Đổi mới lãnh đạo và quản lý trường phổ thông - Pdf 16

CHUYÊN ĐỀ 1
ĐỔI MỚI LÃNH ĐẠO VÀ QUẢN LÝ
TRƯỜNG PHỔ THÔNG
(School Leadership and Management Innovation)
ĐỔI MỚI LÃNH ĐẠO VÀ QUẢN LÝ TRƯỜNG PHỔ THÔNG
(School Leadership and Management Innovation)
THỜI LƯỢNG: 10 tiết (4 tiết lý thuyết, 6 tiết thực hành)
MÔ TẢ CHUYÊN ĐỀ
Đổi mới lãnh đạo và quản lý trường phổ thông là chuyên đề nhằm giới thiệu với
học viên:
- Lý do phải đổi mới lãnh đạo và quản lý trường phổ thông;
- Những định hướng chiến lược, các quan điểm chỉ đạo về phát triển giáo dục và
lựa chọn mô hình quản lý trường phổ thông;
- Vai trò lãnh đạo, quản lý và những nội dung cơ bản cần thay đổi trong lãnh đạo
và quản lý trường phổ thông trước bối cảnh toàn cầu hoá và hội nhập.
MỤC TIÊU
Sau khi học xong chuyên đề học viên sẽ:
- Giải thích được tính tất yếu và sự cấp thiết phải đổi mới lãnh đạo, quản lý giáo
dục nói chung và giáo dục phổ thông nói riêng trong bối cảnh kinh tế – xã hội toàn cầu
hiện nay;
- Đề xuất được những lĩnh vực cần tạo ra sự thay đổi trong lãnh đạo và quản lý tại
cơ sở đang công tác;
- Có niềm tin và quyết tâm đổi mới lãnh đạo và quản lý các hoạt động giáo dục
trong trường phổ thông.
NỘI DUNG
1. Sự cấp thiết phải đổi mới lãnh đạo và quản lý trường phổ thông trong bối cảnh
toàn cầu hoá và hội nhập
1.1. Sự cấp thiết phải đổi mới lãnh đạo và quản lý trường phổ thông nhìn nhận trên
phương diện lý luận giáo dục và quản lý giáo dục
1) Mối quan hệ biện chứng giữa phát triển giáo dục với phát triển KT-XH
• Sự nghiệp phát triển giáo dục của bất kỳ một quốc gia nào trên thế giới cũng

- Bình diện vùng dân cư và bình diện xã hội (Community Level and Society Level):
nhà trường nhằm vào nhu cầu chính trị của xã hội, của địa phương để tăng cường độ chấp
nhận quyền lực của chính quyền, duy trì sự ổn định cơ cấu chính trị, nâng cao ý thức dân
chủ, tạo thuận lợi cho sự phát triển và cải thiện chính trị. Nhà trường sẽ chuẩn bị hữu ích
cho học sinh sự hiểu biết lẫn nhau giữa các nước, lợi ích chung của toàn cầu, sự liên kết
quốc tế và phong trào hoà bình; đồng thời xoá bỏ những mâu thuẫn giữa các khu vực, các
dân tộc để tạo ra lợi ích lâu dài của thế giới và sự tin cậy lẫn nhau.
 Nhà trường phổ thông với chức năng kinh tế/ kỹ thuật (Technical/ Economic Function)
Nhà trường có thể cống hiến cho sự phát triển kinh tế đối với cá nhân, tổ chức,
vùng dân cư, xã hội và quốc tế. Cụ thể:
- Trên bình diện cá nhân: nhà trường giúp học sinh có được tri thức và kỹ năng để họ
có thể sinh tồn trong xã hội hiện đại hoặc nền kinh tế cạnh tranh; đồng thời tạo cơ hội cho
giáo viên và nhân viên trong Ngành trưởng thành, thăng tiến.
- Trên bình diện tổ chức: nhà trường là đơn vị cung cấp những dịch vụ chất lượng cao
và cũng là nơi dành cho các giáo viên, nhân viên hữu quan sống và học tập.
