PHẦN THỨ NHẤT
MỞ ĐẦU
1.1.
Đặt Vấn Đề
Đảm bảo lương thực đang là một vấn đề mang tính toàn cầu. Theo thống kê vào
năm 2050 thế giới sẽ có hơn 9 tỷ người sinh sống, câu hỏi đặt ra là tìm đâu ra sản
lượng lương thực cung cấp để nuôi sống đủ mọi người?
Việt Nam có nền sản xuất nông nghiệp lâu đời đóng vai trò quan trọng là nền tảng
vững chắc cho công cuộc phát triển của đất nước, 60% dân số làm nông nghiệp đóng
góp 20,6% GDP năm 2010 giá trị xuất nhập khẩu 19,15 tỷ USD.Chiến lược phát triển
nông nghiệp nông thôn Việt Nam 2011-2020 (MARD QĐ số 3310/BNN-KH ngày
12/10/2009) đối với ngành sản xuất lương thưc là “Phát triển sản xuất lúa gạo Việt
Nam trở thành mặt hàng xuất khẩu mũi nhọn có hiệu quả và đảm bảo an ninh lương
thực.” Trên cơ sở tính toán cân đối giữa nhu cầu tương lai của đất nước và dự báo nhu
cầu chung của thế giới nhằm đảm bảo tuyệt đối an ninh lương thực quốc gia trong mọi
tình huống, đảm bảo quyền lợi hợp lý của người sản xuất và kinh doanh lúa gạo và
xuất khẩu có lợi nhuận cao, đảm bảo sản lượng lúa đến năm 2020 đạt hơn 41 triệu tấn
lúa trên diện tích canh tác 3,7 triệu ha.
Sản xuất lương thực là ngành quan trọng nhất của nông nghiệp Việt Nam, không
những đủ cho nhu cầu trong nước mà còn có khối lượng lớn cho xuất khẩu. Tuy nhiên
để đảm bảo được an ninh lương thực ở cấp hộ gia đình trên phạm vi cả nước vẫn đang
còn là một vấn đề lớn, đặc biệt ở miền núi phía Bắc và Tây Nguyên.: cần nói rõ vai
trò của lương thực hơn nữa để thấy lương thục và sản xuất ra lương thục đảm bảo an
ninh luong thực là rất cần thiết, và tại sao nó lại là vấn đề quan trọng tại hòa sơn
Xã Hòa Sơn, huyện Krông Bông, tỉnh Đak Lak, nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới
gió mùa nhưng bị phân hóa do sát dãy núi ChưyangSin. Sản xuất nông nghiệp là hoạt
động chủ yếu của nông dân nhưng mang tính thời vụ và còn manh mún, nhỏ lẻ, sử
dụng công cụ thô sơ chưa có điều kiện đưa máy móc hiện đại vào sản xuất, việc áp
dụng khoa học – kỹ thuật chưa phổ biến nên năng suất cây trồng còn thấp. Đất đai
1.3.1. Nội dung nghiên cứu
-
Tình hình dân số, lao động và nhân khẩu ăn theo.
-
Tình hình sản xuất lương thực:
+ Tình hình sử dụng đất nông nghiệp trồng cây lương thực.
+ Tình hình năng suất cây cây lương thực.
+ Tình hình thu nhập từ cây lương thực
+ Chi phí cho sản xuất cây lương thực.
-
Tình hình vay vốn.
-
Tình hình khuyến nông.
1.3.2. Thời gian nghiên cứu
- Thời gian nghiên cứu năm: 2011
1.3.3. Không gian nghiên cứu
- Xã Hòa Sơn- Huyện Krông Bông- Tỉnh Đăk Lăk
2
xuất, đến tiêu dùng và các hoạt động xã hội khác.
Theo Harris, ở viện nghiên cứu phát triển trường Đại học tổng hợp Susex (Lon
Don- Anh) cho rằng: “ Hộ là một đơn vị tự nhiên tạo nguồn lao động”
3
Theo Raul Iturna, giáo sư trường đại học tổng hợp Liôbon khi nghiên cứu
cộng đồng nông dân trong quá trình quá độ ở một số nước châu Á đã chứng minh
“Hộ là một tập hợp những người cùng chung huyết tộc có quan hệ mật thiết với nhau
trong quá trình sáng tạo ra vật phẩm để bảo tồn chính bản thân họ và cộng đồng”
Qua các quan điểm khác nhau về khái niệm hộ trên, có thể rút ra một số đặc
trưng về hộ.
