I - CÔNG TÁC XÂY DỰNG ĐẢNG 5 NĂM QUA VÀ NHỮNG BÀI
HỌC KINH NGHIỆM QUA 20 NĂM ĐỔI MỚI
1 - Khái quát một số nét về tình hình Đảng:
a - Ưu điểm:
Một là, trước những khó khăn thách thức...Đảng ta đã giữ vững bản chất
cách mạng và khoa học, kiên định chủ nghĩa Mác- Lê nin, tư tưởng Hồ Chí
Minh; Kiên trì mục tiêu độc lập dân tộc và CNXH; Kiên trì đường lối đổi mới;
Tiếp tục nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng.
Hai là, Đảng có bước phát triển về tư duy; Đề ra và lãnh đạo đường lối
đổi mới đúng đắn. Nhiều chủ trương, chính sách đúng đắn, hợp lòng dân của
Đảng đã đi vào cuộc sống và phát huy tác dụng. Đảng và nhà nước đã tích lũy
được thêm nhiều kinh nghiệm lãnh đạo, quản lý xã hội trong điều kiện mới.
Ba là, dân chủ trong Đảng, trong xã hội, quyền làm chủ của nhân dân
được phát huy, thực hiện chính sách đại đoàn kết dân tộc có nhiều tiến bộ. Đa số
cán bộ, Đảng viên phát huy vai trò tiên phong, làm nòng cốt trong công cuộc đổi
mới.
Bốn là, thực hiện tự phê bình và phê bình, đấu tranh chống quan liêu,
tham nhũng, lãng phí, tiêu cực được nhân dân đồng tình. Đảng lãnh đạo xây
dựng nhà nước, phát huy quyền làm chủ XHCN có tiến bộ. Vai trò của mặt trận
và các đoàn thể nhân dân được nâng lên. Qui chế dân chủ ở cơ sở, quan hệ gắn
bó giữa Đảng và nhân dân được phát huy.
b - Khuyết điểm, yếu kém:
Một là, năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng còn nhiều mặt chưa
đáp ứng được yêu cầu; chậm làm sáng tỏ những vấn đề lý luận; chậm cụ thể hóa,
thể chế hóa một số quan điểm lớn; tổ chức thực hiện vẫn là khâu yếu.
Hai là, dân chủ trong Đảng và trong xã hội còn bị vi phạm; kỷ cương, kỷ
luật ở nhiều cấp, nhiều lĩnh vực không nghiêm; đoàn kết ở không ít cấp ủy còn
yếu; quan hệ Đảng- nhân dân có lúc, có nơi bị xói mòn.
1
Ba là, không ít tổ chức Đảng yếu kém, nhất là ở cơ sở, thậm chí bị tê liệt,
mất sức chiến đấu.
vai trò của các cơ quan nhà nước, mặt trận và các đoàn thể nhân dân.
Kết quả, thành tựu xây dựng Đảng bộ quân đội:
- Tập trung xây dựng Đảng bộ vững mạnh về chính trị, tư tưởng; tăng
cường bản chất giai cấp công nhân; giữ vững trận địa chính trị, tư tưởng của
Đảng trong quân đội.
- Coi trọng kiện toàn các cấp ủy, tổ chức Đảng, xây dựng đội ngũ Đảng
viên; giữ vững nguyên tắc tập trung dân chủ; năng lực lãnh đạovà sức chiến đấu
của Đảng bộ được nâng lên.
- Đã có nhiều biện pháp giải quyết số lượng và nâng cao chất lượng toàn
diện, xây dựng đội ngũ cán bộ đáp ứng sự phát triển của yêu cầu nhiệm vụ.
- Triển khai thực hiện nghiêm túc cuộc vận động xây dựng chỉnh đốn
Đảng theo nghị quyết TW 6 ( Lần 2) Khóa VIII và kết luận hội nghị TW 4 Khóa
IX bước đầu đạt kết quả.
- Công tác kiểm tra đã bám sát nhiệm vụ chính trị, yêu cầu công tác xây
dựng Đảng và cuộc vận động xây dựng, chỉnh đốn Đảng. Cấp ủy, ủy ban kiểm
tra các cấp có chuyển biến về nhận thức và tổ chức thực hiện công tác kiểm tra.
