BÀI GIẢNG
PHẨM CHẤT VÀ PHONG CÁCH NGƯỜI LÃNH ĐAO QUẢN LÝ
Soạn giảng: TS. Lê Văn Đính
KẾT CẤU:
I. Phẩm chất của người lãnh đạo, quản lý
1. Khái niệm
2. Những nội dung cấu thành phẩm chất cơ bản của người LĐ, QL
- Phẩm chất chính trị
- Phẩm chất đạo đức
- Phẩm chất tâm lý
- Phẩm chất năng lực
3. Phẩm chất của người LĐ, QL cách mạng
II. Phong cách người lãnh đạo, quản lý
1. Khái niệm
2. Những đặc trưng cơ bản của phong cách LĐ, QL
3. Những yếu tố hình thành phong cách LĐ, QL của người cán bộ
4. Một số (kiểu) phong cách LĐ,QL cơ bản
- Phong cách độc đoán, mệnh lệnh
- Phong cách chung sức, dân chủ
- Phong cách ủy thác, tự do
5. 5.Các tình huống cụ thể cần chú ý khi lựa chon kiểu phong cách LĐ, QL:
III. Xây dựng phẩm chất và phong cách lãnh đạo, quản lý cho đội ngũ cán bộ
ở nước ta hiện nay
1. Thực trạng
2. Một số yêu cầu đặt ra
1
Đặt vấn đề:
*Chỉ 2 năm sau khi giành được chính quyền; Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết
tác phẩm “Sửa đổi lối làm việc” (tháng 10 - 1947, ký tên là XYZ). Khi đó, bộ máy
chính quyền của chúng ta có nhiệm vụ chủ yếu là tập trung sức cho sự nghiệp
* Phẩm: tư cách; Chất: tính chất – là những giá trị và tính chất tốt đẹp của
con người hay vật (như phẩm chất của người thầy giáo, phẩm chất cách mạng )
3
*Phẩm chất là những đặc trưng cơ bản cần có ở người lãnh đạo quản lý –
bao gồm phẩm chất chính trị, phẩm chất đạo đức
4
…
- Là tổng hòa các yếu tố thuộc nhân cách của người lãnh đạo quản lý được
hình thành được hình thành trong quá trình hoạt động và giao tiếp của con người
(thông qua hoạt động thực tiễn)
*Tóm lại Phẩm chất của người lãnh đạo, quản lý là toàn bộ những đặc
trưng cơ bản cần có ở người lãnh đạo quản lý – bao gồm phẩm chất chính trị,
phẩm chất đạo đức, phẩm chất tâm lý…- tạo nên giá trị địa vị xã hội của họ
nhằm đạt hiệu quả cao trong việc thực hiện vai trò lãnh đạo, quản lý của mình
2. Những nội dung cấu thành phẩm chất cơ bản của người LĐ, QL:
2.1. Phẩm chất chính trị: Chính trị tư tưởng là linh hồn của người lãnh đạo,
nó thể hiện ý thức, lập trường và khuynh hướng hoạt động chính trị của người
LĐ,QL và được biểu hiện ở lý tưởng, thế giới quan, niềm tin, lập trường chính trị
2.2. Phẩm chất đạo đức: là những nguyên tắc và chuẩn mực đạo đức chung
cần có đối với người LĐ, QL; bao gồm những giá trị đạo đức của nhân loại, dân
tộc, giai cấp
*Đạo đức của người LĐ, QL được thể hiện ở những khía cạnh: Trong xử thế
với người bị lãnh đạo, quản lý; trong công việc, trong xử thế với môi trường tự
nhiên, xã hội
Những yêu cầu về đạo đức của người lãnh đạo quan lý trong xử thế với
người bị lãnh đạo là: Khách quan, công bằng, không thiên vị; Chân thành; Khiêm
tốn, tôn trọng mọi người; Chính trực, quang minh chính đại; Nhất quán; Trung
thực; Gương mẫu; Phóng khoáng, cởi mở; Khoan dung; Tế nhị, lịch thiệp
3
Nguyễn Như Ý (chủ biên). Đại Tự điển Tiếng Việt. Nxb VH – TT 1999, tra 1323.
