Nghiên cứu thực trạng tình hình sản xuất kinh doanh của các trang trại - Pdf 68

1 Download::

thùc tr¹ng t×nh h×nh s¶n xuÊt
kinh doanh cña c¸c trang tr¹i.

2 Download::

GIÔÙI THIEÄU VEÀ TAØI LIEÄU

Tài liệu bạn đang xem được download từ website WWW.AGRIVIET.COMWWW.MAUTHOIGIAN.ORG »Agriviet.com là website chuyên đề về nông nghiệp nơi liên kết mọi thành viên
hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp, chúng tôi thường xuyên tổng hợp tài liệu về tất cả
các lĩnh vực có liên quan đến nông nghiệp để chia sẽ cùng tất cả mọi người. Nếu tài liệu
bạn cần không tìm thấy trong website xin vui lòng gửi yêu cầu về ban biên tập website để
chúng tôi cố gắng bổ sung trong thời gian sớm nhất.
»Chúng tôi xin chân thành cám ơn các bạn thành viên đã g
ửi tài liệu về cho chúng tôi.

lớn, đóng góp một lợng giá trị hàng hoá đáng kể cho nền kinh tế quốc dân và đợc coi là
nhân tố mới thúc đẩy mạnh mẽ sự phát triển sản xuất Nông - Lâm Nghiệp.
Thành công của kinh tế trang trại đã khẳng định đợc hớng đi đúng đắn cho sự
phát triển kinh tế nông thôn miền núi theo hớng công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất
nớc. Trang trại ở nớc ta hiện nay đang phát triển khá nhanh trên phạm vi toàn quốc.
Theo báo cáo của Bộ nông nghiệp và phát triển nông thôn, tính đến ngày 01 tháng 10
năm 2002, cả nớc đã có 60.758 trang trại lâm nghiệp, trong đó có 1.630 trang trại lâm
nghiệp , chủ yếu là trang trại hộ gia đình nông dân , còn lại là các thành phần kinh tế
khác.
Nguồn gốc của trang trại cũng rất phong phú, đa dạng . Hầu hết các trang trại
đều phát huy đợc tiềm năng và lợi thế của vùng, địa phơng thu hút đợc một lợng
vốn, lao động khá lớn nhàn rỗi ở nông thôn tham gia vào sản xuất kinh doanh tổng hợp,
lấy ngắn nuôi dài, góp phần xoá đói giảm nghèo và làm giàu chính đáng cho một bộ
phận nông dân.
Kinh tế trang trại ở nớc ta mới phát triển trong những năm gần đây. Song vị trí,
vai trò tích cực và quan trọng của nó đã thể hiện rõ nét kể cả về mặt kinh tế, xã hội và
môi trờng.
Nhận thức rõ đợc những vấn đề đó, Đảng và Nhà nớc đã có nhiều chủ trơng,
chính sách và các giải pháp. Nhằm khuyến khích phát triển kinh tế trang trại mà cụ thể
hoá bằng việc ban hành các Bộ luật và các văn bản pháp quy dới luật nh: Nghị quyết,
Nghị định, Thông t hớng dẫn...
Đáng chú ý nhất là nghị quyết số 03/2000/NQ-CP ngày 02 tháng 02 năm 2000
của Chính Phủ về phát triển kinh tế trang trại.
4 Download::

Tuy nhiên trong quá trình hình thành và phát triển kinh tế trang trại còn bộc lộ
những hạn chế cần đợc nghiên cứu bổ sung, để kịp thời giải quyết những vấn đề còn
vớng mắc trong thực tế sản xuất kinh doanh.
Phần lớn các chủ trang trại tổ chức quản lý theo kinh nghiệm, họ thiếu những
kiến thức về khoa học kỹ thuật, quản lý, kinh doanh và thị trờng. Đầu t sản xuất theo

