BÁO CÁO TỐT NGHIỆP
Báo cáo
"Tuần hoàn và chu chuyển tư bản đối
với việc sử dụng nguồn vốn trong nước"
1
MỤC LỤC
Trang
Mở đầu 1
A. Lý luận tuần hoàn và chu chuyển tư bản 2
I. Lý luận tuần hoàn và chu chuyển tư bản 2
1.Các giai đoạn biến hoá hình thái của tư bản 2
1.1. Khái niệm 2
1.2. Sự vận động của tư bản 2
2.Sự thống nhất của ba hình thái tuần hoàn 3
2.1. Tuần hoàn của tư bản tiền tệ 3
2.2. Tuần hoàn của tư bản sản xuất 3
2.3. Tuần hoàn của tư bản hàng hóa 4
II. Chu chuyển của tư bản 4
1.Chu chuyển của tư bản và thời gian chu chuyển tư bản 4
1.1. Khái niệm 4
1.2. Thời gian chu chuyển của tư bản 4
2. Các nhân tố ảnh hưởng đến chu chuyển tư bản 7
2.1.Quá trình sản xuất 7
2.2. Quá trình lưu thông 8
3. Biện pháp đẩy nhanh tốc độ chu chuyển tư bản 8
B. Biện pháp nâng cao việc sử dụng hiệu quả nguồn vốn trong
DNNN 10
I. DNNN. Vai trò của DNNN. Thực trạng còn tồn tại 10
1. DNNN. Vai trò của DNNN 10
1.1. Khái niệm 10
1.2. Vai trò của DNNNN 10
Em xin chân thành cảm ơn thầy!
3
A. LÝ LUẬN TUẦN HOÀN VÀ CHU CHUYỂN TƯ BẢN
I. TUẦN HOÀN TƯ BẢN
1. Các giai đoạn biến hoá của tư bản
1.1. Khái niệm
Tư bản là quan hệ sản xuất xã hội và nó luôn luôn vận động và lớn lên
không ngừng. Trong quá trình tồn tại dưới nhiều hình thái khác nhau và liên
tục chuyển từ hình thái này sang hình thái khác. Đó là sự tuần hoàn tư bản.
1.2. Sự vận động của tư bản
Tư bản vận động qua ba giai đoạn.Giai đoạn 1: Lưu thông: T- H
Đây là giai đoạn dùng tiền mua hàng hoá trên thị trường gồm tư liệu
sản xuất và sức lao động. Tư bản xuất hiện dưới hình thái tiền là tư bản tiền
tệ. Đây là đặc trưng cơ bản nhất của sản xuất tư bản chủ nghĩa khi sức lao
động trở thành hàng hoáđặc biẹt có thể trao đổi trên thị trường. Do vậy
không phải tiền đẻ ra quan hệ sản xuất TBCN, mà ngược lại quan hệ sản
xuất TBCN làm cho tiền có thể trở thành tư bản.
Giai đoạn 2: Sản xuất: H- SX-…-H':Tư bản tồn tại dưới hình thái hai
yếu tố tư liệu sản xuất và sức lao động là tư bản sản xuất. Đây là giai đoạn
sử dụng các yếu tố đã mua để tổ chức quá trình sản xuất TBCN mà trong
quá trình này công nhân tạo ra giá trị và giá trị thặng dư do quá trình sản
xuất tạo ra.Quá trình này cần chú ý sự kết hợp giữa lao động và tư liệu sản
xuất để đạt lợi nhuận tối đa.
Giai đoạn 3: H- T: Lưu thông: Hàng hoá so quá trình sản xuất TBCN
tạo ra là tư bản hàng hoá trong đó không phải chỉ có giá trị tư bản ứng trước
mà cả giá trị thặng dư do quá trình sản xuất tạo ra. Khi tồn tại dưới hình thái
hàng hoá, tư bản chỉ thực hiện được chức năng của hàng hoá khi nó được
ván đi tức là chuyển hoá được thành tiền với T > t.
