh lúa gạo và
xuất khẩu có lợi nhuận cao, đảm bảo sản lượng lúa đến năm 2020 đạt hơn 41 triệu tấn
lúa trên diện tích canh tác 3,7 triệu ha.
Sản xuất lương thực là ngành quan trọng nhất của nông nghiệp Việt Nam, không
những đủ cho nhu cầu trong nước mà còn có khối lượng lớn cho xuất khẩu. Tuy nhiên
để đảm bảo được an ninh lương thực ở cấp hộ gia đình trên phạm vi cả nước vẫn đang
còn là một vấn đề lớn, đặc biệt ở miền núi phía Bắc và Tây Nguyên: Cần nói rõ vai
trò của lương thực hơn nữa để thấy lương thục và sản xuất ra lương thục đảm bảo an
ninh luong thực là rất cần thiết và tại sao nó lại là vấn đề quan trọng tại hòa sơn
Xã Hòa Sơn, huyện Krông Bông, tỉnh Đak Lak, nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới
gió mùa nhưng bị phân hóa do sát dãy núi ChưyangSin. Sản xuất nông nghiệp là hoạt
động chủ yếu của nông dân nhưng mang tính thời vụ và còn manh mún, nhỏ lẻ, sử
dụng công cụ thô sơ chưa có điều kiện đưa máy móc hiện đại vào sản xuất, việc áp
dụng khoa học – kỹ thuật chưa phổ biến nên năng suất cây trồng còn thấp. Đất đai
không thích hợp cho việc phát triển các loại cây công nghiệp dài ngày như cà phê,cao
su,hồ tiêu, điều… chỉ thích hợp việc phát triển cây lương thực nhất là trồng cây lúa

Việt Nam không những đủ cho nhu cầu trong nước mà còn có khối lượng lớn cho xuất
khẩu. Bình quân lương thực đầu người tăng từ 445 kg năm 2000 lên 501 kg năm 2008.
Việt Nam đã trở thành nước xuất khẩu gạo và các sản phẩm sắn (tinh bột sắn và sắn
lát) đứng thứ hai trên thế giới sau một thời gian dài thiếu lương thực.
2.1.1. Khái niệm về lương thực và cây lương thực
- Lương thực là những sản phẩm nông nghiệp nuôi sống con người
Cây lương thực là các loại cây trồng mà sản phẩm dùng làm lương thực cho
người, nguồn cung cấp chính về năng lượng và chất bột cacbohydrat trong khẩu
phần thức ăn cho toàn dân số trên thế giới.
Lúa là cây lương thực quan trọng nhất, chiếm diện tích gieo trồng lớn nhất.
Cây lương thực quan trọng thứ hai là ngô đang có xu hướng tăng ở Đồng bằng
sông Hồng, Đồng bằng sông Cửu Long, Tây Nguyên và Duyên hải miền Trung.
Cây lương thực quan trọng thứ ba là cây sắn đang có xu hướng tăng ở vùng Đông
Nam Bộ, Tây Nguyên, vùng núi và trung du Bắc Bộ. Cây lương thực quan trọng
thứ tư là khoai lang có xu hướng giảm ở hầu hết các vùng. Những cây lương thực,
thực phẩm lấy củ và lấy hạt khác (như khoai tây, khoai môn, khoai mỡ, dong riềng,
hoàng tinh cao lương, lúa mì, lúa miến, lúa mạch) chiếm tỷ trọng không nhiều.
2.1.2 Khái niệm Hộ và hộ nông dân
 Khái niệm về hộ
Có rất nhiều khái niệm về hộ được đưa ra:
Theo Martin (1988) thì hộ là đơn vị cơ bản liên quan đến sản xuất, tái sản
xuất, đến tiêu dùng và các hoạt động xã hội khác.
Theo Harris, ở viện nghiên cứu phát triển trường Đại học tổng hợp Susex (Lon
Don- Anh) cho rằng: “ Hộ là một đơn vị tự nhiên tạo nguồn lao động”
4
Theo Raul Iturna, giáo sư trường đại học tổng hợp Liôbon khi nghiên cứu
cộng đồng nông dân trong quá trình quá độ ở một số nước châu Á đã chứng minh
“Hộ là một tập hợp những người cùng chung huyết tộc có quan hệ mật thiết với nhau
trong quá trình sáng tạo ra vật phẩm để bảo tồn chính bản thân họ và cộng đồng”
Qua các quan điểm khác nhau về khái niệm hộ trên, có thể rút ra một số đặc