Trang trại kinh tế gia đình là loại hình sản xuất Nông - Lâm - Ng nghiệp của hộ
gia đình đợc hình thành và phát triển. nhất là từ khi phơng thức sản xuất t bản thay
thế phơng thức sản xuất phong kiến, khi nền kinh tế tự cung, tự cấp bắt đầu chuyển
sang nền kinh tế hàng hóa và kinh tế thị trờng mà khởi đầu là cuộc cách mạng công
nghiệp lần thứ nhất ở các nớc Tây Âu nh: Anh, Pháp và tiếp tục cho đến nay [22,8].
Từ cuối thế kỷ XVII Vơng quốc Anh là một trong những nớc thực hiện cuộc
cách mạng công nghiệp hóa sớm nhất thế giới, xuất phát từ đặc điểm của sản xuất công
nghiệp là sản xuất tập trung quy mô lớn nên họ cho rằng: Trong nền kinh tế hàng hóa t
bản chủ nghĩa, nông nghiệp cũng phải xây dựng thành các xí nghiệp tập trung với diện
tích và quy mô sản xuất lớn nh mô hình của các xí nghiệp sản xuất công nghiệp.
Do đó trong thời gian này chủ trơng đẩy mạnh quá trình tập trung tích tụ ruộng
đất, xây dựng các xí nghiệp nông nghiệp t bản với quy mô lớn làm phá sản các trang
trại gia đình nhỏ lẻ, phân tán.
Những ngời đi theo khuynh hớng này rất tin tởng là mô hình mới sẽ tạo ra
lợng hàng hóa nông sản lớn, giá rẻ hơn hàng sản xuất của các gia đình quy mô sản
xuất nhỏ và phân tán.
Nhng các xí nghiệp Nông-Lâm sản xuất với quy mô lớn, thuê mợn nhiều lao
động đã không thành công nh kết quả mong đợi. Do đặc điểm và đối tợng sản xuất
nông - lâm nghiệp khác với công nghiệp, đó là sự tác động vào các cơ thể sống (vật
nuôi, cây trồng) mang những đặc điểm sinh vật học của các loài rất khác biệt và thể
hiện tính thời vụ sâu sắc, hơn nữa quá trình sản xuất lại phụ thuộc rất nhiều vào thiên
nhiên nh : Điều kiện khí hậu, đất đai...
Vì vậy không phù hợp với hình thức sản xuất tập trung nh ngành công nghiệp.
Việc sử dụng lực lợng lao động lớn là rất lãng phí (do tính thời vụ, tình hình thời tiết)
6 Download::

có ảnh hởng rất lớn đến quá trình sản xuất kinh doanh, dẫn tới hiệu quả kinh tế của xí
nghiệp Nông nghiệp t bản thấp hơn hiệu quả kinh tế của trang trại hộ gia đình quy mô
nhỏ [22,8,9], điều này đã làm mất dần u thế của các trang trại kiểu t bản.
Sản xuất tập trung quy mô lớn đã nhờng lại cho sự phát triển trang trại hộ gia

nớc này phải chịu sức ép của sự gia tăng dân số là rất lớn. nên sự phát triển trang trại
có phần khác biệt về quy mô và số lợng so với các nớc châu Âu và châu Mỹ.
Một số nớc Châu á nh: Nhật Bản, Đài Loan, Hàn Quốc là những quốc gia đi
đầu trong cuộc cách mạng công nghiệp hoá và cũng là những nớc sớm du nhập phơng
thức sản xuất T bản, đã xuất hiện hình thức kinh tế trang trại trong Nông - Lâm
Nghiệp.
Do đặc điểm vùng Đông Bắc á đất chật ngời đông nên diện tích bình quân một
trang trại ở Nhật Bản, Đài Loan và Hàn Quốc chỉ khoảng 1 ha so với diện tích bình
quân trang trại ở các nớc Tây Âu là 20-30 ha và nớc Mỹ là 150-180 ha thì nhỏ hơn
rất nhiều.
Kinh tế trang trại hiện nay đang có xu hớng giảm về số lợng và tăng về diện
tích.
Số lợng trang trại ở Nhật Bản trong những năm qua nh sau :
Năm 1950 có 6.176 trang trại, diện tích bình quân là 0,8 ha, năm 1995 là 5.382
trang trại, diện tích trung bình của mỗi trang trại là 1,5 ha.
Đối với trang trại lâm nghiệp thì khoảng 58% số trang trại có quy mô diện tích
nhỏ hơn 1 ha, 30% trang trại có quy mô từ 1 - 5 ha, số trang trại có diện tích
từ 5-10 ha chiếm 6% và có 0,4% số trang trại có diện tích từ 50 đến 100 ha [9].
Thời kỳ đầu giai đoạn công nghiệp hoá ở Đài Loan (1952-1970) số lợng trang
trại tăng từ 679.750 lên 880.274 và quy mô diện tích bình quân của trang trại giảm từ
1,29 ha xuống còn 1,03 ha.
Giai đoạn công nghiệp ở trình độ cao (1970-1996) số lợng trang trại giảm
xuống còn 779.000 và diện tích trung bình của mỗi trang trại tăng lên 1,2 ha.
Hàn Quốc thời kỳ (1953-1965) số lợng trang trại tăng từ 2.249 lên 2.507 với quy
mô diện tích bình quân một trang trại là 0,9 ha. Thời kỳ (1970 - 1999) số lợng trang trại
giảm xuống còn 1.700 và quy mô diện tích bình quân một trang trại là 1,2 ha.
1.1.2. ở Việt Nam
Lịch sử hình thành và phát triển kinh tế trang trại ở nớc ta đã có từ lâu. Nhất là
ở vùng miền núi, trung du và Tây nam bộ gắn với quá trình khai hoang lấn biển đã có
8 Download::