- Bình diện vùng dân cư và bình diện xã hội: nhà trường cung cấp nhân lực chất
lượng cao cho hệ thống kinh tế của xã hội bản địa, gây dựng những hành vi kinh tế của các
học sinh, đồng thời duy trì sự phát triển của cơ cấu nhân lực trong hệ thống kinh tế.
- Trên bình diện quốc tế: nhà trường giáo dục sự cạnh tranh và hợp tác quốc tế, bảo
vệ trái đất, cùng sự giao lưu thông tin khoa học kỹ thuật; cung cấp nguồn nhân lực trình
độ cao cho các nhu cầu cần thiết.
 Nhà trường phổ thông với chức năng con người/ xã hội (Human/ Social Function)
Nhà trường có chức năng nhất định trong sự phát triển quan hệ giữa người với
người và quan hệ xã hội ở các bình diện khác nhau. Cụ thể:
- Trên bình diện cá nhân: nhà trường giúp các học sinh phát triển tâm lý, sinh lý,
giao tiếp và triệt để phát huy tiềm năng của họ.
- Trên bình diện tổ chức: nhà trường là một thực thể xã hội (Social Entity) do các
mối quan hệ con người khác nhau hợp thành hoặc là một phần tử của hệ thống xã hội.
Chính vì vậy, nhà trường có chức năng của một tổ chức trong xã hội.
- Bình diện vùng dân cư và bình diện xã hội: Nhà trường phục vụ cho nhu cầu

- Bình diện vùng dân cư và bình diện xã hội: nhà trường cung cấp những dịch vụ
cho nhu cầu giáo dục khác nhau của vùng dân cư để giúp cho sự phát triển của ngành
giáo dục và các cơ quan giáo dục, để chuyển giao các thông tin tri thức cho thế hệ sau và
để giúp cho xã hội trở thành một xã hội học tập (Learning Society).
- Bình diện quốc tế: nhà trường cổ vũ cho sự hiểu biết lẫn nhau giữa các dân tộc,
hiệp trợ với thế hệ trẻ xây dựng một “đại gia đình toàn cầu” hoặc “mái nhà chung”
(Global Village), nhà trường có thể dồn sức lực của mình cho các giao lưu giáo dục toàn
cầu (Global Education) và giáo dục quốc tế (Internationnal Education), cống hiến cho sự
nghiệp giáo dục toàn thế giới.
Kết luận: Trước sự thay đổi không ngừng của xã hội thì mọi cá nhân, tổ chức, cộng
đồng và xã hội luôn luôn có những yêu cầu mới đối với các hoạt động giáo dục của nhà
trường; dẫn đến nhà trường phải có sự thay đổi để thực hiện được các chức năng chính trị,
kinh tế, con người/ xã hội, văn hoá và cả chức năng giáo dục.
1.2. Sự cấp thiết phải đổi mới lãnh đạo và quản lý trường phổ thông nhìn nhận trên
phương diện thực tiễn phát triển giáo dục toàn cầu
1) Kinh tế tri thức, sự phát triển KH&CN, xu thế hội nhập và cơ chế thị
trường là đặc trưng chủ yếu của thời đại
Các quốc gia trên thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng đang có sự chuyển đổi
nhanh từ nền văn minh vật chất sang nền văn minh tinh thần, từ nền kinh tế hậu công nghiệp
sang nền kinh tế tri thức với sự phát triển như vũ bão của KH&CN, đặc biệt là xu thế toàn
cầu hoá và cơ chế thị trường đã tạo ra một số đặc trưng mới của thời đại ngày nay:
 Giá trị của tài sản trí tuệ.
Hiện nay tài sản hữu hình (bất động sản, máy móc, thiết bị, ) chỉ chiếm một tỷ lệ
nhỏ so với tài sản vô hình (tư tưởng, tri thức, bí quyết, tài năng, sáng tạo, sự độc đáo,
danh tiếng, thương hiệu, ); trong đó tài sản trí tuệ và tài sản tri thức đóng vai trò chủ
yếu. Từ đó nhiều nước phát triển trên thế giới coi trọng sở hữu trí tuệ và điều này vừa
khuyến khích việc sáng tạo ra các giá trị tinh thần, lại vừa nới rộng khoảng cách giầu và
nghèo giữa các nước.