Mỗi giai đoạn thực hiện một chức năng Tư bản tiền tệ_Tư bản sản
xuất_ Tư bản hàng hoá. Sự vận động của tư bản là một chuỗi những biến
hay sản xuất chỉ là các yếu tố trung gian không thể tránh được. Đây là hình
thái đặc trưng nhất nổi bật nhất, nêu rõ được mục đích của tuần hoàn TBCN
là làm tăng giá trị và tạo ra giá trị thặng dư. Nhưng đây là hình thái phiến
diện nhất, che giấu quan hệ bóc lột TBCN.
2.2. Tuần hoàn tư bản sản xuất: SX- … SX. Mở đầu và kết thúc
quá trình tuần hoàn là sản xuất, vận động của tư bản biểu hiện ra là sự vận
động khồng ngừng của sản xuất hàng hoá, và tiền tệ chỉ là yếu tố trung gian,
toàn bộ quá trình lưu thông H- T- H chỉ là điều kiện cho sản xuất. Tuần hoàn
5
của tư bản không chỉ ra được động cơ, mục đích vận động của tư bản là tăng
giá trị và tạo ra giá trị thặng dư, nhưng lại làm rõ được nguồn gốc của tư
bản. Nguồn gốc đó là lao động công nhân tích luỹ lại. Nếu chỉ xét riêng tư
bản sản xuất ta có thể bị nhầm lẫn mục đích của tư bản là sản xuất, trung
tâm của vấn đề là sản xuất nhiều và rẻ, có trao đổi là trao đổi sản phẩm để
sản xuất được liên tục
2.3. Tuần hoàn tư bản hàng hoá: H-H: Mở đầu và kết thúc giai đoạn
là hàng hoá. Vận động của tư bản biểu hiện ra là sự vận động của hàng hoá.
Hình thái tuâng hoàn này nhấn mạnh vai trò của lưu thông hàng hoá và tính
liên tục của lưu thông. Quá trình sản xuất và lưu thông của tiền tệ chỉ là điều
kiện cho lưu thông hàng hoá.
Quá trình tuần hoàn tư bản hàng hoá bộc lộ mối quan hệ giữa những
người sản xuất hàng hoá với nhau. Nó vạch rõ sự lưu thông hàng hoá là điều
kiện thường xuyên của sản xuất và tái sản xuất, song quá nhấn mạnh vai trò
của lưu thông hàng hoá: mọi yếu tố của quá trình sản xuất đều do lưu thông
hàng hoá và chỉ gồm có hàng hoá.
Sự vận động của tư bản chủ nghĩa
Đó là sự thống nhất của ba hình thái tuần hoàn. Nếu chỉ xét riêng từng
hình thái tuần hoàn tư bản thì chỉ phản ánh phiến diện, làm nổi bật mặt này
và che giấu mặt khác. Vì vậy cần xem xét ba hình thái tuần là một thể chặt
chẽ trong mối quan hệ của chúng.
giá trị, nhưng thời gian dự trữ sản xuất và thời gian gián đoạn lao động là
không tránh khỏi, Vì vậy rút ngắn được thời gian này là điều kiện cơ bản để
nâng cao hiệu quả sản xuất của tư bản.
b. Thời gian lưu thông
Là thời gian tư bản nằm trong quá trình lưu thông. Thời gian lưu
thông gồm thời gian mua nguyên nhiên vật liệu và thời gian bán hàng hoá,
kể cả thời gian vận chuyển.
Thời gian lưu thông phụ thuộc vào nhiều yếu tố như : Tình hình thị
trường, quan hệ cung- cầu, giá cả trên thị trường, khoảng cách tới thị trường,
trình độ phát triển giao thông vận tải Trong thời gian lưu thông, tư bản
không làm chức năng sản xuất, không tạo ra giá trị cho sản phẩm và giá trị
thặng dư cho tư bản. Tuy nhiên, không thể thiếu sự tồn tại của nó, vì đó là
đầu vào và đầu ra của sản xuất. Rút ngắn được thời gian lưu thông sẽ làm rút
7
Thời gian
chu chuyển
Thời gian
sản xuất
Thời gian
lưu thông
ngắn thời gian chu chuyển, làm cho quá trình sản xuất đựơc lặp lại nhanh
hơn, làm tăng hiệu quả của tuần hoàn tư bản. Ta có :
Thời gian lưu thông = Thời gian bán hàng + Thời gian mua hàng
c. Tốc độ chu chuyển tư bản
Thời gian chu chuyển tư bản chịu sự ảnh hưởng của nhiều yếu tố nên
thời gian chu chuyển trong cung một ngành và giữa những ngành khác nhau
là rất khác nhau. Để so snáh được cần tính tốc độ chu chuyển tư bản. Tăng
tốc độ chu chuyển của tư bản có ý nghĩa quan trọng trong việc tăng hiệu quả
họat động của tư bản.