kinh cấp cao, do đó, sự hình thành các tố chất trong tâm lý của người lãnh đạo,
quản lý cũng chịu sự ảnh hưởng của bốn kiểu phản ánh tâm lý của tính khí (Nóng
nảy; Hoạt bát; Điềm đạm; Ưu tư…)
2.4.Phẩm chất năng lực
4
3. Phẩm chất của người LĐ, QL cách mạng:
3.1. Về phẩm chất chính trị:
Có bản lĩnh chính trị vững vàng trên cơ sở lập trường của của giai cấp
công nhân; tuyệt đối trung thành với lý tưởng cách mạng, với chủ nghĩa Mác -
Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh; biết đặt lợi ích của dân tộc, của Đảng, của giai
cấp lên trên hết. Mọi suy nghĩ và hành động của họ không được vi phạm cũng như
đi ngược lại mục tiêu nói trên.
3.2.Phẩm chất đạo đức:
-Gương mẫu về đạo đức, lối sống; có tinh thần phê bình và tự phê bình
nghiêm túc khi mắc phảỉ sai lầm, khuyết điểm; công bằng, không tham lam vụ lợi;
có lối sống giản dị, có khả năng giao tiếp và tạo mối quan hệ tốt với mọi người;
biết lắng nghe ý kiến của người khác, có lòng tin vào chính bản thân mình; có khả
năng tự kiểm tra bản thân, khả năng giữ gìn và bảo vệ uy tín của mình;
-Những phẩm chất đạo đức cơ bản của con người Việt Nam và cán bộ LĐ,
QL cách mạng theo tư tưởng Hồ Chí Minh là : Trung với nước, hiếu với dân; Yêu
thương con người; Cần kiệm, liêm chính, chí công vô tư; Tinh thần quốc tế trong
sáng.
3.3.Phẩm chất tâm lý:
- Có tình cảm cách mạng: Yêu thương con người; sống có tình, có nghĩa;
“cần kiệm liêm chính, chí công vô tư”; có tinh thần quốc tế vô sản trong sáng.
-Có tinh thần cách mạng sáng tạo, tinh thần dân chủ và tính quyết đoán
chính trị với tinh thần trách nhiệm cao mà không độc đoán.
- Có tài tổ chức, quản lý, điều hành công việc, thực hiện mục tiêu chính trị
đã đề ra; nhạy cảm, năng động với cái mới và có khả năng xử lý các mối quan hệ,
có nghệ thuật lãnh đạo; có khả năng cổ vũ, động viên mọi người làm việc; tận tụy,
hiện các nỗ lực ảnh hưởng tới hoạt động của những người khác.
- Phong cách lãnh đạo là kết quả của mối quan hệ giữa cá nhân và sự kiện
và được biểu hiện bằng công thức: Phong cách lãnh đạo = cá tính x môi trường.
-Phong cách lãnh đạo, quản lý là tổng thể những phương pháp, biện pháp
tác động, lối ứng xử được lặp đi, lặp lại và trở thành ổn định, tạo nên một kiểu
cách hoạt động riêng, đặc thù mà người lãnh đạo thường xử dụng nhằm thực hiện
có hiệu quả chức năng lãnh đạo, quản lý
5
.