nhau phụ thuộc vào truyền thống, trình độ canh tác của vùng.
9 Download::

Những năm gần đây trang trại hộ gia đình ở nớc ta phát triển khá mạnh, nhất là
các vùng trung du, miền núi và ven biển kể cả về số lợng, tốc độ và quy mô ngày
càng lớn. Đây thực sự là một quá trình chuyển biến từ lợng sang chất của kinh tế
trang trại hộ gia đình.
Theo báo cáo của bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn, tính đến ngày
1/10/2002, cả nớc đã có 60.758 trang trại, trong đó số trang trại trồng trọt là 38.412
(63,2%), chăn nuôi có 1.762 (2,9%), lâm nghiệp có 1.630 (2,7%), nuôi trồng thủy sản
có 16.951 (27,9%) và kinh doanh tổng hợp có 2.006 (3,3%).
Các trang trại đã sử dụng 369.600 ha đất và mặt nớc, trong đó đất trồng cây
ngắn ngày là 137.700 ha, chiếm 37,3%, đất trồng cây lâu năm là 96.100 ha (26%), đất
lâm nghiệp là 69.300 ha (18,7%), diện tích mặt nớc nuôi trồng thủy sản là 66.500 ha
(18%), bình quân một trang trại sử dụng 6,08 ha đất đai.
Trong năm 2002 số lao động thờng xuyên làm việc ở các trang trại trong phạm
vi cả nớc là 374.701 ngày công, lao động của chủ hộ trang trại đóng góp là 168.634 và
lao động phải thuê ngoài là 206.067 ngày công. Bình quân mỗi một trang trại sử dụng
6,2 lao động. Tổng số vốn đầu t của các trang trại đã lên đến 8.294,7 tỷ đồng, bình
quân 1 trang trại đã đầu t 136.500.000 đồng, trong đó vốn tự có của chủ trang trại là
7.021 tỷ đồng (chiếm 84,6%); vốn vay ngân hàng là 1.096,9 tỷ đồng (chiếm 13,2%) và
vay các nguồn vốn khác là 176,9 tỷ đồng chiếm 2,2%.
Tuy mới ra đời và phát triển, nhng năm 2000, kinh tế trang trại đã đạt 5.360,9 tỷ
đồng, bình quân mỗi trang trại đạt 88.200.000đồng. Giá trị hàng hoá và dịch vụ bán ra
đạt 4.965,9 tỷ đồng, bình quân một trang trại đạt 81.700.000 đồng. Nh vậy, kinh tế
trang trại đã có tỷ suất hàng hoá đạt 92,6%. Thu nhập của các trang trại là 1.905,8 tỷ
đồng, bình quân một trang trại đạt 31,5 triệu đồng, thu nhập bình quân một ngời trong
tháng của các nhân khẩu của chủ hộ trang trại là 584.000đồng, gấp 2,5 lần mức bình
quân nhân khẩu ở khu vực nông thôn.
Bình quân một trang trại đầu t 136,5 triệu đồng. Điều này cho thấy kinh tế trang

trồng khác qua đó tự ngời dân sẽ kết luận mô hình nào là hiệu quả [34].
ở Harahigh lands Etrrn Ethiopia do mật độ dân số cao, nông nghiệp kém phát
triển, không đáp ứng đợc nhu cầu phát triển của nhân dân trong vùng, dẫn đến tình
trạng khai thác tài nguyên rừng quá mức làm ảnh hởng xấu đến môi tr
ờng.
11 Download::