Trước hết tăng tốc độ chu chuyển của tư bản cố định sẽ tiết kiệm
cần một lượng tư bản khả biến ứng trước là 500 còn tư bản B, sau 50 tuần
cũng tạo ra niith gúa trị thặng dư là 100x 50 =5000, nhưng cần một lượng tư
bản khả biến ứng trước là 5000.
Tỷ suất giá trị thặng dư hang năm là M với tư bản khả biến ứng trước V.
M' =M/V x100% = mxn/Vx 100% =m'.n
Trong đó: m là giá trị thặng dư tạo ra trong 1 vòng chu chuyển
m/v là tỷ suất giá trị thăngh dư thực tế
n: là số vòng chu chuyển trong năm
Ở tư bản Am tỷ suất giá trị thặng dư hàng năm là:
M' = 5000/500 x 100%= 100%
Như vậy mặc dù có tỷ suất giá trị thặng dư m' phản ánh trình độn bóc
lột ở tư bản A và B như nhau, nhưng tỷ suất giá trị thăng dư hàng năm M'
phản ánh hiệu quả hoạt động của hai tư bản đó lại khác nhau. Bởi vậy, việc
lựa chọn ngành có thời gian chu chuyển chắn hơn và tìm mọi cách rút ngắn
thời gian của một vòng chu chuyểnlà một trong những biện pháp để nâng
cao hiệu quả sử dụng của các doanh nghiệp. Điều đó gây ra ảo tưởng rằng
lưu thông cũng tạo ra giá trị thặng dư dho tư bản. Song thực tế không phải
vậy, chu chuyển nhanh vì do đã thu hút được nhiều lao động hơn, nhờ đó mà
tạo ra được nhiều giá trị mới trong đó có giá trị thặng dư.
Tốc độ chu chuyển tư bản bằng số vòng chu chuyển thực hiện được
trong một khoảng thời gian nhất định, ví dụ như một năm.
2. Các nhân tố ảnh hưởng đến chu chuyển tư bản.
Gồm : Quá trình sản xuất và quá trình lưu thông
2.1 Quá trình sản xuất
Quá trình sản xuất chịu rất nhiều ảnh hưởng bởi hai nhân tố: Tư bản
cố định và tư bản lưu động.
9
a. Tư bản cố định
Tư bản cố định là bộ phận tham gia vào toàn bộ quá trình sản xuất
nhưng giá trị của nó được chuyển dần vào từng phần của sản phẩm lao động
10
ra rất mạnh mẽ nên xuất hiện các công ty đa quốc gia, các công ty xuyên
quốc gia. Sản phẩm không chỉ lưu thông trong một quốc gia, một khu vực
mà nó còn tràn ngập trên toàn thế giới. Ví dụ như: Các sản phẩm nước giải
khát Cocacola, Pepsi của Mỹ. Các sản phẩm điện tử của Nhật rất được nhiều
tiêu dùng trên toàn thế giới yêu thích. Cũng do khoảng cách về không gian
rất rộng, nên quá trình lưu thông sẽ diễn ra chậm hơn so với ngày trước,
nhưng đó không phải là điều thể hiện sự đi xuống của kinh tế mà nó là hiện
tượng khách quan, cũng như sự phát triển lớn mạnh của các tập đoàn kinh
tế.