nông dân trong sản xuất nông nghiệp.
- Nguồn vốn sản xuất:
+ Vốn là tư liệu sản xuất của quá trình tái sản xuất kinh tế hộ. Đại bộ phận
hộ nông dân có khả năng tích luy tập trung vốn rất thấp. Tích lũy vốn không
phải trên một nền nông nghiệp thặng dư, sự tích lũy còn do sự chắt góp của
nông dân. Tình trạng vay nặng lãi vẫn còn khá phổ biến ở nông thôn.
+ Hệ thống công cụ vẫn còn mang tính truyền thống và là nguồn vốn cố
định của hộ nông dân, nó còn thể hiện trình độ phát triển của lực lượng sản
xuất nông nghiệp.
+ Kỹ thuật canh tác: Nhìn chung kỹ thuật canh tác của nông dân vẫn còn
mang nặng tính chất truyền thống.
+ Môi trường sản xuất: Các thị trường vốn, lao động tự nhiên sản xuất chậm
và kém phát triển ảnh hưởng đến đầu ra của sản phẩm nông nghiệp.
- Thu nhập: Chủ yếu phụ thuộc vào kết quả sản xuất, nó quy định mức sống,
khả năng tiêu dung, tích lũy, tái sản xuất của hộ nông dân. Cơ cấu sản xuất
quyết định cơ cấu thu nhập của hộ nông dân.
2.2. Phương Pháp Nghiên Cứu
2.2.1 Phương pháp thu thập số liệu
- Thu thập số liệu thứ cấp
Số liệu thứ cấp bao gồm:
- Các báo cáo tổng quan về điều kiện tự nhiên – kinh tế - xã hội
- Báo cáo về thực trạng phát triển kinh tế - xã hội và kế hoạch phát
triển kinh tế - xã hội
- Báo cáo về tình hình sử dụng đất đai
6
- Các tài liệu khác có liên quan
Được thu thập từ UBND xã Hòa Sơn, huyện Krông Bông, tỉnh ĐakLak.
- Thu thập số liệu sơ cấp:
+ Phỏng vấn trực tiếp nông hộ.
+ Từ số liệu năm băt tổng hợp: là gì cần nói cụ thể hơn

Số mẫu được chọn là 120 hộ thuộc xã Hòa Sơn, huyện Krông Bông, tỉnh ĐăkLăk.
2.1.3 Phương pháp tổng hợp và xử lý số liệu
- Số liệu được tổng hợp và xử lý bằng phần mềm Excel.
- Phương pháp thống kê mô tả.
2.1.4 Phương pháp phân tích
- Từ số liệu thu thập được nhận xét, đánh giá tình hình.
- So sánh các kết quả đó.
2.1.5 Hệ thống các chỉ tiêu nghiên cứu
- Thu nhập bình quân /hộ = Tổng thu nhập của các hộ/ Tổng số hộ
- Bình quân lao động /hộ = Tổng số lao động của các hộ/ Tổng các hộ
- Tổng diện tích bình quân/hộ = Tổng diện tích của các hộ/ Tông số hộ
- Năng suất (tấn/ha)= Tổng sản lượng/ Tổng diện tích
8
PHẦN THỨ BA
ĐẶC ĐIỂM ĐỊA BÀN VÀ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
3.1. Đặc Điểm Địa Bàn Nghiên Cứu
3.1.1. Điều kiện tự nhiên
3.1.1.1. Vị trí địa lý
Xã Hòa Sơn nằm trên tỉnh lộ 12 và thuộc Huyện Krông Bông cách trung tâm
Huyện Krông Bông khoảng 4 km về phía Đông.
- Phía Đông: giáp thị trấn Krông Kmar.
- Phía Tây: giáp xã Ea Trul.
- Phía Nam: giáp dãy núi Cư Yang Sin
- Phía Bắc: giáp xã Khuê Ngọc Điền, Xã Hòa Tân.
Tổng diện tích toàn xã là 5.369 ha (số liệu kiểm kê ĐĐ 2010).
3.1.1.2 Điều kiện khí hậu
Xã Hòa Sơn có đặc điểm khí hậu nhiệt đới gió mùa, nhưng do sự nâng lên
của địa hình ở độ cao trung bình từ 245 - 260 mét (so với mặt nước biển) nên có
đặc điểm rất đặc trưng của chế khí hậu nhiệt đới gió mùa cao nguyên. Về đặc điểm
khí hậu thuỷ văn khu vực này có một số khác biệt so với khu vực khác như sau:

tích tự nhiên. Nhìn chung, địa hình thuận lợi cho việc phát triển kinh tế nông - lâm
nghiệp. Rất thích hợp cho các loại cây Lúa và công nghiệp dài ngày phát triển: cây
điều, cà phê .v.v
3.1.2. Các nguồn tài nguyên
3.1.2.1. Nguồn nước, thuỷ văn
Hệ thống sông suối, chảy trên địa bàn xã phân bố tương đối đồng đều, mật
độ sông suối là 0,35-055km/m². Có sông chính (sông Krông Ana) là ranh giới tự
nhiên phía Bắc giữa Hòa Sơn và xã Hòa Tân, chảy theo hướng Đông Nam-Tây
Bắc. Lưu lượng nước của các suối đều chịu ảnh hưởng theo mùa.
- Mùa mưa: 450 - 500 m³/s, nước lớn, dâng nhanh, dòng chảy mạnh.
- Mùa khô: 2,7 m³/s, lưu lượng rút nhanh, lượng nước giảm đáng kể, một số
các suối nhỏ hầu như cạn kiệt nước.
3.1.2.2. Tài nguyên đất
Trên địa bàn xã có những nhóm đất chính với diện tích và tỷ lệ từng loại đất
như sau:
* Nhóm đất phù sa: Diện tích 1.465 ha, chiếm tỷ lệ 27,29% diện tích tự nhiên
toàn xã, phân bổ tập trung ở khu vực thung lũng ven sông thuộc phía Bắc của xã.
Đất được bồi đắp hàng năm do bị ngập lụt nên khá phì nhiêu. Hiện nay đất phù sa
đang được sử dụng vào trồng lúa 2 vụ và hoa màu ,cây công nghiệp ngắn ngày.
* Nhóm đất xám rẫy: Diện tích 1.215,5 ha, chiếm tỷ lệ 22,56%. Phân bố ở
khu vực phía Đông Bắc của Xã. Hiên nay đang được khai thác để trồng cà phê,
tiêu, điều, sắn
10
* Nhóm Đất đỏ vàng trên đấ phiến sét: chiếm 14,17%, phân bố ở khu vực
phía tây của xã.
* Nhóm đất vàng nhạt trên đá granit (Fa,Ha) chiếm 18,52%; phân bổ tập
trung ở khu vực nữa xã, phía Đông. Đất có tầng dày <30cm, thành phần cơ giới từ
thịt nặng đến sét, khả năng giữ ẩm kém, có đá lẫn.
* Nhóm đất khác: Bao gồm các loại đất lầy thụt và đất dốc tụ, phân bổ dưới các
khe suối hợp thủy. Loại đất này có độ phì khá cao, giàu mùn, khả năng giữ ẩm rất