-Phong cách làm việc của người cán bộ lãnh đạo là tổng hợp những phương pháp,
biện pháp, cách thức riêng có, tiêu biểu, ổn định mà người lãnh đạo sử dụng hàng ngày
để thực hiện nhiệm vụ của mình
6
*Nhìn chung những định nghĩa trên đã đề cập và phản ánh khá rõ nhiều mặt,
nhiều đặc trưng khác nhau của phong cách lãnh đạo. Tuy nhiên phần lớn các định
nghĩa chỉ nhấn mạnh đến mặt chủ quan, mặt cá tính của chủ thể lãnh đạo chứ chưa
đề cập, xem xét phong cách lãnh đạo như một kiểu hoạt động - mà kiểu hoạt động
đó được diễn ra như thế nào còn phụ thuộc vào yếu tố môi trường xã hội trong đó
có sự ảnh hưởng của hệ tư tưởng, của nền văn hoá
Như vậy chúng ta có thể định nghĩa phong cách lãnh đạo như sau: Phong
cách lãnh đạo là kiểu hoạt động đặc thù của người lãnh đạo được hình thành
trên cơ sở kết hợp chặt chẽ và tác động qua lại biện chứng giữa yếu tố tâm lý
5
TS. Vũ Anh Tuấn. Bài giảng Tâm lý lãnh đạo quản lý. Học viện CT – QG Hồ Chí Minh
6
Học viện CT – QG Hồ Chí Minh. Khoa Xây dựng Đảng. Giáo trình Xây dựng Đẩng. Nxb CTQG, Hà Nội 1993
6
chủ quan của người lãnh đạo và yếu tố môi trường xã hội trong hệ thống quản
lý
2. Những đặc trưng của PCLĐ, QL:
sở; Đoàn kết, khiêm tốn, cầu thị, vị tha, khoan dung; Không gia trưởng, độc đoán,
chuyên quyền với cấp dưới và xun xoe, nịnh hót cấp trên)
3.2.Tri thức: Là cơ sở quan trọng để hình thành phong cách LĐ, QL khoa
học, là “chìa khóa” để người lãnh đạo, quản lý tiếp cận những tri thức lý luận,
kinh nghiệm về phong cách LĐ, QL (đó là những kiến thức về chính trị - dân chủ,
7
quyên lực, nhân quyền…- ; tâm lý học lãnh đạo quản lí; Khoa học quản lý; Văn
hóa học…)
Nếu không am hiểu kiến thức; không am hiểu và thành thạo công việc; chỉ
dự vào kinh nghiệm, áp đặt giáo điều, dập khuôn máy móc, bảo thủ trì trệ, hoặc
nhảy sang cực khác là hành động tùy tiện vô nguyên tắc
3.3.Tính cách, Khí chất: Đây là yếu tố ảnh hưởng tới việc hình thành phong
cách làm việc, lãnh đạo của người cán bộ
Thông thường người cán bộ có khí chất trầm, điềm đạm…thì phong cách
làm việc hường thận trọng, chắc chắn, sâu sắc, ít nóng nảy trong công việc. Ngược
lại; người cán bộ có khí chất nóng thường thẳng thắng, trung thực, ứng phó nhanh
nhạy, nhưng độ chắc chắn, bền vững là hạn chế. Do vậy, tổ chức và bản thân người
cán bộ phải thấy được mình và cán bộ dưới quyền ở dạng khí chất nào để có
phương pháp rèn luyện thích hợp
3.4.Cơ chế chính sách: Đây là yếu tố bên ngoài, nhưng tác động rất quan
trọng tới việc hình thành phong cách làm việc của người cán bộ LĐ,QL.
-Cơ chế “tập trung quan liêu bao cấp” sản sinh ra những cán bộ thụ động,
trông chờ ỷ lại “đập đi, hò đứng” nó triệt tiêu năng lực sáng tạo của cán bộ
-Cơ chế kinh tế thị trường, hạch toán kinh doanh XHCN nuôi dưỡng và phát
triển phong cách làm việc, năng động sáng tạo, sâu sát cơ sở, bám sát nhu cầu thị
trường; loại bỏ lối làm ăn giả dối, chụp dật, phô trương hình thức
3.5. Ngoài 4 yếu tố trên thì quá trình rèn luyện, phấn đấu của mỗi cá
nhân và sự quan tâm, tạo điều kiện thuận lơi của tổ chức cũng đóng vai trò
quan trọng trong việc hình thành phong cách lãnh đạo, quản lý
4. Một số (kiểu) phong cách lãnh đạo, quản lý cơ bản:
4.2. Phong cách lãnh đạo chung sức (dân chủ) – Participative (Democratic):
-Phong cách này phản ánh tâm lý người lãnh đạo, quản lý là tính cầu thị,
biết lắng nghe, biết tôn trọng người khác, tạo điều kiện để mọi người đều được
tham gia vào quá trình ra quyết định.
-Ưu điểm: Tranh thủ và phát huy được trí tuệ và sức mạnh của tập thể, số
đông. Tạo được bầu không khí tâm lý đồng thuận, đoàn kết, cởi mở, nhờ đó, uy tín
chủ thể lãnh đạo thường được củng cố bền vững, được sự tín nhiệm cao của cấp
dưới. Năng suất cao, kể cả không có mặt của lãnh đạo.