 Sự phát triển như vũ bão của KH&CN.
KH&CN sinh học, công nghệ điện tử phát triển mạnh và đặc biệt là sự phát triển quá

 Tính đổi mới và sáng tạo là một dạng tài sản quý giá nhất.
Tính đổi mới và sáng tạo là một dạng tài sản quý giá nhất của bất kỳ một doanh
nghiệp cũng như của một quốc gia nào. Trong nền kinh tế tri thức, đổi mới và sáng tạo là
nguồn vốn phi vật chất, nhưng lại có vai trò quan trọng hơn hẳn vốn vật chất như tiền, đất
đai, sức lao động thủ công.
Tóm lại: Từ những đặc điểm chủ yếu của những biến đổi của thế giới nêu trên,
cho thấy nhìn chung xu thế phát triển KT-XH của thời đại ngày nay đã đặt ra cho hoạt
động giáo dục phải xây dựng được những nhân cách thích ứng với:
- Một thế giới phát triển tri thức;
- Một thế giới hoà nhập xã hội;
- Một thế giới mà mỗi con người luôn luôn phải bảo vệ và phát huy bản sắc văn
hoá của dân tộc, nhưng lại bị ảnh hưởng của sự giao lưu văn hoá, khoa học và công
nghệ giữa các cộng đồng, các dân tộc, các quốc gia;
- Một thế giới đang có nguy cơ khủng hoảng về giá trị con người, về bùng nổ
dân số và về ô nhiễm môi trường.
2) Những cơ hội và thách thức đối với phát triển KT-XH và phát triển giáo
dục toàn cầu
Hiện nay, KT-XH (trong đó có giáo dục) ở mọi quốc gia trên thế giới đang đứng
trước những cơ hội phát triển và các thách thức phải vượt qua. Đó là phải giải quyết có hiệu
quả các mối quan hệ chủ yếu mang tính thời đại như:
 Giữa toàn cầu và cục bộ.
Con người trở thành công dân toàn cầu, thích ứng được những biến đổi không
ngừng và mang tính hội nhập cao; nhưng không được “mất gốc” của mình trong việc
mang lại lợi ích cho quốc gia và cộng đồng của mình.
 Giữa phổ biến và riêng lẻ.
Văn hoá không ngừng bị toàn cầu hoá, song mới chỉ ở mức từng bộ phận. Tuy vậy
nếu không thực sự cảnh giác thì không thể bảo tồn được những vấn đề giữa truyền thống
và bản sắc văn hoá với những xu hướng phát triển hiện thời.
 Giữa truyền thống và hiện đại.
Truyền thống và hiện đại là hai mặt của cùng một vấn đề đang đặt ra. Đó là làm thế

Đây là một vấn đề khó và lâu nay thiếu nhận thức ra nó vì nó thuộc phạm trù đạo
đức (các giá trị tinh thần được xây dựng trên cơ sở có trí tuệ và cái vật chất được thụ
hưởng như thế nào nhờ vào trí tuệ của mỗi người). Yêu cầu của việc truyền thụ tri thức
nhân loại là phải làm cho người học tự nhận ra và tự giải quyết được vấn đề mối quan hệ
giữa mức độ trí tuệ của bản thân với sự thụ hưởng tương xứng về vật chất và tinh thần
không những của bản thân họ mà còn của cả cộng đồng, xã hội. Nói rộng ra cho một tổ
chức là phải biết giải quyết mối quan hệ giữa năng lực trí tuệ của tổ chức mình với những
mức độ hưởng thụ vật chất và tinh thần của tổ chức đó; đồng thời không quên đến lợi ích
vật chất và tinh thần của cộng đồng và xã hội.
3) Xu hướng đổi mới và phát triển giáo dục toàn cầu
 Quá trình giáo dục phải hướng tới người học
- Tính cá thể người học được đề cao.