Số hộ
Số
khẩu
1 Thôn 1 164 794 168 782 178 816
2 Thôn 2 271 1436 121 630 121 622
3 Thôn 3 215 1102 138 711 140 703
4 Thôn 4 133 701 135 709 141 720
5 Thôn 5 75 411 75 386 76 407
6 Thôn 6 146 737 158 711 168 791
7 Thôn 7 169 844 163 821 174 824
8 Thôn 8 185 996 192 857 205 894
9 Thôn 9 121 592 121 613 134 613
10 Thôn 10 260 1235 149 674 161 721
11 Buôn Ja 117 661 124 687 131 725
12
Thôn Thanh Phú Chưa thành lập 134 681 142 732
13 Thôn Tân Sơn Chưa thành lập 40 166 43 181
14 Thôn Quảng Đông Chưa thành lập 109 573 115 550
15 Thôn Hòa Xuân Chưa thành lập 113 565 115 568
Tổng cộng 1856 9.509 1.940 9.566 2044 9867
(Nguồn: Báo cáo UBND xã)
3.1.3.2. Tình hình phân bổ và sử dụng đất trên địa bàn
Căn cứ vào kết quả điều tra trên địa bàn xã cũng như kế hoạch sử dụng đất
đến 2010, tình hình phân bổ và sử dụng đất như sau:
Tổng diện tích đất nông nghiệp là 4.581,69 ha chiếm 85,04% tổng diện tích
tự nhiên. Đất phi nông nghiệp là 303,02 ha chiếm 5,62%, đất chưa sử dụng là 503,29
chiếm 9,34%.
12
Bảng 3.1.3.2: Tình hình phân bổ và sử dụng đất trên địa bàn xã
Chỉ tiêu Ký hiệu

trị sản xuất nông nghiệp của xã. Đặc biệt là trong mấy năm nay do dịch bệnh và
kèm theo đó là giá thịt hơi của gia súc gia cầm giảm (cho đến cuối năm 2006 giá
thịt lợn hơi và thịt gà mới tăng trở lại) nên giá trị sản xuất ngành chăn nuôi đã
giảm một cách đáng kể. Trồng trọt cho đến nay vẫn là ngành sản xuất chính trong nền
kinh tế của xã, trong ba năm diện tích gieo trồng có tăng 134ha với tốc độ tăng không
đáng kể.
Cây hàng năm: Có thể nói nhóm cây này là thế mạnh của địa phương, luôn
chiếm tỷ lệ cao trong tổng diện tích gieo trồng (>60%).
Cây lúa: Trên địa bàn xã phần diện tích gieo trồng lúa chủ yếu là cây lúa
nước, chủ yếu là lúa vụ Mùa còn vụ Đông Xuân là không đáng kể (cả về mặt diện
tích và sản lượng)
Cây ngô: Là yếu tố cơ bản trong việc tăng sản lượng lương thực hàng năm
của xã. Hầu hết diện tích là ngô lai được đầu tư phát triển cả hai vụ hoặc một vụ
trồng ngô, một vụ trồng đậu.
Nhóm cây có củ (khoai, đậu xanh và rau xanh) trong cơ cấu cây trồng của nhóm
cây hàng năm thì tăng lên (2009) tăng 25% đối với khoai, đậu xanh tăng 7,14% và
rau xanh là 12,94% còn giảm xuống 20% (2008) với khoai, đậu xanh là giảm
xuống 12,5% và rau xanh giảm 10,53%. Còn cây lúa, sắn thì diện tích không thay
đổi qua 3 năm.
Cây công nghiệp ngắn ngày (lạc, mía, DT Trồng cỏ): Có tăng lên năm
2008 nhưng đều giảm xuống vào năm 2009. Do đất trồng màu đã bị thu hẹp dần do
chuyển mục đích sử dụng đất, và một điều quan trọng nữa là các loại cây trồng này
không mang lại hiệu quả kinh tế cao bằng các nhóm cây khác do đất đai ít phù hợp
cho việc trồng màu.
Cây lâu năm: Nhìn chung cây cà phê có tăng lên trong năm 2008, 2009
khoảng 54%, cây điều giảm diện tích xuống để chuyển đổi mục đích sử dụng năm
2009 giảm 55,59%.
14
Bảng 3.1.3.3: Cơ cấu cây trồng trên địa bàn xã
ĐVT: ha