-Tuy nhiên; Lãnh đạo, quản lý theo phong cách dân chủ; đòi hỏi người lãnh đạo,
quản lý cần chú ý khẳng định tính quyết đoán cao và vai trò trách nhiệm cá nhân; đồng
thời cần chú ý đến đặc điểm tâm lý cá nhân và tập thể dưới quyền; trình độ chuyên môn,
văn hóa chính trị, văn hóa dân chủ của họ và các nhân tố khác - nhằm khắc phục nét hạn
chế trong sử dụng thuần tuý phong cách lãnh đạo “kiểu” dân chủ.
4.3. Phong cách lãnh đạo ủy thác, tự do (Delegative– Free reign): Hướng tới sự ủy
9
quyền tối đa cho cấp dưới, khuyến khích tối đa tính tích cực chủ động của cấp dưới ; ý
kiến lãnh đạo chỉ mang tính định hướng chung, tùy biến vào kết quả giao tiếp hàng
ngang của cấp dưới “Dĩ bất biến ứng van biến”
-Ưu thế: Khắc phục được những khoảng cách tâm lý bởi quan hệ kiểu “thứ bậc”
với tính trật tự tổ chức theo trên dưới (thủ trưởng và nhân viên); phát huy tối đa tính cởi
mở, dân chủ, nhờ đó chủ thể lãnh đạo, quản lý kích thích và khai thác hữu hiệu tiềm năng
sáng tạo và sức cống hiến trong lao động của cấp dưới.
-Tuy nhiên; phong cách này nên sử dụng đối với những tập thể, nhân viên có
tính kỷ luật và tự giác cao, nó sẽ khích lệ tốt năng xuất, chất lượng lao động trong
họ và ngược lại, sẽ dẫn đến tình trạng vô tổ chức, thiếu tính kỷ luật, dân chủ quá
trớn khi người lãnh đạo sử dụng phong cách lãnh đạo “kiểu” tự do không tương
xứng với đối tượng quản lý (và năng suất sẽ thấp, khi người lãnh đạo vắng mặt
thường xuyên).
Tóm lại: Người lãnh đạo, quản lý cần chú ý và biết kết hợp hài hoà giữa
phong cách Lãnh đạo, quản lý khác nhau tương thích với từng tình huống,
- Sử dụng phong cách lãnh đạo độc đoán đối với các nhân viên mới, những người
còn đang trong giai đoạn học việc.
- Nhà lãnh đạo sẽ là một huấn luyện viên tốt với đầy đủ năng lực và trình độ.
Nhờ đó, nhân viên sẽ được động viên để học hỏi những kỹ năng mới. Đây sẽ là
một môi trường hoàn toàn mới dành cho các nhân viên.
5.2. Theo các giai đoạn phát triển của tập thể
- Giai đoạn bắt đầu hình thành: Là giai đoạn tập thể chưa ổn định, mọi thành viên
thường chỉ thực hiện công việc được giao theo nhiệm vụ, nhà lãnh đạo nên sử
dụng phong cách độc đoán.
- Giai đoạn tương đối ổn định: Khi các thành viên chưa có sự thống nhất, tự giác
trong hoạt động, tính tích cực, sự đoàn kết chưa cao, nên dùng kiểu lãnh đạo mềm
dẻo, linh hoạt.
- Giai đoạn tập thể phát triển cao: Tập thể có bầu không khí tốt đẹp, có tinh thần
đoàn kết, có khả năng tự quản, tự giác cao, nên dùng kiểu dân chủ hoặc tự do.
5.3 Dựa vào tính khí của nhân viên:
- Đối với tính khí sôi nổi – nóng nảy?.
- Đối với tính khí trầm tư – nhút nhát?.
5.4. Dựa vào giới tính:
5.5. Theo trình độ của nhân viên:
- Sử dụng phong cách lãnh đạo uỷ thác đối với các nhân viên hiểu rõ về công việc
hơn chính bản thân nhà lãnh đạo.
- Nhà lãnh đạo không thể ôm đồm tất cả mọi thứ! Các nhân viên cần làm chủ công
việc của họ.
- Cũng như vậy, trường hợp này sẽ giúp nhà lãnh đạo có điều kiện để làm những công
việc khác cần thiết hơn.
5.6. Dựa theo tuổi:
- Nên dùng kiểu lãnh đạo tự do đối với người hơn tuổi.