- Coi trọng trong mối quan hệ giữa lợi ích của người học với mục tiêu phát triển xã
hội và mục tiêu phát triển cộng đồng, xã hội.
- Nội dung giáo dục phải sáng tạo, theo nhu cầu người học.
- Phương pháp giáo dục là cộng tác, hợp tác giữa người dạy và người học, công
nghệ hoá và sử dụng tối đa tác dụng của công nghệ thông tin.
- Hình thức tổ chức giáo dục đa dạng, linh hoạt phù hợp với kỷ nguyên thông tin và
nền kinh tế tri thức nhằm tạo khả năng tối ưu cho người học lựa chọn hình thức học.
- Đánh giá kết quả học tập trong trường học phải đổi mới để thực sự có những phán
quyết chính xác về kiến thức, kỹ năng và thái độ người học.
 Thực hiện có hiệu quả các trụ cột của giáo dục và thực hiện được triết lý học
suốt đời
i) Học để biết
Giáo dục trong nhà trường như thế nào để người học tiếp cận ngay được những
thay đổi nhanh chóng do sự tiến bộ không ngừng của KH&CN và sự biến đổi mới của
các hình thức hoạt động KT-XH. Biết căn nguyên vấn đề, biết vận dụng tri thức vào việc
tạo ra việc làm và làm việc, biết cách ứng xử trong cuộc sống để cùng chung sống trong
xã hội (nói chung là môi trường xã hội) luôn luôn biến động.
ii) Học để làm

phát triển văn hoá. Nó vượt quá sự phân biệt giữa truyền thống giáo dục ban đầu và giáo
dục liên tục. Nó tạo ra một xã hội học tập, ở đó tất cả mọi người đều có cơ hội học tập và
phát huy tiềm năng của mỗi người; đồng thời mở ra những khả năng học tập cho mỗi
người. Như vậy giáo dục trong nhà trường thời nay phải đạt được mục tiêu kép:
+ Trang bị kiến thức, kỹ năng và thái độ cho người học để sau thời gian học
ban đầu có thể tiếp tục học lên cao hơn để có nghề chuyên sâu.
+ Trang bị các năng lực cần thiết trong thời gian học ban đầu để người học
có thể hoà nhập ngay vào thị trường lao động, chờ cơ hội tiếp tục học lên và thực hiện
học tập suốt đời.
 Xu hướng chung về đổi mới quản lý giáo dục và đổi mới quản lý nhà trường của
một số nước phát triển
Với quan điểm Giáo dục cho tất cả - Tất cả cho giáo dục (Education for All - All
for Education); các quốc gia phát triển trên thế giới luôn luôn thực hiện cải cách giáo dục
khi mà nền KT-XH có sự chuyển đổi. Thực tiễn cải cách giáo dục (trong đó có đổi mới
quản lý giáo dục và đổi mới quản lý nhà trường) ở một số quốc gia phát triển cho thấy
giáo dục của họ thực chất đã đáp ứng được yêu cầu phát triển KT-XH. Đó là việc thực
hiện đổi mới về tư duy, phương thức và cơ chế quản lý giáo dục và quản lý nhà trường.
Cụ thể:
- Đổi mới về tư duy quản lý giáo dục: chuyển từ tư tưởng quản lý mệnh lệnh hành
chính sang quản lý chủ yếu bằng pháp luật.
- Đổi mới phương thức quản lý giáo dục: chuyển từ một chiều, từ trên xuống sang
tương tác, lấy đơn vị cơ sở làm trung tâm.