- Hộ là một nhóm người cùng chung huyết tộc hay không cùng huyết tộc.
- Hộ cùng sống chung hay không cùng sống chung một mái nhà.
- Có chung một nguồn thu nhập và ăn chung.
- Cùng tiến hành sản xuất chung.
Khái niệm về hộ nông dân:
Nghị quyết X của BCT (05/04/1988) ra đời đã khẳng định hộ nông dân là một
đơn vị kinh tế cơ sở là những hộ sống ở nông thôn, có ngành sản xuất chính là
nông nghiệp, nguồn thu nhập và sinh sống chủ yếu là nghề nông. Các thành viên
trong hộ gắn bó với nhau chặt chẽ bởi quan hệ hôn nhân, huyết thống ràng buộc
bởi phong tục tập quán về gia dình dòng tộc, truyền thống đạo đức lâu đời. nghoài
ra hộ nông dân là nơi lưu truyền và giữ gìn bản sác văn hóa dân tộc, mang đậm nét
đặc trưng của nền văn minh nông nghiệp lúa nước.
2.1.2. Vì sao phải nghiên cứu về sản xuất lương thực ở nông thôn?
Giải quyết và đảm bảo an toàn lương thực cho nhân dân, khai thác tiềm
năng đất đai và sử dụng hợp lý các nguồn lao động dồi dào ở nông thôn.
Tìm kiến việc làm và nâng cao đời sống cho đa số dân cư đang sống ở nông thôn.
Giải quyết vấn đề nghèo đói, phát triển một nền nông nghiệp mở rộng, coi
đó là một nguồn tăng trưởng kinh tế.
+ Môi trường sản xuất: Các thị trường vốn, lao động tự nhiên sản xuất chậm
và kém phát triển ảnh hưởng đến đầu ra của sản phẩm nông nghiệp.
-
Thu nhập: Chủ yếu phụ thuộc vào kết quả sản xuất, nó quy định mức sống,
khả năng tiêu dung, tích lũy, tái sản xuất của hộ nông dân. Cơ cấu sản xuất
quyết định cơ cấu thu nhập của hộ nông dân.
-
Cần nói lương thực là gì, cây lương thực là gì, các yếu tố ảnh hưởng đến
sản xuất cây lương thực
2.2.
Phương Pháp Nghiên Cứu
2.2.1 Phương pháp thu thập số liệu
- Thu thập số liệu thứ cấp
Số liệu thứ cấp bao gồm:
-
Các báo cáo tổng quan về điều kiện tự nhiên – kinh tế - xã hội
5
-
Báo cáo về thực trạng phát triển kinh tế - xã hội và kế hoạch phát
dưới trang 15 trở đi: trong tổng số hộ của 4 thôn) hộ nào cũng có thể được điều
tra. Mỗi thôn chọn ra 25 hộ, việc lựa chọn hộ điều tra bằng cách đi điều tra từng hộ
trong thôn, hộ nào có người ở nhà thì tiến hành điều tra hộ đó. Đây là hình thức
thu thập số liệu 1 cách ngẫu nhiên các hộ trong thôn có xác suất chọn mẫu như
nhau.
Chỉ tiêu phân loại hộ
Thủ tướng vừa ký quyết định ban hành chuẩn hộ nghèo, hộ cận nghèo mới áp
dụng cho giai đoạn 2011-2015. Theo đó, hộ nghèo ở nông thôn là hộ có mức thu
nhập bình quân từ 400.000 đồng/người/tháng (4,8 triệu đồng/người/năm) trở
xuống. Hộ nghèo ở thành thị là hộ có mức thu nhập bình quân từ 500.000
đồng/người/tháng (6 triệu đồng/người/năm) trở xuống.