3. Biện pháp đẩy nhanh tốc độ chu chuyển tư bản
Trong quá trình sản xuất cần rút ngắn thời gian gián đoạn lao động và
thời gian dự trữ sản xuất.Đây là thời gian không tạo ra gía trị cho sản phẩm,
nhưng không thể thiếu được. Trong thời gian gián đoạn sản xuất và thời gian
dự trữ lao động có thể xảy ra hao mòn vô hình và hao mòn hữu hình. Vì vậy
càng rút ngắn được quá trình này càng hạn chế được thiệt hại do hai loại hao
mòn này gây ra, và rút ngắn được thời gian chu chuyển tư bản. Còn thời
gian sản xuất thì cần rút ngắn bằng cách nâng cao năng suất lao động và
hiệu quả lao động. Để tăng được năng suất lao động cần phải sử dụng máy
móc phù hợp với mục đích kinh doanh để đạt được hiệu quả cao nhất. Máy
móc không được quá lạc hậu nhưng cũng không quá hiện đại mà không có
khả năng khai thác hết chức năng của nó. Trong quá trình sản xuất cần tạo ra
khâu sản xuất liên hoàn, như vậy sẽ hạn chế được "thời gian chết". Vì như
vậy sẽ đánh vào trách nhiệm của mọi người hơn, chỉ cần nghẽn ở một khâu
thôi sẽ gây ra cả quy trình sản xuất bị đình trệ, nên sẽ nâng cao được hiệu
quả sản xuất. Đối với thời gian lưu thông để tăng tốc độ chu chuyển cần rút
ngắn khoảng cách từ nơi cung cấp đầu vào đến nơi sản xuất. Và hàng hoá
sản xuất ra lưu thông thông suốt, không bị dư thừa, ế ẩm. Muốn làm vậy
phải nâng cao chất lượng sản phẩm. Việc nâng cao chất lượng sản phẩm
đóng vai trò quyết định nhưng bên cạnh đó cần chú trọng khâu bán hàng. Để
DNNNlà lực lượng nắm hầu hết các nguồn lực cơ bản trong xã hội: 86,6%
tổng số vốn, 85% tài sản cố định, 100% mỏ, 80% rừng, 90% lao động được
đào tạohệ thống và nhận được hầu hết các ưu đãi của nhà nước so với các
thành phần kinh tế khác. Lực lượng DNNN đang là lực lượng then chốt
trong sản xuất công nghiệp, trong hoạt đọng xuất- nhập khẩu, trong lĩnh vực
tài chính-ngân hàng-tín dụng. Và trong một số ngành khác như: Bưu chính
viễn thôngm diện DNNN giữ vai trò độc quyền
Vài năm trở lại đây, xét về mặt số lượng thì số DNNN giảm đi nhiều
nhưng về mặ chất lượng lại tăng lên đáng kể do sự năng động hơn trong cơ
cấu quản lý. DNNN luôn thể hiện vai trò chủ đạo của mình, là động lực của
sự phát triển kinh tế của nứơc ta.
DNNN gồm có hai loại hình hoạt động với hai mục đích khác nhau.
Doanh nghiệp sản xuất kinh doanh với mục đích tối đa hoá lợi nhuận.
13
Doanh nghiệp công ích đặt lợi ích phục vụ xã hội là chủ yếu. Nhưng trong
quá trình hoạt động cũng phải hạch toán kinh tế, tránh làm ăn thua lỗ để nhà
nước phải bù lỗ. Cần xem xét một cách toàn diện giữa lợi ích của xã hội và
lợi ích kinh tế.Như hiện nay, hoạt động của ngành vận tải xe buýt. Với
phương tiện giao thông này vừa rẻ và thuận tiện cho người dân, đồng thời
giảm ách tắc giao thông, ít gây ô nhiễm môi trường nó đã mang lại rất
nhiều lợi ích cho xã hội. Xét trên khía cạnh kinh tế thì hàng năm nhà nước
phải bù lỗ vài trăm tỉ đồng để dịch vụ này có thể đưa vào sử dụng. Nhưng so
sánh giữa lợi ích xã hội đạt được và chi phí kinh tế bỏ ra thì lợi ích xã hội
thu lại nhiều hơn. Và vì vậy, nên vừa qua nhà nước mới đầu tư thêm 20
chiếc xe nữa đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng thêm của ngươì dân đối với
dịch vụ tiện ích này.