- Đổi mới cơ chế quản lý giáo dục: chuyển từ tập trung, quan liêu, bao cấp sang
phân cấp, dân chủ, tự chủ và tự chịu trách nhiệm;
Như vậy, bản chất của sự đổi mới quản lý nhà trường là ở chỗ quản lý lấy nhà trường
làm cơ sở (School - Based Management). Đây là một xu thế tất yếu của sự đổi mới quản lý
nhà trường và xu thế này đang xuất hiện các thách thức chủ yếu sau:
- Quản lý lấy nhà trường làm cơ sở đòi hỏi CBQL nhà trường phải có năng lực ra
quyết định phù hợp với quyền tự chủ về nhân sự và tài chính; đòi hỏi đội ngũ nhà giáo
phải có năng lực làm việc tập thể, giải quyết vấn đề, hoạch định kế hoạch phát triển; đòi

- Chất lượng giáo dục đại trà còn thấp;
- Cơ cấu trình độ, cơ cấu ngành nghề, cơ cấu vùng miền còn mất cân đối;
- Đội ngũ giáo viên vừa thừa vừa thiếu, chưa đồng bộ;
- Cơ sở vật chất kỹ thuật của nhà trường còn thiếu thốn và lạc hậu;
- Chương trình, giáo trình, phương pháp giáo dục chậm đổi mới, chậm hiện đại
hóa;
- Công tác quản lý giáo dục còn kém hiệu quả.
Nguyên nhân
- Tư duy giáo dục chậm đổi mới;
- Cơ chế quản lý giáo dục chưa tương thích với nền kinh tế thị trường định hướng
XHCN và nhu cầu phát triển nguồn nhân lực của đất nước;
- Nhân lực và quản lý nhân lực giáo dục chưa đáp ứng được yêu cầu đổi mới giáo
dục;
- Đầu tư cho giáo dục chưa tương xứng với mong muốn về yêu cầu chất lượng và
chưa có hiệu quả cao;
- Phương pháp và hình thức giáo dục chưa thực sự phát huy tính tích cực, chủ động,
sáng tạo và kỹ năng sống của người học.
 Những so sánh với quốc tế
Những nguyên nhân trên gây nên sản phẩm giáo dục (nhân cách người lao động) của
chúng ta chưa đáp ứng được yêu cầu phát triển KT-XH nước nhà. Nếu so sánh với một số
nước trong khu vực thì thấy có sự thua kém.
Các dẫn chứng dưới đây phần nào minh chứng được tác dụng và giá trị của giáo dục
của chúng ta với sự phát triển KT-XH nước nhà.
i) Chỉ số phát triển EDI (Educationl for Development Index) trong một số
năm gần đây của Việt Nam còn thua kém nhiều nước trong khu vực như: Thái Lan,
Trung Quốc, Hàn quốc, và xếp hạng thấp so với nhiều nước trên thế giới;
ii) Xếp hạng theo chỉ số HDI (chỉ số phát triển con người) trong một số năm
gần đây của Việt Nam còn thua kém nhiều nước trong khu vực như: Thái Lan, Trung
Quốc, Hàn quốc , Singapore, Philippin, Inđônexia, Malayxia, và xếp hạng thấp so với
nhiều nước trên thế giới;

1) Phát triển giáo dục là nhằm tạo lập nền tảng và động lực CNH, HĐH đất nước, bảo
đảm để Việt Nam có đủ năng lực hợp tác và cạnh tranh trong bối cảnh toàn cầu hóa.
2) Phát triển nền giáo dục của dân, do dân và vì dân là quốc sách hàng đầu, là nhiệm
vụ trọng tâm của Đảng và Nhà nước trong cơ chế thị trường định hướng XHCN.
3) Giáo dục vừa đáp ứng yêu cầu xã hội vừa thỏa mãn nhu cầu phát triển của mỗi
người.
4) Hội nhập quốc tế về giáo dục phải được đẩy mạnh dựa trên cơ sở bảo tồn bản sắc văn
hóa dân tộc để xây dựng một nền giáo dục giàu tính nhân văn, tiên tiến, hiện đại.
5) Xã hội hóa giáo dục là phương thức phát triển giáo dục tiến đến một xã hội học
tập.
6) Phát triển dịch vụ giáo dục và tăng cường yếu tố cạnh tranh trong hệ thống giáo
dục là một trong các động lực phát triển giáo dục.
7) Giáo dục phải đảm bảo chất lượng tốt nhất trong điều kiện chi phí còn hạn hẹp.