Một tác giả tình nguyện ngời Đức đã thực hiện nghiên cứu và xây dựng hệ
thống trang trại trong 3 năm, ông sử dụng phơng pháp lôgic và tiếp cận đi từ điều tra
tình hình đặc điểm điều kiện tự nhiên, điều kiện kinh tế xã hội của khu vực, hiện trạng
sử dụng đất đai, trình độ canh tác và khả năng cung cấp sản phẩm cho nông dân đối với
các loại cây đem trồng.
Nhằm đa ra đợc hệ thống trang trại phù hợp, tập trung các mối liên kết của các
trang trại Nông- Lâm nghiệp, thiết kế các mô hình nông lâm kết hợp và phơng pháp dự
đoán của ICRAF đã khắc phục đợc nạn phá rừng, khai thác lâm sản quá mức, cải thiện
đợc môi trờng và ổn định đời sống nhân dân trong vùng [39].
ở Nêpan với sự giúp đỡ của Chính phủ Australia dự án lâm nghiệp xã hội Nêpan
- Australia (NAFP) giữa chính phủ Nêpan và cục trợ giúp phát triển Australia (AIDAB),
nội dung của dự án là nghiên cứu sự xói mòn đất ở Nêpan và những nguyên nhân gây
nên. Một trong những nguyên nhân quan trọng nhất đó là hoạt động sử dụng đất không
hợp lý của con ngời đã tác động đến dòng chảy của các sông đổ vào ấn Độ và
Bangladesh, gây ra lũ lụt và lắng đọng trầm tích ở vùng hạ lu, dự án đã chỉ ra cho thấy
việc trồng rừng không chỉ đem lại lợi ích về kinh tế và môi trờng sinh thái mà còn
mang lại lợi ích cho quốc gia trong khu vực. Trong dự án này ngời ta đã sử dụng phơng
pháp phân tích chi phí và thu nhập để phân tích tài chính của các hộ khi tham gia trồng rừng
và đánh giá hiệu quả kinh tế [40].
1.2.2. ở Việt Nam
1.2.2.1. Những nghiên cứu về lý luận
Phát triển kinh tế trang trại ở Việt nam một vấn đề còn tơng đối mới. Bởi vậy nó
phong phú cả về mặt lý luận cũng nh thực tiễn đối với đất nớc ta đang trong thời kỳ đổi

cây công nghiệp, cây dợc liệu và cây lâm nghiệp).
Nhìn chung các nớc ở Châu á quá trình tích tụ ruộng đất diễn ra chậm, đất
đai bị phân chia thành nhiều mảnh nhỏ lẻ, phân tán là một trong những trở ngại lớn trong
việc phát triển kinh tế trang trại.
Vấn đề tích tụ ruộng đất, dồn điền đổi thửa từ nhiều mảnh đất canh tác nhỏ lẻ thành
mảnh lớn, để mở rộng quy mô sản xuất hàng hóa trong nền kinh tế thị tr
ờng . Quá trình
hình thành các trang trại hộ gia đình chịu sự tác động của sự cạnh tranh, phân hóa và chính
sách pháp luật của Nhà nớc [25,101].
Dự án nghiên cứu về khả năng phát triển các loài cây phục vụ cho chơng trình phát
triển trang trại .
13 Download::