Có thể thấy rằng DNNN đóng vai trò rất quan trọng, là động lực của
sự tăng trưởng kinh tế và phát triển xã hội.
2. Những thực trạng còn tồn tại.
Bên cạnh những kết quả đã đạt được, các doanh nghiệp vẫn còn
tranh nổi với doanh nghiệp của nước ngoài, còn các DNNN khác lại càng
khó khăn hơn. Hà Nội là một thành phố có nhiều DNNN. Năm 97 so với
năm 95 doanh thu của DNNN tăng 12,56%, nhưng mức tăng này giảm dần
từ 10,1% năm 96 xuống còn 2,2% vào năm 97. Tổng lãi thực hiện của các
DNNN năm 97 chỉ bằmg 78% của năm 95. Lỗ cộng dồn năm 97 tuy có giảm
6% so với năm 96, nhưng tăng 2,3 lần so với năm 95. Tổng nộp ngân sách
của DNNN ở Hà Nội năm 97 chỉ bằng 92,76% so với 95, trong khi đó, trong
ba năm 95-97 mức tăng vốn kinh doanh của các doanh nghiệp là 25,22% và
mức tăng của vốn ngân sách là 43,54%, nhưng mức đóng ngân sách lại
giảm, thấp hơn năm 95 là 7%. Điều đáng chú ý là, việc tăng đóng góp vào
ngân sách chủ yếu sà do tăng phần thuế tiêu thụ đặc biệt, về thực chất , là
thuế do doanh nghiệp đóng hộ người tiêu dùng, không phải do hoạt động
hiệu quả của doanh nghiệp. Phần thuế lợi tức thể hiện hiệu quả sản xuất kinh
doanh của doanh nghiệp thì giảm gần 19%. Hiện nay doanh nghiệp vẫn còn
nhiều về số lượng, nhỏ về quy mô và còn có sự dàn trải không cần thiết vượt
quá khả năng nguồn lực của nhà nước hiện có. Số doanh nghiệp có vốn nhà
nước dưới 5 tỷ đồng chiếm khoảng 72,5%, trong đó số doanh nghiệp dưới 1
tỷ đồng chiếm 26%, và chỉ xó 19,81%số doanh nghiệp có vốn nhà nước trên
10 tỷ đồng. Qua đó ta thấy quy mô DNNN nước ta nhỏ bé như thế nào. Ta
có bảng số liệu sau về hoạt động của DNNN:
15
1995 1996 1997 1998
Tỷ trọng GDP của DNNNtrong
toàn bộ nền kinh tế (%)
40,18 40,48 40,47 40,21
Tỷ trọng DNNN bị lỗ (%) 16,49 22,00 24,50 16,9
Tỷ suất lợi nhuận trên vốn (%) 0,16 0,12 0,12 0,11
Tỷ suất nộp ngân sách trên
vốn(%)
0,27 0,33 0,28 0,26
liệu sản xuất không mang hình thái tư bản, nó mang hình thái vốn bao gồm:
Vốn cố định và vốn lưu động.