Hộ cận nghèo ở nông thôn là hộ có mức thu nhập bình quân từ 401.000 520.000 đồng/người/tháng. Hộ cận nghèo ở thành thị là hộ có mức thu nhập bình
6
quân từ 501.000 - 650.000 đồng/người/tháng. Mức chuẩn nghèo quy định nêu trên
là căn cứ để thực hiện các chính sách an sinh xã hội và chính sách kinh tế, xã hội
khác. Quyết định này có hiệu lực thi hành từ ngày 01-01-2011.
Dựa vào tình hình cụ thể của các hộ trong xã để phân loại nhóm hộ như sau:
Nhóm hộ nghèo: 520000 VNĐ/người/tháng
Số mẫu được chọn là 120 hộ thuộc xã Hòa Sơn, huyện Krông Bông, tỉnh ĐăkLăk.
2.1.3 Phương pháp tổng hợp và xử lý số liệu
- Số liệu được tổng hợp và xử lý bằng phần mềm Excel.
- Phương pháp thống kê mô tả.
2.1.4
Phương pháp phân tích
- Từ số liệu thu thập được nhận xét, đánh giá tình hình.
3.1.1.2
Điều kiện khí hậu
Xã Hòa Sơn có đặc điểm khí hậu nhiệt đới gió mùa, nhưng do sự nâng lên
của địa hình ở độ cao trung bình từ 245 - 260 mét (so với mặt nước biển) nên có
đặc điểm rất đặc trưng của chế khí hậu nhiệt đới gió mùa cao nguyên. Về đặc điểm
khí hậu thuỷ văn khu vực này có một số khác biệt so với khu vực khác như sau:
*Nhiệt độ:
- Nhiệt độ trung bình trong năm 25,70 C
- Nhiệt độ cao nhất trung bình năm 28,70 C
- Nhiệt độ thấp nhất trung bình năm 22,30 C
- Nhiệt độ cao nhất tuyệt đối 38,50 C
- Nhiệt độ thấp nhất tuyệt đối 12,60 C
*Độ ẩm:
Độ ẩm không khí tương đối ở xã Hòa Sơn nói riêng, vùng cao nguyên nói
chung bình quân năm khoảng 81%. Độ ẩm tương đối trung bình có giá trị số lớn
8
nhất vào tháng 9 khoảng ( 92%) và thấp nhất vào các tháng 2, 3, 4 khoảng (70% 79%) biến trình ẩm của không khí phù hợp với biến trình mưa ở đây và ngược lại
với biến trình của nhiệt độ trung bình năm độ ẩm thấp nhất 25% tháng mùa khô và
dưới 41% trong các tháng mùa mưa...
3.1.1.3.
Địa hình
Xã có địa hình bị chia cắt thành 2 vùng tương đối rõ rệt, phía Nam là vùng
núi cao, phía Bắc là vùng trũng tương đối thấp, độ cao trung bình 650-690m. Đất
đai khá bằng phẳng ở khu vực trung tâm, Phía đông nam của Xã là dãy núi Chư
* Nhóm đất xám rẫy: Diện tích 1.215,5 ha, chiếm tỷ lệ 22,56%. Phân bố ở
khu vực phía Đông Bắc của Xã. Hiên nay đang được khai thác để trồng cà phê,
tiêu, điều, sắn....
* Nhóm Đất đỏ vàng trên đấ phiến sét: chiếm 14,17%, phân bố ở khu vực
phía tây của xã.
* Nhóm đất vàng nhạt trên đá granit (Fa,Ha) chiếm 18,52%; phân bổ tập
trung ở khu vực nữa xã, phía Đông. Đất có tầng dày
Số khẩu
Năm 2009
Số
Số hộ
khẩu
Năm 2010
Số hộ
Số
khẩu
1
Thôn 1
164
794
168
782
178
816
703
4
Thôn 4
133
701
135
709
141
720
5
Thôn 5
75
411
75
386
821
174
824
8
Thôn 8
185
996
192
857
205
894
9
Thôn 9
121
592
117
661
124
687
131
725
Chưa thành lập
134
681
142
732
13
Thôn Tân Sơn
Chưa thành lập
40
115
568
Tổng cộng
3.1.3.2.