Đề tài KN 03-05 thuộc chơng trình KN 03 do Giáo s - Tiến sỹ Phùng Ngọc Lan
làm chủ nhiệm đề tài : "Nghiên cứu xây dựng mô hình lâm nghiệp xã hội vùng đồi núi phía
Bắc Bắc Bộ"[28] thực hiện từ tháng 6/1992 đến tháng 9/1995. Đã đề cập đến những nội dung
và kết quả đạt đợc một cách cụ thể trong đó có những nội dung cần quan tâm.
Gần đây nhất là đề tài "Nghiên cứu hiện trạng kinh tế trang trại ở các tỉnh miền núi
Phía Bắc, đề xuất một số kiến nghị về định hớng chính sách nhằm khuyến khích phát triển
trang trại lâm nghiệp ở nớc ta hiện nay" [38] do Tiến sỹ Nguyễn Văn Tuấn làm chủ nhiệm
đề tài. Tác giả đã nghiên cứu thực trạng và tình hình sản xuất kinh doanh của các trang trại
lâm nghiệp ở 5 tỉnh miền núi phía Bắc, làm cơ sở để đa ra một số giải pháp thiết thực cho sự
phát triển kinh tế trang trại của khu vực nghiên cứu.
1.2.2.2. Những lý luận cơ bản về kinh tế trang trại
+ Khái niệm về kinh tế trang trại
Hiện nay ở nớc ta đang tồn tại một số khái niệm về kinh tế trang trại, sự khác nhau
này chủ yếu là do cách tiếp cận khác nhau.
Một số ý kiến cho rằng: Kinh tế trang trại là hình thức tổ chức sản xuất kinh doanh
Nông - Lâm - Thuỷ sản của hộ gia đình theo cơ chế thị trờng. Những đặc trng chính của
trang trại là quy mô sản xuất hàng hóa lớn hơn nhiều so với hộ gia đình nông dân và hàng

Chính phủ đã ban hành Nghị quyết 03/2000/NQ-CP ngày 02/ 02/ 2000 [27] về kinh tế trang
trại, trong đó đã đa ra quan điểm của nhà nớc để phát triển kinh tế trang trại. Theo Nghị
quyết 03 thì "Kinh tế trang trại là hình thức tổ chức sản xuất hàng hoá trong nông lâm
nghiệp, chủ yếu dựa vào hộ gia đình nhằm mở rộng quy mô và nâng cao hiệu quả sản xuất
trong lĩnh vực trồng trọt, chăn nuôi, nuôi trồng thuỷ sản và trồng rừng gắn với chế biến và
tiêu thụ Nông- Lâm- Thuỷ sản". Đây là khái niệm chính thống đang đợc sử dụng hiện nay
trong các hoạt động quản lý, nghiên cứu đối với kinh tế trang trại.
1.2.2.3. Những đặc trng cơ bản của kinh tế trang trại hộ gia đình
+ Mục đích của kinh tế trang trại là sản xuất hàng hoá Nông- Lâm- Thủy sản đáp
ứng nhu cầu thị trờng [38].
Hầu hết kinh tế trang trại đều đi lên từ kinh tế hộ nông dân, trong quá trình phát triển
kinh tế hộ gia đình đã vợt qua đợc giai đoạn tự cung tự cấp, vơn lên sản xuất hàng hoá
Nông-Lâm sản bán ra thị tr
ờng nhằm thu lợi nhuận, cũng là lúc kinh tế trang trại hình
thành, quy mô sản xuất đợc mở rộng, trình độ tổ chức quản lý ngày càng nâng cao theo
hớng hạch toán kinh tế. Thực hiện sản xuất hàng hoá với số lợng lớn, đáp ứng nhu cầu thị
trờng, tìm kiếm lợi nhuận là đặc trng quan trọng nhất của kinh tế trang trại .
15 Download::

+ T liệu sản xuất của trang trại thuộc quyền sở hữu hoặc sử dụng lâu dài của chủ
trang trại.
Trong các trang trại, t liệu sản xuất thuộc quyền quản lý của chủ trang trại, trờng
hợp đi thuê hay đợc giao quyền sử dụng thì t liệu sản xuất đều thuộc quyền sử dụng của
chủ trang trại, họ có quyền quyết định trong sản xuất kinh doanh. Đây là một trong những
đặc điểm để phân biệt kinh tế trang trại với các hình thức tổ chức sản xuất khác.
+ Trong trang trại các yếu tố sản xuất đặc biệt quan trọng là đất đai và tiền vốn đợc
tập trung tới một quy mô nhất định theo yêu cầu phát triển của sản xuất hàng hoá [25].
Kinh tế trang trại cũng nh các ngành kinh tế khác, sản xuất hàng hoá chỉ đợc tiến
hành khi các yếu tố sản xuất đợc tập trung đến quy mô đủ lớn, đặc biệt là đất đai và tiền vốn
là hai yếu tố cần phải có để thực hiện qúa trình sản xuất hàng hoá Nông - Lâm - Thuỷ sản