Vốn cố định ứng với tư bản cố định, vốn lưu động ứng với tư bản lưu động
1. Vốn cố định bao gồm : Nhà xưởng, máy móc, các công trình
phục vụ sản xuất
So với những năm trước đây, DNNN hiện nay có cơ sở vật chất hạ
tầng, máy móc, trang thiết bị hiện đại hơn nhiều. Đó là điều kiện thuận lợi
để các doanh nghiệp làm ăn hiệu quả hơn. Tuy vậy so với các quốc gia trên
thế giới, kinh tế Việt Nam còn lạc hậu. Có những công nghệ ở các nước phát
triển đã khâú hao được hết giá trị vào sản phẩm nhưng ta vẫn nhập khẩu để
sản xuất vì những công nghệ vẫn còn hiện đại đối với nước ta, trong khi các
quốc gia này tiếp tục đổi mới công nghệ, như vậy khoảng cách về công nghệ
của nước ta với các quốc gia phát triển ngày càng nới rộng. Từ đó, Việt Nam
đã chủ trương kết hợp công nghiệp hoá với hiện đại hoá nền kinh tế. Còn đối
với các doanh nghiệp thì cần cố gắng bằng nội lực đổi mới công nghệ vì đây
là điểm tựa quan ttọng để phát triển doanh nghiệp hiện đại,dù ở nước ta khả
năng còn hạn chế.Quá trình này bao gồm phát minh, sử dụng sản phẩm
mới , phát triển công dụng mới của sản phẩm, giành nguồn nguyên liệu mới
hoặc mở ra thị trường mới , áp dụng công nghệ sản xuất mới hoặc ứng dụng
phương pháp quản lí mới…Đổi mới công nghệ là quá trình nhất thể hoá
khoa học kỹ thuật với kinh tế, chuyển hoá khoa học , công nghệ thành lực
lượng sản xuất đồng thời sáng tạo ra sản phẩm thương mại hoá để thoả mãn
nhu cầu nhiều mặt của thụ trường hiện đại. Do thuộc tính nội tại của kinh tế
thụ trường lợi ích của doanh nghiệp và sức cạnh tranh là nguyên nhân thúc
đẩy doanh nghiệp đổi mới công nghệ. Vì vậy các DNNN để nâng cao sức
cạnh tranh thì cần phải tích cực đổi mới công nghệ. Để đổi mới công nghệ,
phải đào tạo đội ngũ cán bộ doanh nghiệp mới. Đổi ngũ những người đổi
mới công nghệ bao gồm các nhà quản lý doanh nghiệp, các cán bộ khoa học
công nghệ và công nhân lành nghề. Thiếu một vế trong đội ngũ này thì việc
17
giờ vẫn là chiếc xe đó nhưng giá chỉ còn lại 15 triệu đồng. Như vậy người
mua xe lúc đầu coi như đã mất đi 5 triệu đồng dù chiếc xe còn nguyên giá trị
sử dụng.
18
Thứ hai, do khoa học kỹ thuật phát triển, máy móc ra đời sau luôn
luôn tối tân hơn. Vì vậy trên thực tế giá trị của máy móc trước đó lại giảm
giá trị. Vẫn lấy ví dụ là chiếc xe máy. Nhiều năm về trước chiếc Dream Thái
rất phổ biến ở Việt Nam với giá khoảng 27 triệu đồng. Nhưng hiện tại loại
xe này không còn được thông dụng nữa, và nó được thay thế bởi các loại xe
có giá trị tương đương nhưng đa dạng về mẫu mã, kiểu dáng như Attila,
Jupiter Qua sự phân tích trên ta thấy rằng hao mòn vô hình là không thể
tránh khỏi nên trong quá trình sản xuất phải đặc biệt phải chú ý đến hao mòn
vô hình. Ngày nay do sự tác động của khoa học kĩ thuật tư bản cố định càng
có nguy cơ hao mòn vô hình. Để khắc phục tình trạng này thì các DNNN
cần:
Thứ nhất, phải tìm mọi cách để khấu hao nhanh tư bản cố định. Tỉ lệ
khấu hao thường được tính rất cao ngay từ những năm đầu chế tạo sả phẩm
mới, lợi dụng giá sản phẩm cao ở ầu chu kỳ sản phẩm, sau đó giảm dần khấu
hao cùng với việc giảm giá sản phẩm cuối chu kỳ của nó. Đối với những
doanh nghiệp quy mô vừa và nhỏ việc đổi mới tư bản cố định dễ dàng hơn
đối với các doanh nghiệp quy mô lớn. Các doanh nghiệp này cần phải có sự
nhạy bén, năng động trong kinh doanh và cơ cấu tổ chức chặt chẽ thì mới
thực hiện tốt được điều này.
Thứ hai, DNNN phải đặc biệt chú ý trong khâu mua, chuyển giao
công nghệ phải phù hợp với mục đích sản xuất kinh doanh và phù hợp với
thời đại, tránh mua những công nghệ lạc hậu hoặc những công nghệ quá
hiện đại mà chưa có khả năng khai thác một cách có hiệu quả. Thực tế đã
cho thấy, trong quá trình mua và chuyển giao công nghệ, Việt Nam đã gặp
những thất bạinặng nề.