2.2. Mục tiêu phát triển giáo dục
1) Mục tiêu tổng thể phát triển giáo dục đến năm 2020
Xây dựng một nền giáo dục tiên tiến, mang đậm bản sắc dân tộc, làm nền tảng cho
sự nghiệp CNH, HĐH, phát triển bền vững của đất nước; thích ứng với nền kinh tế thị
trường định hướng xã hội chủ nghĩa; tạo cơ hội học tập cho mọi người và có khả năng hội
nhập với nền giáo dục thế giới; đào tạo nguồn nhân lực có chất lượng cho đất nước bao
gồm những người lao động Việt Nam có phẩm chất đạo đức, kiến thức và kỹ năng nghề
nghiệp của thời đại, có năng lực tư duy độc lập, sáng tạo, có ý thức làm chủ và tinh thần
trách nhiệm.
Nâng cao vị trí của Việt Nam trong bảng xếp hạng thế giới, đến năm 2020, số năm đi
học bình quân của Việt Nam là khoảng 13, chỉ số giáo dục của Việt Nam (EI) đạt mức
khoảng 0,900, chỉ số phát triển con người (HDI) đạt mức khoảng 0,800.
2) Các mục tiêu cụ thể về phát triển giáo dục
1) Quy mô giáo dục được phát triển hợp lý chuẩn bị nguồn nhân lực cho đất
nước thời kỳ CNH, HĐH và tạo cơ hội học tập suốt đời cho mọi người dân.
2) Chất lượng, hiệu quả giáo dục và đào tạo được nâng cao, tiếp cận được
với chất lượng giáo dục của khu vực và quốc tế.

thông, có các điều kiện để đảm bảo cho tiến trình đổi mới lãnh đạo và quản lý nhà
trường.
3. Hiệu trưởng trường phổ thông: người lãnh đạo và quản lý nhà trường
3.1. Nhìn nhận từ các quan điểm và mô hình mới về quản lý nhà trường
3.1.1. Lựa chọn mô hình quản lý
 So sánh hai quan điểm về quản lý nhà trường
Quan điểm cũ Quan điểm mới
1. Quản lý bằng mệnh lệnh hành chính 1. Quản lý bằng pháp luật
2. Cơ chế tập trung, quan liêu, bao cấp
3. Phương thức 1 chiều, từ trên xuống
2. Cơ chế phân cấp, dân chủ, tự chủ tự
chịu trách nhiệm
3. Phương thức tương tác, lấy nhà trường
làm trung tâm
 So sánh hai mô hình quản lý nhà trường
Mô hình cũ Mô hình mới
Ít chú ý đến khía cạnh lãnh đạo để
thay đổi nhà trường.
- Tập trung nhiều hơn vào lãnh đạo thay đổi để
phát triển nhà trường.
Chưa xây dựng rõ tầm nhìn, sứ mạng,
các giá trị và các chương trình hành
động.
- Nhà trường là nơi quyết định: tầm nhìn, sứ
mạng, tạo giá trị, xây dựng và thực hiện các
chương trình hành động phát triển nhà trường.
Quản lý nhà trường chưa chú ý đến
phát triển năng lực, động lực của giáo
viên, học sinh. Chưa thực sự chú ý đến
kỹ năng nhận thức và kĩ năng xã hội

3.2. Nhìn nhận từ căn cứ pháp lý và chính sách phát triển KT-XH và phát triển
giáo dục
- Đường lối chính sách của Đảng và Nhà nước đã định hướng rõ như: Văn kiện
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng Cộng sản Việt Nam; Chiến lược phát triển
giáo dục 2001 – 2010 và Chiến lược phát triển giáo dục đến năm 2020 (Dự thảo).
- Cơ sở pháp lý khác:
+ Các Luật mà Quốc hội đã thông qua;
+ Luật Giáo dục 2005: Điều 14 & Điều 58
+ Nghị định 43/2006/NĐ-CP (ngày 25 tháng 4 năm 2006 quy định quyền
tự chủ, tự chịu trách nhiệm về thực hiện nhiệm vụ, tổ chức bộ máy, biên chế và tài chính
đối với đơn vị sự nghiệp công lập);
- Cơ chế mới về quản lý KT-XH nước nhà và các hiệp ước quốc tế có liên quan.