+ Thuê mớn lao động
Hỗu hết các trang trại Nông Lâm nghiệp đều có thuê mớn lao động và quy
mô sản xuất lớn hơn rất nhiều lần so với quy mô sản xuất của kinh tế hộ nông nghiệp.
Do đó nhu cầu lao động trong các trang trại đều vợt quá khả năng nguồn lao động tự
có của hộ gia đình. Vì vậy các trang trại đều có nhu cầu thuê, mớn lao động nhằm thực
hiện quá trình sản xuất kinh doanh, tuy nhiên số lợng lao động thuê mớn phụ thuộc
vào quy mô sản xuất và đặc điểm loại hình kinh doanh của trang trại.
Thông thờng có 2 hình thức thuê mớn lao động là thuê theo thời vụ và thuê
thờng xuyên. Các trang trại có quy mô sản xuất lớn thờng họ thuê cả lao động thời vụ
và lao động thờng xuyên, trong đó lao động thuê thờng xuyên là chủ yếu. Ngợc lại
trang trại có quy mô sản xuất nhỏ hơn thì lao động thuê thời vụ là chủ yếu, còn lao động
thuê thờng xuyên rất ít vì nguồn lao động trong gia đình gần nh đảm bảo đợc quá
trình sản xuất kinh doanh của trang trại. Ngoại trừ thời điểm gieo trồng và thu hoạch
sản phẩm.
1.2.2.4. Vai trò của kinh tế trang trại
Hiện nay trang trại là hình thức tổ chức sản xuất phổ biến trên thế giới cũng nh
ở Việt Nam.
Trong những năm gần đây kinh tế trang trại đang phát triển tơng đối nhanh kể
cả về mặt số lợng và quy mô diện tích, nó có vai trò đặc biệt quan trọng trong sản xuất
Nông Lâm nghiệp và đổi mới bộ mặt nông thôn ở nớc ta. Kinh tế trang trại mới phát
17 Download::

triển trong một thời gian ngắn, nhng nó đã thể hiện đợc các yếu tố tích cực trong sản
xuất và có những đóng góp to lớn kể cả về mặt kinh tế, xã hội và môi trờng.
+ Về mặt kinh tế
Sản xuất kinh doanh của trang trại đã góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế mà
chủ yếu là chuyển dịch cơ cấu vật nuôi cây trồng, lựa chọn đợc các loài cây, con có
giá trị kinh tế cao.
Để đa vào sản xuất hàng hoá tạo thành những vùng nguyên liệu tập trung, ứng

trong Nông Lâm nghiệp, nhằm ngăn chặn sự ô nhiễm, xuống cấp của môi trờng và
loại trừ, không áp dụng các hình thức sản xuất không bền vững. Đặc biệt chú trọng khi
tiến hành sản xuất canh tác trên đất dốc. Các trang trại ở vùng trung du và miền núi có vai
trò quan trọng trong việc trồng cây, trồng rừng và có hiệu quả, ngăn chặn sự xói mòn đất ,
bảo vệ đợc đa dạng sinh học trong cơ cấu canh tác [1], bảo vệ đợc các công trình thuỷ lợi
phục vụ sản xuất nông nghiệp, ổn định và bền vững.
+ Những tiêu chí để xác định trang trại
Tiêu chí để xác định trang trại cần đảm bảo đợc các yêu cầu sau:
- Phải chứa đựng đợc những đặc trng cơ bản của trang trại, bảo đảm tính chính
xác cho việc nhận dạng .
- Đơn giản và dễ vận dụng
Tiêu chí nhận dạng bao hàm cả về mặt định tính và định lợng
Mặt định tính là những đặc trng cơ bản của trang trại
Mặt định lợng là các đặc trng đó phải đợc lợng hoá
Tiêu chí thứ 2 cho biết sự vận dụng các chỉ tiêu về mặt định lợng và định tính
phải đơn giản để áp dụng không quá phức tạp và ai cũng có thể làm đợc các tiêu chí cụ
thể để xác định trang trại đã quy định trong Thông t liên tịch số 69/2000/TTLT-BNN-
TCTK ban hành ngày 23/6/2000 và Thông t số 63/2003/TTLT-BNN-TCTK ban hành
ngày 20 tháng 5 năm 2003 .
1.2.2.5. Các chủ trơng và chính sách của Đảng và Nhà nớc về phát triển
kinh tế trang trại
Sự hình thành và phát triển kinh tế trang trại trong những năm gần đây là một
nhân tố mới, động lực mới thúc đẩy sản xuất Nông Lâm nghiệp ngày càng đạt hiệu
quả cao, làm thay đổi bộ mặt nông thôn miền núi. Số hộ giàu có tăng lên, giảm đ
ợc số
hộ đói nghèo, góp phần cải thiện và nâng cao đời sống cho nhân dân. Nhng sự phát
triển của kinh tế trang trại lại phụ thuộc rất nhiều vào chủ trơng, đờng lối chính sách
của Đảng và Nhà nớc.
19 Download::