Ví dụ : 1972 Nhà nước xây dựng nhà máy sản xuất Diezen ở Sông
Trong đó : t là thời gian hữu dụng của vốn cố định
t' là thời điểm ( năm thứ i ) cần trích khấu hao
Mức khấu haovốn cố định năm thứ i = Nguyên giá vốn cố định x Tỷ
lệ khấu hao năm thứ i.
Phương pháp khấu hao theo sản lượng: Phương pháp này đòi hỏi phải
xác định được mức khấu hao tính cho một đơn vị sản lượng dự kiến, từ đó
căn cứ vào sản lượng thực tế thực hiện khi sử dụng tài sản để xác định mức
khấu hao cho phải trích hàng năm.
Mức khấu hao tính cho đơn vị sản phẩm= Nguyên giá vốn cố định/
tổng sản phẩm dự kiến.
20
Mỗi doanh nghiệp lựa chọn cho mình một hình thức khấu hao khác
nhau phù hợp với công dụng, cách thức sử dụng vốn phù hợp nhằm thu
được lợi ích kinh tế trong qúa trình sử dụng. Đối với nhà cửa , vật liệu kiến
trúc, các tài sản vô hình… áp dụng phương pháp khấu hao theo đường
thẳng. Đối với máy móc, thiết bị, phương tiện vận tải thường gắn liền với
quá trình sản xuất kinh doanh, tính năng công suất sử dụng bị giảm dần
trong quá trình sử dụng cho phép áp dụng phương pháp khấu hao theo sản
lượng hoặc phương pháp khấu hao giảm dần. Dụng cụ , thiết bị thường chịu
tác động của hao mòn vô hình nhiều áp dụng phương pháp khấu hao giảm
dần.
2. Vốn lưu động. Sử dụng vốn lưu động
Vốn lưu động gồm: Lao động và nguyên , nhiên vật liệu.
Việt Nam là quốc gia có ưu thế lớn về nguồn lao động và tài nguyên
thiên nhiên. Nguồn lao động nước ta dồi dào, trẻ, giá rẻ. Nhưng bên cạnh
thuận lợi đó thì chúng ta phải đối mặt với một thách thức lớn đó là giải
quyết việc làm cho nguồn lao động này.Tỉ lệ thất nghiệp ở nước ta khá cao,
lượng thất nghiệp này chủ yếu là lao động phổ thông và cử nhân đại học và
cao đẳng. Lượng lao động này thì dư thừa trong khi lượng lao động có tay
nghề thiếu trầm trọng. Vì vậy hầu hết các doanh nghiệp khi tuyển lao động
việc rèn luyện tác phong, đạo đức nghề nghiệp. Đó là khía cạnh không thể
thiếu được đặc biệt đối với bộ máy quản lý. Đức mà không có tài thì vô
dụng, nhưng tài mà thiếu đức thì thành "tai"- tai hoạ.Có rất nhiều vụ án đưa
ra xét xử về tội tham ô, hối lộ của các quan chức cấp cao.Gần đây nhất, là vụ
của Lã Thị Kim Oanh được sự bao che của các quan chức trong các bộ,
ngành đã gây tổn thất hàng trăm tỉ đồng cho nhà nước. Và khi đưa ra ánh
sáng thì số tiền thu được cũng chẳng được bao nhiêu, do các bị cáo đã tẩu
tán số tiền này dưới nhiều hiình thức khác nhau. Vậy việc nâng cao đạo đức
nghề nghiệp trong doanh nghiệp có vai trò rất quan trọng. Việc nâng cao đạo
đức nghề nghiệp cũng nhằm hạn chế những tiêu cực khác như : "Cha truyền,
con nối" vẫn tồn tại trong doanh nghiệp nhà nước- điều làm giảm chất lượng
nguồn lao động đầu vào, do đó dẫn tới làm giảm chất lượng đội ngũ cán bộ
điều hành quản lý. Trong điều kiện hiện nay để làm ăn có hiệu quả các
doanh nghiệp phải có bộ máy quản lý tốt, phân công nhiệm vụ cũng như
quyền lợi rành mạch. Cơ cấu quản lý hợp lý. Đó chính là yếu tố quan trọng