1856
9.509
1.940
9.566 2044
9867
(Nguồn: Báo cáo UBND xã)
Tình hình phân bổ và sử dụng đất trên địa bàn
Căn cứ vào kết quả điều tra trên địa bàn xã cũng như kế hoạch sử dụng đất
đến 2010, tình hình phân bổ và sử dụng đất như sau:
Tổng diện tích đất nông nghiệp là 4.581,69 ha chiếm 85,04% tổng diện tích
tự nhiên. Đất phi nông nghiệp là 303,02 ha chiếm 5,62%, đất chưa sử dụng là 503,29
chiếm 9,34%.
11
Bảng 3.1.3.2: Tình hình phân bổ và sử dụng đất trên địa bàn xã
Chỉ tiêu
(ha)
5388,00
4581,69
2179,02
1717,98
461,04
2376,96
25,71
303,02
72,67
185,89
30,76
Tỷ lệ
(%)
100
85,04
40,44
31,89
8,56
44,12
0,48
5,62
1,35
3,45
0,57
CSD
503,29
9,34
Cây lúa:Trên địa bàn xã phần diện tích gieo trồng lúa chủ yếu là cây lúa
nước, chủ yếu là lúa vụ Mùa còn vụ Đông Xuân là không đáng kể (cả về mặt diện
tích và sản lượng)
Cây ngô: Là yếu tố cơ bản trong việc tăng sản lượng lương thực hàng năm
của xã. Hầu hết diện tích là ngô lai được đầu tư phát triển cả hai vụ hoặc một vụ
trồng ngô, một vụ trồng đậu.
Nhóm cây có củ (khoai, đậu xanh và rau xanh) trong cơ cấu cây trồng của nhóm
cây hàng năm thì tăng lên (2009) tăng 25% đối với khoai, đậu xanh tăng 7,14% và
rau xanh là 12,94% còn giảm xuống 20% (2008) với khoai, đậu xanh là giảm
xuống 12,5% và rau xanh giảm 10,53%. Còn cây lúa, sắn thì diện tích không thay
đổi qua 3 năm.
Cây công nghiệp ngắn ngày (lạc, mía, DT Trồng cỏ): Có tăng lên năm
2008 nhưng đều giảm xuống vào năm 2009. Do đất trồng màu đã bị thu hẹp dần do
chuyển mục đích sử dụng đất, và một điều quan trọng nữa là các loại cây trồng này
không mang lại hiệu quả kinh tế cao bằng các nhóm cây khác do đất đai ít phù hợp
cho việc trồng màu.
Cây lâu năm: Nhìn chung cây cà phê có tăng lên trong năm 2008, 2009
khoảng 54%, cây điều giảm diện tích xuống để chuyển đổi mục đích sử dụng năm
2009 giảm 55,59%.
Bảng 3.1.3.3: Cơ cấu cây trồng trên địa bàn xã
ĐVT: ha
Chỉ tiêu
Năm
Năm
Năm
13
90
402
184
29
111
44
143
27
60
56
86
23
59
4
2008
1651
228
419
515
81
408
184
29
111
44
150
27
60
63
-9
6
0
0
0
0
7
0
0
7
55
55
0
0
%
1.19
0.00
2.20
5.10
-10.0
1.49
0.00
0.00
0.00
0.00
4.90
0.00
0.00
12.50
-18.52
6.86
21.20
0.00
36.04
-2.27
-43.33
0.00
-80.00
-26.98
-4.96
33.33
-55.59
0.00
(Nguồn: Báo cáo UBND xã)
3.1.3.4.
Cơ sở hạ tầng
* Hệ thống giao thông: Đường tỉnh lộ 12 đi qua địa bàn xã dài 9 km, được
rải nhựa và thuận tiện cho việc đi lại giao thương đi lại với các xã, thuận tiện cho
việc đi lại và vận chuyển hàng hóa. Tuy nhiên, phần lớn các tuyến giao thông
trong khu dân cư, giao thông nội đồng là đường đất hẹp, gặp khó khăn cho việc đi
lại vận chuyển nông sản, hàng hóa nhất là vào mùa mưa.