20 Download::

Nghị quyết 10 đã đa Nông nghiệp nông thôn lên một bớc cao hơn trong quá
trình chuyển từ nền kinh tế tự túc tự cấp sang một nền kinh tế hàng hoá mở ra con
đờng cho sự phát triển kinh tế trang trại sau này.
+ Nghị quyết số 05-NQ/ HN TW của ban chấp hành Trung ơng Đảng khoá VII
tháng 6 năm 1993 [ 2] về việc tiếp tục đổi mới và phát triển kinh tế xã hội nông
thôn. Tại hội nghị này Đảng ta tiếp tục đổi mới và phát triển Nông nghiệp nông thôn
theo hớng sản xuất hàng hoá, nghị quyết đã đa ra những giải pháp cụ thể nh sau:
- Đổi mới kinh tế Nông nghiệp
- Cải tiến cơ cấu kinh tế nông thôn
Kiên trì nhất quán đối với chính sách kinh tế nhiều thành phần vận hành theo cơ
chế thị trờng có sự quản lý của nhà nớc theo định hớng xã hội chủ nghĩa. Thực hiện
chính sách giao quyền sử dụng đất lâu dài cho hộ gia đình, khuyến khích phát triển kinh
tế trang trại.
+ Nghị quyết số 04-NQ/HNTW tháng 12/1997của ban chấp hành Trung ơng
Đảng khoá VIII [3] về việc tiếp tục đẩy mạnh công cuộc đổi mới, phát huy nôi lực,
nâng cao hiệu quả hợp tác quốc tế, cần kiệm để công nghiệp hoá, hiện đại hoá phấn đấu
hoàn thành các mục tiêu kinh tế xã hội đến năm 2000.
Hội nghị đã khẳng định phát triển nông nghiệp nông thôn theo hớng công
nghiệp hoá, hiện đại hoá trong đó nhấn mạnh:
- Đẩy nhanh quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế gắn với phân công lại lao động
ở nông thôn.
- Giải quyết vấn đề tiêu thụ Nông Lâm sản
- Phát triển các hình thức kinh tế hợp tác, đổi mới hoạt động các Nông-Lâm
trờng quốc doanh.
- Tích cực xoá đói giảm nghèo
- Những vấn đề nêu trên mà Đảng ta tập trung giải quyết đó là những điều kiện
thuận lợi để phát triển kinh tế trang trại.
+ Nghị quyết số 05- NQ/TW ngày 17/ 10/ 1998 của Trung ơng Đảng khoá VIII

mọi thành phần kinh tế thực hiện theo mục tiêu sản xuất kinh doanh của mình.
- Nghị định 64-CP ngày 27/09/1993 Quy định của Nhà nớc về giao đất nông
nghiệp cho hộ gia đình, cá nhân sử dụng ổn định lâu dài vào mục đích sản xuất nông
nghiệp [ 15].
22 Download::