- Phương pháp, phong cách lãnh đạo của các cấp ủy, tổ chức Đảng có sự đổi
mới.
b - Khuyết điểm, yếu kém:
Một là, cuộc vận động xây dựng, chỉnh đốn Đảng, tự phê bình và phê bình
trong các cấp ủy, tổ chức Đảng chưa đạt yêu cầu đề ra, chưa tạo được sự chuyển
biến cơ bản để ngăn chặn và đẩy lùi tệ tham nhũng, lãng phí, quan liêu.
Hai là, công tác giáo dục chính trị, tư tưởng còn nhiều hạn chế thiếu sót;
thiếu chủ động và sắc bén trong đấu tranh chống “ Diễn biến hòa bình” .
Công tác nghiên cứu lý luận còn yếu, chưa theo kịp yêu cầu của công
cuộc đổi mới.
Trong chỉ đạo, quản lý, hoạt động của báo chí, xuất bản, văn hóa, nghệ
thuật còn yếu kém, khuyết điểm.
Ba là, công tác tổ chức trên một số mặt còn yếu
3
Công tác tư tưởng còn biểu hiện chủ quan, đơn giản thiếu chiều sâu, thiếu
vững chắc. Thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ vẫn là khâu yếu. Năng lực
quán triệt, cụ thể hóa và tổ chức thực hiện nghị quyết còn hạn chế.
Một số Đảng viên chưa phát huy vai trò tiên phong gương mẫu; mơ hồ,
mất cảnh giác, để lộ bí mật, thiếu tin vào khả năng tổ chức thực hiện đường lối.
Tính chiến đấu trong sinh hoạt của đảng chưa cao. Cá biệt có Đảng viên suy
thoái về phẩm chất, đạo đức, lối sống.
Một số cấp ủy chưa nhận thức đầy đủ, đúng đắn về nhiệm vụ công tác
kiểm tra. Xem xét, giải quyết một số việc thiếu kiên quyết, triệt để. Tiếp thu, sửa
chữa khuyết điểm chưa nghiêm túc. Tình trạng che dấu khuyết điểm, phô trương
hình thức chưa được khắc phục. Chưa tạo được sự chuyển biến mạnh mẽ về
thực hiện cuộc vận động xây dựng, chỉnh đốn Đảng, chống quan liêu, tham
nhung, lãng phí.
Công tác nghiên cứu, dự báo và tham mưu chiến lược chưa tốt. Để thiếu
cán bộ cơ sở...tỷ lệ trung đội trưởng đào tạo ngắn hạn còn cao, xây dựng và thực
hiện qui hoach cán bộ chủ trì chưa tốt, còn hẫng hụt nguồn cán bộ. Biến động
cấp ủy quá tỷ lệ qui định. Chưa phát hiệnvà có giải pháp khắc phục kịp thời
những biểu hiện tiêu cực trong công tác cán bộ.
c - Nguyên nhân của những khuyết điểm, yếu kém:
- Nguyên nhân khách quan:
+ Những diễn biến nhanh chóng, phức tạp của tình hình thé giới; sự tấn
công của các thế lực thù địch; mặt trái của cơ chế thị trường...tác động đến nhiều
mặt công tác xây dựng Đảng, đội ngũ cán bộ, đảng viên.
+ Xây dựng Đảng trong điều kiện nền kinh tế thị trường, xây dựng nhà
nước pháp quyền XHCN... là những vấn đề mới, khó khăn, phức tạp cả về lý
luậnvà thực tiễn.
- Nguyên nhân chủ quan:
+ Chậm đổi mới tư duy về công tác xây dựng Đảng trong điều kiện mới;
chưa cụ thể hóa và tổ chức thực hiện kịp thời một số quan điểm lớn về xây dựng
5
1 - Về bản chất của Đảng và cách diễn đạt về Đảng.
- Điều lệ Đại hội VI diễn đạt về bản chất giai cấp công nhân, tính tiên
phong của Đảng: “ Đảng công sản Việt nam là Đảng của giai câp công nhân
Việt nam, là đội tiền phong, bộ tham mưu chiến đấu có tổ chức và tổ chức cao
nhất của giai cấp công nhân Việt nam. Đảng đại biểu trung thích của giai cấp
công nhân, của nhân dân lao động và của cả dân tộc”. Trong quá trình chuẩn bị
cho Đại hội VII, nhiều ý kiến cán bộ, đảng viên cho rằng: hiện nay Đảng ta là
Đảng cầm quyền, Đảng không những chăm lo cho lợi ích của giai cấp công nhân
mà còn phải chịu trách nhiệm trước lợi ích và vận mệnh của toàn dân tộc. Đảng
phải là của toàn dân tọc. Nói Đảng của giai cấp công nhân là rơi vào chủ nghĩa
biẹt phái, tách Đảng khỏi dân tộc. Cần khẳng định rõ giai cấp công nhân, tính
tiên phong, tính đại biểu lợi ích của Đảng. Đại hội VII thảo luận kỹ vấn đề này
và sửa đổi cách diễn đạt về bản chất của Đảng. Điều đó khẳng định sự phát triển
tư duy về Đảng và công tác xây dựng Đảng.