quyết định sự thành công của doanh nghiệp. Có những doanh nghiệp có quy
mô nhỏ bé nhưng do có cơ cấu tổ chức hợp lý thì doanh nghiệp đó vẫn có
22
thể thành công. Bộ phận này tốt sẽ thực hiện tốt các khâu còn lại như: việc
mua hàng, bán hàng, tổ chức sản xuất… Ngoài những vấn đề trên các
DNNN đang gặp phải khó khăn sau: tình trạng thiếu vốn trong sản xuất. Đối
với vốn lưu động chỉ có 50% được huy động vào sản xuất kinh doanh, còn
lại nằm trong tài sản, công nợ không thu hồi được, lỗ chưa bù đắp được. Ví
dụ: Vốn lưu động của Nhà máy đóng mới và sửa chữa phương tiện thuỷ Cần
Thơ thuộc tổng công ty Đường sông miền Nam chỉ có 80 triệu đồng. Cảng
Hà Nội chỉ có 140 triệu đồng vốn lưu động. Đây là khó khăn với các doanh
nghiệp nhà nứơc nhưng không phải là không khắc phục được, vấn đề là ở
chỗ phải tổ chức cơ cấu quản lý hợp lý. Cơ cấu tổ chức hợp lý sẽ thực hiện
tốt các khâu khác: mua hàng, bán hàng, sản xuất…. Nó là điều quyết định
việc sản xuất hiệu quả của các DNNN.
giảm, nhưng chất lượng thì đã tăng lên rất nhiều. Điều này thể hiện ở trong
quá trình hoạt động, quy mô sản xuất và hiệu quả sản xuất kinh doanh.
DNNN bao gồm hai loại hình: Doanh nghiệp công ích và doanh
nghiệp sản xuất kinh doanh. Mỗi doanh nghiệp hoạt động với mục đích khác
nhau. Doanh nghiệp công ích với mục đích phục vụ lợi ích xã hội, doanh
nghiệp sản xuất kinh doanh mục đích tối đa hoá lợi nhuận. DNNN là động
lực sự tăng trưởng kinh tế và phát triển xã hội ở Việt Nam. Tuy vậy bên
cạnh những thành quả đã đạt được thì các DNNN nói chung vẫn còn tồn tại
những hạn chế. Và chung quy lại vẫn là sử dụng nguồn vốn không hiệu quả.
Qua nghiên cứu Tuần hoàn và chu chuyển tư bản và áp dụng vào
DNNN, ta thấy muốn sử dụng có hiệu quả nguồn vốn cần sử dụng hiệu quả
từng bộ phận của nó đó là vốn cố định và vốn lưu động. Vốn cố định bao
gồm: nhà máy, máy, máy móc, các công trình sản xuất liên quan…Muốn sử
dụng hiệu quả nguồn vốn này cần tận dụng tối đa công suất của máy móc
khi đưa vào hoạt động, nâng cao năng suất lao động, lập quỹ khấu hao để bổ
sung vào hao mòn vô hình và hao mòn hữu hình không thể tránh khỏi trong
qúa trình sản xuất. Vốn lưu động bao gồm nguyên liệu, nhiên liệu, vật liệu,
lao động… Đối với các nguồn nguyên liệu đầu vào, để sử dụng có hiệu quả
cần rút ngắn khoảng cách đến nơi sản xuất để rút ngắn thời gian chu chuyển
cũng như hạn chế chi phí vận chuyển. Bên cạnh đó trong quá trình sản xuất
cần tiết kiệm ( không phải là ăn bớt) nguyên vật liệu.Xét trên một đơn vị sản
phẩm thì số tiền tiết kiệm không đáng kể, nhưng khi sản xuất hàng loạt thì
giảm được rất nhiều chi phí. Đối với nguồn lao động cần chú trọng đào tạo
về chuyên môn, nhưng vấn đề đạo đức nghề nghiệp cũng hết sức quan trọng.
Nguồn lao động là yếu tố quyết định các yếu tố khác. Vì vậy trong quá trình
sản xuất kinh doanh phải đặc biệt lưu ý tới nhân tố này, phải tổ chức sản
xuất một cách hợp lý để đạt đựơc năng suất lao động tối đa. Trên đây là
25