* Hệ thống thủy lợi: Năm 2009 Xã Hòa Sơn đã được nhà nước đầu tư đang thi
công bê tông hóa tuyến kênh N1, đã góp phần rất lớn giúp người dân trên địa bàn
Xã Hòa Sơn nói riêng và cả Huyện Krông Bông nói chung cung cấp được lượng
nước cho đồng ruộng vào mùa khô và thoát nước nhanh chóng khi mùa lũ tràn về.
Theo Báo cáo tổng kết UBND Xã Hòa Sơn năm 2008, diện tích được tưới
động
động
chính
chính/H
(LĐ)
ộ
Tỷ lệ
phụ
thuộc
Khá
70.37
427
68.21
4.49
289
3.04
3.06
32.09
Nguồn: tổng hợp từ phiếu điều tra
Qua bảng số liệu ta thấy:
Trong tổng số 135 hộ điều tra thì nhóm hộ khá chiếm 70.73%, hộ cận nghèo
chiếm 6.67% và hộ nghèo 22.96%. Tuy tỉ lệ hộ nghèo và cận nghèo tương đối cao
phản ánh mức thu nhập của người dân vần còn thấp nên cần tăng nhóm hộ khá lên
để mức sống của người dân được nâng lên.
Tỏng số nhân khẩu là 626 người, các nhân khẩu cũng làm ảnh hưởng đến chi tiêu
của từng hộ. Lao động chính thấp mà nhân khẩu ăn theo lại đông làm mất cân đối
thu - chi của hộ gia đình. Cụ thể từng nhóm hộ của thôn như sau:
-
Nhóm hộ khá: Nhân khẩu bình quân trên hộ tương đối cao 4.49 người, lao
động chính bình quân trên hộ là 3.04 lao động, tỉ lệ phụ thuộc tương đối
thấp chỉ có 31.83% chứng tỏ lao động chính chiếm tỉ lệ lớn 289 người so
với nhân khẩu ăn theo.
-
Nhóm hộ cận nghèo: Nhân khẩu bình quân trên hộ là cao nhất 5.38 người,
lao động chính bình quân trên hộ là 3.25 lao động, tỉ lệ phụ thuộc rất cao
80,95% cho thấy số nhân khẩu ăn theo rất nhiều chủ yếu là nuôi con đi học.
-
Nhóm hộ nghèo: Nhân khẩu bình quân trên hộ thấp hơn nhiều so với nhóm
Tỉ lệ %
Lúa
28.2
60.71
Ngô
7.2
Sắn
Tổng
DT
Nghèo
Tỉ lệ %
DT (ha)
Tỉ lệ %
2.15
48.31
4.91
100
8.81
100
(ha)
Cây Trồng
Nguồn: Tổng hợp từ phiếu điều tra
Qua bảng 3.2.2.1. cho ta thấy:
Việc phân bổ đất trồng để sản xuất lương thực của các nhóm hộ không đồng
đều, chủ yếu đất được các hộ dùng trồng lúa là nhiều nhất, đất trồng sắn và ngô chỉ
chiếm một lượng nhỏ.
16
-
Nhóm hộ khá: Sử dụng đất để trồng lúa là nhiều nhất 28.2 ha chiếm 60.71%
trong tổng diện tích trồng cây lương thực, đất trồng ngô ít nhất là 7.2 ha chiếm
15.5%, còn đất trồng sắn chỉ 11.05 ha chiếm 23.79%.
-
Nhóm hộ cận nghèo: Có tổng diện tích sản xuất lương thực là 4.45 ha, trong
Cây
Diện tích
Tỷ lệ
trồng
(ha)
(%)
Lúa
35.26
59.03
252.651
7.94
6.28
3.52
Ngô
9.9
Tổng
59.8
100
482.681
Nguồn: Tổng hợp từ phiếu điều tra
Qua nghiên cứu 135 hộ ta thấy cơ cấu sản xuất lương thực của người dân là
không trồng cây khoai lang chỉ trồng ba loại cây lúa, ngô, sắn là chính. Năng suất
lúa của hộ khá là rất cao 7.94 tấn/ha cao hơn rất nhiều so với các năm trước và mặt
bằng chung của toàn xã 6.5 tấn/ha, năng suất lúa của hộ cận nghèo cũng đạt chỉ có
năng suất lúa của hộ nghèo là thấp 3.52 tấn/ha chủ yếu là các hộ đồng bào dân tộc
êđê, m’nông sản xuất lúa rẫy.