- Nghị định 02-CP ngày 15/01/1994 Quy định của Nhà nớc về giao đất lâm
nghiệp cho các tổ chức, cá nhân, hộ gia đình sử dụng ổn định, lâu dài vào mục đích
sản xuất lâm nghiệp [16].
- Nghị định 01- CP ngày 4/01/1995 của chính phủ về giao khoán sử dụng đất vào
mục đích sản xuất Nông nghiệp, Lâm nghiệp và nuôi trồng Thuỷ sản cho các doanh
nghiệp nhà nớc [17].
- Nghị định 163/1999/NĐ-CP ngày 16/11/1999 của Chính phủ về giao đất, cho
thuê đất lâm nghiệp đối với các tổ chức, cá nhân hộ và gia đình sử dụng ổn định, lâu dài
vào mục đích sản xuất Lâm nghiệp [18].
- Nghị định 43/1999/NĐ-CP ngày 29/6/1999 của Chính Phủ về vốn vay u đãi
cho kinh tế trang trại [19].
Những chính sách trên đã tạo cơ sở pháp lý quan trọng để các đối tợng sản xuất
kinh doanh nắm đợc quyền sử dụng đất đai, một t liệu sản xuất đặc biệt, nhất là trong
lĩnh vực Nông Lâm nghiệp. Nhờ đó các thành phần kinh tế yên tâm đầu t vốn vào
sản xuất và tái đầu t mở rộng sản xuất kinh doanh. Đây chính là điều kiện cơ bản nhất
để cho sự ra đời hình thành và phát triển của trang trại. Nhng để phát triển kinh tế
trang trại thì Nhà nớc cần phải có những chính sách và giải pháp riêng để giải quyết
vấn đề một cách sâu sắc và toàn diện.
Nghị quyết 03/2000/NQ-CP ngày 02/02/2000 của Chính phủ về kinh tế trang trại
[20] thể hiện rõ quan điểm và chính sách nhất quán của Đảng và Nhà nớc ta đã giành
sự quan tâm đặc biệt đối với mô hình sản xuất mới ở Nông nghiệp nông thôn, đồng thời
khẳng định sự bảo hộ quyền lợi chính đáng của chủ trang trại trớc mọi diễn biến của
nền kinh tế. Lập trờng trớc sau nh một của Chính phủ về bảo hộ đầu t, bảo vệ
quyền lợi hợp lý, hợp pháp của chủ trang trại nhằm động viên khuyến khích sự phát

+ Điều kiện kinh tế xã hội
+ Tình hình hoạt động của kinh tế trang trại và các tổ chức có liên quan
+Hiện trạng sử dụng đất đai của xã Hà Long
24 Download::

2.3.2. Điều tra thực trạng kinh tế trang trại Lâm Nông nghiệp của xã Hà Long
2.3.2.1. ảnh hởng của chính sách Nhà nớc đến sự hình thành và phát triển
kinh tế trang trại ở địa phơng.
+ Chính sách của Trung ơng
+ Chính sách của địa phơng
2.3.2.2. Quá trình hình thành và phát triển kinh tế trang trại ở địa phơng
+ Trớc khi có các chính sách của Nhà nớc
+ Sau khi có chính sách của Nhà nớc
2.3.2.3. Phân loại mô hình trang trại theo tiềm năng (bằng phơng pháp cho điểm)
2.3.2.4. Phân tích cơ cấu kinh tế các mô hình
+ Quy mô diện tích, cơ cấu đất đai
+ Cơ cấu đầu t và thu nhập
2.3.2.5. Tổ chức quản lý
+ Trình độ tổ chức, quản lý của chủ trang trại
+ Trình độ bố trí sử dụng lao động trong trang trại
2.3.3. Đánh giá hiệu quả các mô hình trang trại
2.3.3.1. Đánh giá hiệu quả kinh tế
+ Ba mô hình đại diện cho 3 nhóm theo tiềm năng sản xuất
+ Dự đoán hiệu quả của một số loài cây trồng chính
2.3.3.2. Đánh giá hiệu quả về mặt xã hội
2.3.3.3. Đánh giá hiệu quả về mặt môi trờng sinh thái
2.3.3.4. Đánh giá tiềm năng phát triển kinh tế trang trại trong tơng lai
+ Những thuận lợi
+ Những khó khăn
+ Hớng phát triển

* Cơ sở phơng pháp phân loại
Dựa trên kết quả điều tra chi tiết 30 trang trại hộ gia đình, tiến hành phân loại
các trang trại theo 3 mức độ khác nhau bằng phơng pháp cho điểm dựa vào các tiêu chí
sau:
- Tiềm năng về đất đai (quy mô diện tích)
- Tổng số vốn đầu t cho sản xuất

Trích đoạn Ph−ơng pháp xử lý số liệu và tính toán Dự đoán hiệu quả kinh tế cho một số loại cây trồng chính Điều kiện kinh tế xã hội của xã Hà Long Tình hình hoạt động của kinh tế trang trại và một số tổ chức
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status