rải nhựa và thuận tiện cho việc đi lại giao thương đi lại với các xã, thuận tiện cho
việc đi lại và vận chuyển hàng hóa. Tuy nhiên, phần lớn các tuyến giao thông
15
trong khu dân cư, giao thông nội đồng là đường đất hẹp, gặp khó khăn cho việc đi
lại vận chuyển nông sản, hàng hóa nhất là vào mùa mưa.
* Hệ thống thủy lợi: Năm 2009 Xã Hòa Sơn đã được nhà nước đầu tư đang thi
công bê tông hóa tuyến kênh N1, đã góp phần rất lớn giúp người dân trên địa bàn
Xã Hòa Sơn nói riêng và cả Huyện Krông Bông nói chung cung cấp được lượng
nước cho đồng ruộng vào mùa khô và thoát nước nhanh chóng khi mùa lũ tràn về.
Theo Báo cáo tổng kết UBND Xã Hòa Sơn năm 2008, diện tích được tưới
theo kế hoạch năm 2008là 2.166 ha, đến năm 2009 diện tích được tưới 2.170ha.
3.2. Kết Quả Nghiên Cứu
3.2.1. Tình hình dân số. lao động và nhân khẩu ăn theo.
Bảng 3.2.1. Tình hình dân số. lao động và nhân khẩu ăn theo.
Mẫu điều tra 135 hộ đã nới rong pương
pháp điều tra
Nhóm hộ
Tỉ lệ
Số
khẩu
(người
)
Tỉ lệ
BQ/Hộ
Lao
động
chính
(LĐ)
BQ lao
động

hộ cận nghèo. Bình quân mỗi một hộ có số nhân khẩu là 4.88 người, lao động
hính bình quân của nhóm hộ này là 3.06 người, tỉ lệ phụ thuộc thấp 32.09%.
Như vậy, nhóm hộ cân nghèo bình quân cứ một người phải nuôi 1.66 người,
hộ nghèo phải nuôi 1.5 người, vì lao động có thu nhập ít trong khi đó phải nuôi
nhiều người thì khó khăn trong đời sống sinh hoạt cũng như trong sản xuất. Do
đó, trong những lĩnh vực sản xuất lương thực thì cây trồng sẽ bị thiếu các yếu tố
đầu tư cư bản dẫn đến năng suất và kết quả không cao. Còn trong lĩnh vực sinh
hoạt thì đời sống thiếu thốn, hộ không đủ điều kiện cung cấp nguồn dinh dưỡng
cần thiết trong bữa ăn gia đình nhất là các hộ trong buôn.
3.2.2. Tình hình sản xuất lương thực
3.2.2.1. Tình hình sử dụng đất trồng cây lương thực.
17
Bảng 3.2.2.1: Tình hình sử dụng đất trồng cây lương thực.
Mẫu điều tra 135 hộ
Chỉ tiêu
Cây Trồng
Khá Cận nghèo Nghèo
DT (ha) Tỉ lệ %
DT
(ha)
Tỉ lệ % DT (ha) Tỉ lệ %
Lúa 28.2 60.71 2.15 48.31 4.91 55.73
Ngô 7.2 15.50 0.9 20.23 1.8 20.43
Sắn 11.05 23.79 1.4 31.46 2.1 23.84
Tổng 46.45 100 4.45 100 8.81 100
Nguồn: Tổng hợp từ phiếu điều tra
Qua bảng 3.2.2.1. cho ta thấy:
Việc phân bổ đất trồng để sản xuất lương thực của các nhóm hộ không đồng
đều, chủ yếu đất được các hộ dùng trồng lúa là nhiều nhất, đất trồng sắn và ngô chỉ
chiếm một lượng nhỏ.

(tấn)
Năng suất BQ(tấn/ha)
Hộ Khá
Hộ Cận
Nghèo
Hộ Nghèo
Lúa 35.26 59.03 252.651 7.94 6.28 3.52
Ngô 9.9 16.56 42.95 3.93 5.00 4.08
Sắn 14.6 24.41 187.08 15.19 3.32 6.95
Tổng 59.8 100 482.681
Nguồn: Tổng hợp từ phiếu điều tra
Qua nghiên cứu 135 hộ ta thấy cơ cấu sản xuất lương thực của người dân là
không trồng cây khoai lang chỉ trồng ba loại cây lúa, ngô, sắn là chính. Năng suất
lúa của hộ khá là rất cao 7.94 tấn/ha cao hơn rất nhiều so với các năm trước và mặt
bằng chung của toàn xã 6.5 tấn/ha, năng suất lúa của hộ cận nghèo cũng đạt chỉ có
năng suất lúa của hộ nghèo là thấp 3.52 tấn/ha chủ yếu là các hộ đồng bào dân tộc
êđê, m’nông sản xuất lúa rẫy.
Nhìn chung thì năng suất của ngô và sắn còn rất thấp do đất trồng xấu và
vốn đầu tư cho ản xuất chưa cao. Đời sống của người dân phụ thuộc nhiều vào thu
nhập từ sản xuất lương thực, khi năng suất thấp chỉ đủ bù đắp cho chi phí sản xuất,
chưa có dư thừa để tích lũy sản xuất. Mặt khác do điều kiện thời tiết không thuận
19
lợi và sâu bệnh nên ảnh hưởng lớn đến năng suất cây trồng. Vì vậy, cần có những
chính sách hộ trở vốn để tái sản suất, nhất là các nhóm hộ cận ngèo và hộ nghèo
thiếu tư liệu sản suất.
Tất cả các bảng thể hiện là tổng số hô điều tra là q 135 hộ nên không cần
ghi như thế nhìn khoog khoa học
3.2.2.3. Tình hình thu nhập từ trồng cây lương thực.
Sản xuất lương thực là nguồn thu nhập chính của người dân ở đây,
việc canh tác hợp lý sẽ nâng cao được năng suất, nâng cao được thu nhập và