Nhìn chung thì năng suất của ngô và sắn còn rất thấp do đất trồng xấu và
vốn đầu tư cho ản xuất chưa cao.Đời sống của người dân phụ thuộc nhiều vào thu
nhập từ sản xuất lương thực, khi năng suất thấp chỉ đủ bù đắp cho chi phí sản xuất,
chưa có dư thừa để tích lũy sản xuất. Mặt khác do điều kiện thời tiết không thuận
lợi và sâu bệnh nên ảnh hưởng lớn đến năng suất cây trồng. Vì vậy, cần có những
chính sách hộ trở vốn để tái sản suất, nhất là các nhóm hộ cận ngèo và hộ nghèo
thiếu tư liệu sản suất.
Tất cả các bảng thể hiện là tổng số hô điều tra là q 135 hộ nên không cần
ghi như thế nhìn khoog khoa học
3.2.2.3. Tình hình thu nhập từ trồng cây lương thực.
Sản xuất lương thực là nguồn thu nhập chính của người dân ở đây,
việc canh tác hợp lý sẽ nâng cao được năng suất, nâng cao được thu nhập và
từ đó đời sống kinh tế hộ được nâng lên. Cây lương thực có nhiều loại và kỹ
103779.1
TB
92340
29860
15045
137245
17155.6
Nghèo
105480
35700
36540
177720
5553.8
Nguồn: Tổng hợp từ phiếu điều tra
Qua bảng trên cho ta thấy:
Nguồn thu nhập chính của các hộ trồng cây lương thực của các nhóm hộ
Tổng chi
Khá
453870
38454.5
25640
517964.5
5452.3
Cận Ngèo
44798
2730
49238
6154.8
Nghèo
64639
6796.3
cung tự cấp.Trong thực tế ở nông thôn nói chung và ở xã Hòa Sơn nói riêng đang
tồn tại một vấn vấn đề là thiếu vốn. Để biết tình hình vay vốn của các hộ ta theo
dõi bảng sau:
Bảng 3.2.2.5. Tình hình vay vốn của các hộ
Mẫu điều tra 135 hộ
Đơn vị tính: 1.000 đồng
Nhóm
Hộ
Khá
Cận
Nghèo
Nghèo
Số hộ
được vay
(người)
65
5
26
Tỷ lệ tiếp cận
Tỷ lệ
vốn vay
(%)
không được nhiều do các hộ có ít tài sản thế chấp để vay một lượng vốn lớn.
Lượng vốn nhỏ nên không đủ để đầu tư cho sản xuất mặt khác còn bù vào tiêu
dùng hằng ngày nữa nên hiệu quả sản xuất không cao, việc phát triển kinh tế gặp
rất nhiều khó khăn.
3.2.3.
Hoạt động khuyến nông
Chương trình khuyến nông là một vấn đề rất quan trọng và cần thiết đối với
người dân lao động trong sản xuất nông ngiệp nói chung và sản xuất lương thực tại
xã nói riêng. Thực tế cho thấy tại xã đã mở nhiều lớp tập huấn về chăn nuôi và
trồng trọt cho người dân và nó đã mang lại hiểu quả rất cao trong sản xuất. Tuy
vậy vấn còn hiều bất cập và khó khăn xãy ra là người dân chưa nhận rõ được tầm
quan trọng của các lớp khuyến nông và bận rộn với công việc mùa vụ nên số lượng
tham gia còn ít,mỗi lần tập huấn các thôn buôn phải cử người đại diện đi nên vấn
đề truyền lại những kiến thức tiếp thu được cũng rất khó thực hiện. Để hoạt động
có hiệu quả phải có những chương trình khuyến nông như sau:
-
Đưa đội ngũ khuyến nông xuống hướng dẫn trực tiếp cho người dân
để tập huấn kỹ thuật cho nông dân bằng các hình thức như xây dựng mô hình
thử nghiệm các loại giống lúa lai mới trên ruộng đất của nông hộ. Đó cũng là
mong muốn của bà con nông dân ở nơi đây, đặc biệt là đối với những hộ còn
21
khó khăn nên sản xuất còn lạc hậu và mang tính truyền thống nhiều ên năng
suất không cao.