- Trái lại đối với người nhỏ tuổi thì dùng kiểu độc đoán.
5.7 Cần độc đoán với:
- Những người ưa chống đối
-Nhiệt tình cách mạng là yếu tố cơ bản của người cán bộ lãnh đạo – đó là
lòng yêu nước thương dân; say mê, tận tụy, trăn trở với công việc
-Song, nhiệt tình cách mạng chỉ đem lại hiệu quả thiết thực cho cuộc sống
của nhân dân khi nó thống nhất với tính trung thực, tôn trọng quy luật khách quan
– phải đứng trên quan điểm toàn diện, lịch sử - cụ thể và phát triển …để có những
quyết định chính xác, tối ưu (xem xét yếu tố bên trong – bên ngoài, trước mắt – lâu
dài, hiệu quả công việc; tránh chủ quan, nóng vội)
12
-Nhiệt tình cách mạng sẽ trở thành duy tâm, duy ý chí nếu thiếu tri thức
khoa học – nhiệt tình cách mạng của người cán bộ chỉ đem lại hiệu quả cao khi họ
có tri thức, am hiểu công việc, tinh thông nghiệp vụ theo cương vị mình phụ trách
“Nhiệt tình cộng với dốt nát bằng đại phá hoại”
*Sự thống nhất giữa cách làm việc dân chủ, tập thể với tính quyết đoán và
tinh thần trách nhiệm cá nhân cao
-Phong cách làm việc tập thể, dân chủ là yêu cầu không thể thiếu với người
cán bộ lãnh đạo – nghĩa là phải biết khơi dậy và thực hiện phong cách làm việc dân
chủ, khai thác được trí tuệ sáng tạo trong các tập thể lãnh đạo và quảng đại quần
chúng (Không được lợi dụng danh nghĩa tập thể để thực hiện những mưu đồ cá
nhân);
-Tuy nhiên; nếu chỉ có ý thức tập thể cao, phát huy trí tuệ của tập thể, biết
tạo bầu không khí làm việc dân chủ, tôn trọng và lắng nghe ý kiến của tập thể …
nhưng không có tính quyết đoán, không dám chịu trách nhiệm cá nhân trước tập
thể, thì không thể có những quyết định kịp thời đáp ứng yêu cầu cuộc sống đòi hỏi
và công việc cũng không thể tiến triển được
- Chủ tịch Hồ Chí Minh là người đã nêu tấm gương sáng ngời về về cách
làm việc dân chủ, lắng nghe ý kiến tập thể; nhưng Người cũng dám chịu trách
nhiệm cá nhân trước tập thể “trước quốc dân đồng bào” để đưa ra những quyết
định đúng. Lê - nin cũng đã nhiều lần phê phán hiện tượng “thái quá” về tính tập
thể, nặng về bàn cãi suông dẫn đến tình trạng “nhiều sãi không ai đóng cử chùa”
*Sự thống nhất giữa nhận thức và hoạt động thực tiễn, lời nói đi đôi với
. Người
căn dặn những cán bộ phụ trách “Phải óc nghĩ, mắt trông, tai nghe, chân đi, miệng
nói, tay làm. Chứ không phải chỉ nói suông, chỉ ngồi viết mệnh lệnh”
11
2.2.Đối với phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống
*Trong tình hình hiện nay, theo đánh giá của các cấp ủy Đảng đã có nhiều
vấn đề tác động và làm ảnh hưởng đến sự xa sút về phẩm chất, suy thoái về đạo
đức, lối sống của một số ít không nhỏ cán bộ, đảng viên trong Đảng, do nhiều
nguyên nhân kể cả nguyên nhân khách quan và nguyên nhân chủ quan mang lại.
Nhưng điều mà chúng ta phải đặt ra lúc này là phải đi sâu tìm hiểu các nguyên
nhân về mặt chủ quan tác động trực tiếp đến sự xa sút về phẩm chất, suy thoái về
đạo đức, lối sống. Đó mới chính là thể hiện tính Đảng, tính chiến đấu, tính giáo dục
trong mọi người đảng viên.