3.2.2.4. Tình hình chi phí cho sản xuất lương thực.
Bảng 3.2.2.4. Tình hình chi phí cho sản xuất lương thực.
Mẫu điều tra 135 hộ
Đơn vị tính: 1.000 đồng
Nguồn: Tổng hợp từ phiếu điều tra
Từ bảng trên ta thấy tổng chi cho sản xuất lương thực/hộ của nhóm hộ cận
nghèo là 61,54 triệu đồng, chênh lệch nhiều so với nhóm hộ nghèo 24,45 triệu
đồng nhưng thu nhập thấp, nguyên nhân là do các hộ cận nghèo đầu tư nhiều cho
sản xuất lương thực nhưng chưa hiệu quả hoặc gặp rủi ro trong sản xuất như thiên
tai, dịch bệnh …
Nhóm hộ Lúa Ngô Sắn Tổng chi
Tổng
chi/hộ
Khá 453870 38454.5 25640 517964.5 5452.3
Cận Ngèo 44798 2730 1710 49238 6154.8
Nghèo 64639 6796.3 6830 78265.3 2445.8
21
Nhóm hộ khá họ chi cho sản xuất lương thực không cao lắm, trung bình/hộ
là 54,52 triệu đồng đáp ứng yêu cầu của cây trồng nên đạt hiệu quả cao. Nhóm hộ
nghèo chi cho sản xuất lương thực ít chỉ bằng 50% so với hộ khá nên không đủ
đáp ứng cho yêu cầu của cây trồng nên kết quả sản xuất không cao, dẫn đến thu
nhập sẽ giảm. Điều này là do họ không có đủ vốn để đầu tư cho sản xuất.
3.2.2.5. Tình hình vay vốn của các hộ.
Vốn là yếu tố quan trọng cho sản xuất các các hộ nông dân, phát triển kinh
tế hàng hóa, trong nông nghiệp vốn là yếu quyết định đến hiểu quả sản xuất. Các
hộ nông dân ở vùng núi, vùng sâu, vùng xa thường sản xuất theo phương thức tự
cung tự cấp.Trong thực tế ở nông thôn nói chung và ở xã Hòa Sơn nói riêng đang
tồn tại một vấn vấn đề là thiếu vốn. Để biết tình hình vay vốn của các hộ ta theo
dõi bảng sau:
Bảng 3.2.2.5. Tình hình vay vốn của các hộ