Các căn cứ pháp lý chủ yếu trên đều định hướng cho người hiệu trưởng trường phổ
thông vừa có trách nhiệm lãnh đạo và vừa có trách nhiệm quản lý để phát triển nhà
trường.
3.3. Các vai trò lãnh đạo và quản lý của người hiệu trưởng trường phổ thông
Trong quản lý trường phổ thông, để thực hiện hiệu quả các chức năng cơ bản của
quản lý (kế hoach hoá, tổ chức, chỉ đạo và kiểm tra) thì người Hiệu trưởng phải thể hiện
được các vai trò chủ yếu:
+ Đại diện cho chính quyền về mặt thực thi pháp luật chính sách, điều lệ, quy
chế giáo dục và thực hiện các quy định về mục tiêu, nội dung, chương trình, phương
pháp, đánh giá chất lượng giáo dục phổ thông.
+ Hạt nhân thiết lập bộ máy tổ chức, phát triển, điều hành đội ngũ nhân lực,
hỗ trợ sư phạm và hỗ trợ quản lý cho đội ngũ nhân lực giáo dục của nhà trường để mọi
hoạt động của trường thực hiện đúng tính chất, nguyên lý, mục tiêu, nội dung, chương
trình, phương pháp giáo dục.
+ Người chủ chốt trong việc tổ chức huy động và sử dụng có hiệu quả các
nguồn lực vật chất nhằm đáp ứng các hoạt động giáo dục và dạy học của nhà trường .
+ Tác nhân xây dựng mối quan hệ giữa giáo dục nhà trường với giáo dục gia
đình và xã hội nhằm đảm bảo cho mọi hoạt động của nhà trường trong một môi trường

trường phổ thông, );
- Hoạch định sự thay đổi ở trường phổ thông (dự báo sự thay đổi ở trường phổ
thông, xác định các mục tiêu thay đổi, xác định những khoảng cách, Xác định nhu
cầu thay đổi;
- Tổ chức thực hiện sự thay đổi;
- Củng cố sự thay đổi.
4.2. Lập kế hoạch chiến lược phát triển nhà trường phổ thông
- Khái niệm kế hoạch chiến lược và các khái niệm liên quan (tầm nhìn, sứ mạng,
giá trị, mục tiêu và giải pháp chiến lược);
- Cấu trúc của bản kế hoạch chiến lược trường phổ thông;
- Vai trò của Hiệu trưởng trong xây dựng kế hoạch chiến lược nhà trường;
- Quy trình xây dựng kế hoạch chiến lược phát triển nhà trường phổ thông.
4.3. Phát triển đội ngũ nhà trường phổ thông
- Vai trò của đội ngũ đối với sự thay đổi nhà trường.
- Thực trạng đội ngũ và thực trạng phát triển đội ngũ nhà trường phổ thông.
- Yêu cầu mới về chất lượng đội ngũ nhà trường phổ thông.
- Lãnh đạo đạo phát triển đội ngũ trường phổ thông (Xây dựng kế hoạch, thu hút
đội ngũ có chất lượng, hỗ trợ phát triển chuyên môn và nhân cách, xây dựng nhà
trường thành tổ chức học tập, tạo động lực cho đội ngũ).
4.4. Xây dựng và phát triển văn hoá nhà trường phổ thông
- Vai trò, tầm quan trọng của việc vun trồng văn hóa nhà trường.
- Vai trò lãnh đạo phát triển văn hóa nhà trường của hiệu trưởng.
- Định hình hệ thống các giá trị cốt lõi để phát triển văn hoá nhà trường.
- Các mối quan hệ giao tiếp ứng xử.
- Chia sẻ kinh nghiệm xây dựng, phát triển văn hoá nhà trường lành mạnh, tích cực.
4.5. Huy động nguồn lực giáo dục
- Tổng quan về nguồn lực giáo dục.
- Vai trò của Hiệu trưởng trong việc huy động và sử dụng các nguồn lực phát
triển trường phổ thông.
- Một số giải pháp huy động và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực giáo dục.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status