22
được nhu cầu cho sản xuất đúng thời vu. Đây chính là nhu cầu rất cần thiết và cấp
bách đối với người dân đang sản xuất nông nghiệp.
3.3.2. Kỹ thuật canh tác
Sản xuất lương thực của người dân nơi đây vẫn còn lạc hậu. Tuy đã cơ giới
hóa nhiều nhưng phần lớn vẫn sử dụng những phương tiện sản xuất truyền thống,
những hộ sử dụng máy móc trong các khâu sản xuất còn rất ít chủ yếu là dùng
trong khâu làm đất và thu hoạch. Việc áp dụng khoa học kỹ thuật vào sản xuất
lương thực còn hạn chế vì vốn nhỏ và các yếu tố khác chi phối, phân bố cây trồng
chưa hợp lý nên cần có giải pháp sau:
-
Khuyến khích người dân gieo trồng các loại giống mới, giống lai có năng
suất cao và chất lượng tốt vào sản xuất.
-
Thực hiện chuyển đổi cơ cấu mùa vụ đối với sản xuất lúa, gieo cấy sớm
nhằm tranh thủ nguồn nước lúc đầu vụ từ các kênh mương thủy lợi.
-
Áp dụng biệ pháp thâm canh tối ưu về giống, phân bón…xử lý sau thu
hoạch và các biện pháp kỹ thuật khác để đạt hiểu quả cao ở mức bền vững.
-
Xây dựng cơ sở hạ tầng đặc biệt là hoàn thiện hệ thống kênh mương toàn xã
và hệ thống truc đường chính ở thôn 7 để cung cấp nước kịp thời, tiêu thụ hàng
hóa dễ dàng giúp cho người dân chủ động hơn và sản xuất được tốt hơn.
3.3.4. Một số giải pháp khác
Ngoài các giải pháp trình bày trên, còn có một số giải pháp khác để nhằm
nâng cao đời sống của người dân cần:
-
Đa dạng hóa cây trồng bằng cách trồng nhiều loại cây lương thực trên diện
tích đang có để tránh những rủi ro do thị trường đem lại như giá cả các loại
biến đổi.
-
Phát triển chăn nuôi để tăng thu nhập lấy vốn đầu tư cho sản xuất lương
thực.
-
Khuyến khích các hộ trao đổi kinh nghiệm, cách làm ăn cùng với hộ nghèo
trong cùng thôn, buôn, xã để cùng nhau phát triển kinh tế.
-
Mở rộng và tăng cường các biện pháp khuyến nông nhằm truyền đạt những
thông tin cần thiết đến người dân, hướng dẫn cho họ về kỹ thuật canh tác có
hiệu quả và tiết kiệm chi phí đầu tư, giới thiệu giống mới năng suất cao, cách
người dân ở đây không được nhiều nhất là các hộ nghèo còn thiếu đất sản xuất,
nên cần cấp thêm đất để họ sản xuất tăng thu nhập và tăng mức sống.
3.5.4. Về phương tiện sản xuất.
Các hộ ở đây thiếu phương tiện sản xuất chủ yếu sự dụng công cụ thô sơ mà
các phương tiện sản xuất đó quyết định đến năng suất lao động, nâng cao năng suất
cây trồng, nâng cao hiểu quả sự dụng đất. Do vậy xã cần phải hộ trợ cùng với
người dân để đầu tư trang thiết bị để phục vụ sản xuất.
3.5.5. Về khuyến nông lâm.
Chính quyền địa phương cần có biện pháp hỗ trợ khuyến nông cho các hộ
nông dân và mở các lớp tập huấn về kỹ thuật canh tác trong sản xuất lương thực để
họ sản xuất được tốt hơn.
25