dùng hằng ngày nữa nên hiệu quả sản xuất không cao, việc phát triển kinh tế gặp
rất nhiều khó khăn.
3.2.3. Hoạt động khuyến nông
Chương trình khuyến nông là một vấn đề rất quan trọng và cần thiết đối với
người dân lao động trong sản xuất nông ngiệp nói chung và sản xuất lương thực tại
xã nói riêng. Thực tế cho thấy tại xã đã mở nhiều lớp tập huấn về chăn nuôi và
trồng trọt cho người dân và nó đã mang lại hiểu quả rất cao trong sản xuất. Tuy
vậy vấn còn hiều bất cập và khó khăn xãy ra là người dân chưa nhận rõ được tầm
quan trọng của các lớp khuyến nông và bận rộn với công việc mùa vụ nên số lượng
tham gia còn ít,mỗi lần tập huấn các thôn buôn phải cử người đại diện đi nên vấn
đề truyền lại những kiến thức tiếp thu được cũng rất khó thực hiện. Để hoạt động
có hiệu quả phải có những chương trình khuyến nông như sau:
- Đưa đội ngũ khuyến nông xuống hướng dẫn trực tiếp cho người dân
để tập huấn kỹ thuật cho nông dân bằng các hình thức như xây dựng mô hình
thử nghiệm các loại giống lúa lai mới trên ruộng đất của nông hộ. Đó cũng là
mong muốn của bà con nông dân ở nơi đây, đặc biệt là đối với những hộ còn
khó khăn nên sản xuất còn lạc hậu và mang tính truyền thống nhiều ên năng
suất không cao.
- Bố trí lại các loại cây trồng cho hợp lý, tập trung nghiên cứu các loại
cây trồng thích hợp với đất đai và khí hậu nơi đây, chuyển đổi sang các loại
gống lai thời gian ngắn nhưng cho năng suất cao và chất lượng nâng cao hiểu
quả sản xuất của người dân nơi đây.
23
Cần đánh giá những thuận lợi và khó khăn của nông họ trong sản xuất lương
thực chính là xem cá yếu tố ảnh hưởng đến sản xuất của nông hộ bị ảnh hưởng
bởi gì, mức đọ ra sao

đáp ứng mục tiêu là phân tích thuận lợi và khó khăn
của các nhóm hộ


suất cao và chất lượng tốt vào sản xuất.
- Thực hiện chuyển đổi cơ cấu mùa vụ đối với sản xuất lúa, gieo cấy sớm
nhằm tranh thủ nguồn nước lúc đầu vụ từ các kênh mương thủy lợi.
- Áp dụng biệ pháp thâm canh tối ưu về giống, phân bón…xử lý sau thu
hoạch và các biện pháp kỹ thuật khác để đạt hiểu quả cao ở mức bền vững.
- Vận động người dân không nên phá bỏ cây công nghiệp dài ngày để trồng
sắn vì trồng sắn lâu sẽ làm cho đất bị bạc màu, tiếp tục đầu tư cho sản xuất ở
mức đạt hiểu quả kinh tế cao nhất, áp dụng các biện pháp kỹ thuật để giảm chi
phí đầu tư, sử dụng phương pháp thu hoạch để tăng giá trị sản phẩm bán ra.
- Chăm sóc cây trồng đầy đủ phân bón, nước…sử dụng các loại phân hữu cơ
để cải tạo đất tốt hơn.
3.3.3. Khắc phục sự tác động của các yếu tố tự nhiên ảnh hưởng đến
sản xuất lương thực.
Tình hình khí hậu thời tiết thất thường là mối đe dọa lứn đối với sản xuất
lương thực của bà con nông dân. Đặc điểm khí hậu của vùng Tây Nguyên nói
chung và xã Hòa Sơn nói riêng là hai mùa rõ rệt: Mùa mưa từ cuối tháng 4 đến đầu
tháng 12, mùa khô từ cuối tháng 12 đến giữa tháng 4 năm sau, nên :
- Chính quyền địa phương cần có biện pháp chỉ đạo gieo cấy sớm để tranh
thủ nguồn nước, đồng thời phải gieo cấy tập trung, sử dụng các giống ngắn
ngày nhằm tránh xãy ra hạn hán vào cuối vụ.
- Xây dựng cơ sở hạ tầng đặc biệt là hoàn thiện hệ thống kênh mương toàn xã
và hệ thống truc đường chính ở thôn 7 để cung cấp nước kịp thời, tiêu thụ hàng
hóa dễ dàng giúp cho người dân chủ động hơn và sản xuất được tốt hơn.
3.3.4. Một số giải pháp khác
25
Ngoài các giải pháp trình bày trên, còn có một số giải pháp khác để nhằm
nâng cao đời sống của người dân cần:
- Đa dạng hóa cây trồng bằng cách trồng nhiều loại cây lương thực trên diện
tích đang có để tránh những rủi ro do thị trường đem lại như giá cả các loại
biến đổi.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status