*Để góp phần giữ vững phẩm chất đạo đức, lối sống của người đảng viên
trong tình hình mới hiện nay; các cấp ủy Đảng, chính quyền, đoàn thể chính trị- xã
hội các cấp phải tập trung thực hiện tốt một số giải pháp sau:
-Thứ nhất; tiếp tục đẩy mạnh việc thực hiện cuộc vận động "Học tập và
làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh": Hiện nay trong cả nước, từ Trung
ương cho đến các địa phương, các cấp ủy Đảng, chính quyền, đoàn thể chính trị-
xã hội đang ra sức tiếp tục thực hiện cuộc vận động "Học tập và làm theo tấm
gương đạo đức Hồ Chí Minh" và bước đầu đã mang lại một số kết quả đáng kể.
Song, vẫn còn nhiều điều cần suy nghĩ trong mỗi đảng viên của chúng ta là phải
thật sự thấm nhuần và thật sự làm theo tấm gương đạo đức của Người, đó là những
việc làm bình dị nhưng thật cao quí trong đời sống hàng ngày mà mỗi cán bộ, đảng
viên chúng ta phải noi theo, có như thế sự sa sút về phẩm chất, suy thoái về đạo
8
Hồ Chí Minh. Toàn tập. Tập 4. Nxb Sự thật. Hà Nội 1985, tr 487
9
Sđd, tr 487
10
tiền, đô la, mặt trái của nền cơ chế thị trường dẫn đến tha hóa, biến chất, suy thoái
về đạo đức, lối sống, mà những khuyết điểm này cũng ít được các tổ chức cơ sở
Đảng và đồng chí mình cùng sinh hoạt kịp thời phát hiện, đấu tranh; chủ yếu cũng
do các phương tiện thông tin đại chúng và quần chúng nhân dân tích cực cung cấp.
Điều đó, thể hiện tinh thần đấu tranh tự phê bình và phê bình chưa cao, tính Đảng,
tính chiến đấu, tính giáo dục của mỗi người đảng viên chưa phát huy tác dụng. Từ
đó, Đảng đã có qui định những điều đảng viên không được làm; phải thực hiện tốt
cuộc vận động "Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh" bằng
những việc làm cụ thể trong đời sống thường ngày về đạo đức, lối sống cho quần
chúng nhân dân noi theo. Thực hiện được như vậy thì những phẩm chất, đạo đức
lối sống, những cái đẹp của người đảng viên ngày càng nâng lên và được quần
chúng nhân dân tín nhiệm, tạo niềm tin của nhân dân đối với sự lãnh đạo của Đảng
và tính tiên phong, gương mẫu của đảng viên, tất cả vì: "Dân giàu, nước mạnh, xã
hội công bằng, dân chủ, văn minh".
15
- Thứ tư, tiếp tục tăng cường công tác kiểm tra của các cấp ủy Đảng:Công
tác kiểm tra của Đảng là nhiệm vụ của các cấp ủy Đảng và của các Ủy ban Kiểm
tra các cấp được qui định trong Điều lệ Đảng Cộng sản Việt Nam (khóa X). Trong
thời gian qua, các cấp ủy Đảng đã thực hiện tốt vai trò, chức năng, nhiệm vụ của
mình, góp phần giáo dục, phát hiện, ngăn ngừa và xử lí mọi vụ việc vi phạm của
tập thể và cá nhân đảng viên vi phạm; đồng thời, các cấp ủy Đảng triển khai thực
hiện tốt chức năng giám sát của các chi bộ được giao theo Hướng dẫn 06-
HD/KTTW của Ủy ban Kiểm tra Trung ương, góp phần nâng cao năng lực và sức
chiến đấu của Đảng, xây dựng Đảng ngày càng trong sạch, vững mạnh. Trước yêu
cầu hiện nay, đòi hỏi công tác kiểm tra của Đảng luôn đổi mới và thực hiện tốt các
nhiệm vụ của Trung ương đề ra, có như thế góp phần thực hiện tốt cuộc vận động
xây dựng, chỉnh đốn Đảng hiện nay và xây dựng Đảng vững mạnh trên 3 mặt chính
trị, tư tưởng và tổ chức.
- Thứ năm, phát huy vai trò giám sát của các tổ chức đoàn thể nhân dân:
"Cách mạng là sự nghiệp của quần chúng"; "lấy dân làm gốc" đó là những tư tưởng