- Điều lệ Đại hội VII; Đại hội VIII; Đại hôi IX phát triển, hoàn thiện và
diễn đạt: “ Đảng cộng sản Việt nam là đội tiên phong của giai cấp công nhân
Việt nam, đại biểu trung thành lợi ích của giai cấp công nhân, nhân dân lao động
và của cả dân tộc”. Trong điều kiện mới, có nhiều ý kiến đề nghị cần thể hiện
đầy đủ hơn, phản ánh sát thực hơn bản chất vốn có của Đảng công sản Việt
nam- một Đảng ra đời từ phong trào công nhân và phong trào yêu nước.
- Báo cáo bổ sung, sửa đổi Điều lệ Đảng trình Đại hội X đề xuất: “ Đảng
cộng sản Việt nam là đội tiên phong của giai cấp công nhân đồng thời là đội tiên
phong của nhân dân lao động và của dân tộc Việt nam; đại biểu trung thành lợi
ích của giai cấp công nhân, nhân dân lao động dân tộc” ( 76,83% đại biểu tán
thành; Ban chấp hành TW Khoá IX biểu quyết với 78,7%; Đại hội cấp tỉnh,
thành phố có 72% số đại biểu tán thành). Cần khẳng định và làm rõ những vấn
đề sau:
Một là, khẳng định bản chất giai cấp công nhân của Đảng, Đảng mang
bản chất giai cấp công nhân, là đội tiên phong của giai cấp công nhân.
7
8
nhất lợi ích giữa giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của toàn dân tộc.
Đảng có uy tín sâu rộng, được toàn dân tộc thừa nhận là lãnh tụ chính trị, là
“Đảng ta”, Đảng của dân tộc.
- Hồ Chí Minh luôn giải quyết đúng đắn, kết hợp chặt chẽ lợi ích nhân
dân lao động và toàn dân tộc, không chỉ là lãnh tụ của Đảng mà còn là lãnh tụ
của nhân dân, của dân tộc.
- Trong điều kiện Đảng cầm quyền, (duy nhất cầm quyền) phát huy sức
mạnh của toàn dân tộc để xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ tổ quốc thì Đảng
càng phải chịu trách nhiệm, chăm lo cho lợi ích của giai cấp công nhân, nhân
dân lao động và toàn dân tộc.
Bốn là, diễn đạt như trên vừa thể hiện rõ bản chất giai cấp công nhân,
không lẫn lộn bản chất Đảng, vừa khẳng định rõ vai trò lãnh tụ chính trị, mối
quan hệ gắn bó giữa Đảng với giai cấp và toàn dân tộc. Điều đó thể hiện sự
trung thành của Dảng ta đối với nguyên lý xây dựng Đảng của chủ nghĩa Mác-
Lê nin, đồng thời thể hiện sự phát triển sáng tạo của tư tưởng Hồ Chí Minh, phù
hợp với thực tế, đặc thù của Việt nam, đáp ứng tình cảm, nguyện vọng của nhân
dân.
2 - Vấn đề Đảng viên làm kinh tế tư nhân.
Đây là vấn đề nhạy cảm, hệ trọng,liên quan đến quan điểm, đường lối,
mục tiêu lý tưởng của Đảng, được đặt ra từ nhiều năm nay. TW đã chỉ đạo Hội
đồng lý luận TW, các cơ quan nghiên cứu, điều tra khảo sát, tổng kết, hội thảo,
trao đổi ý kiến với nhiều đồng chí lãnh đạo ở các địa phương. Riêng BCH TW
đã thảo luận qua 4 kỳ Hội nghị.Tuy nhiên, đây là vấn đề hệ trọng, nhạy cảm, cho
nên có những ý kiến khác nhau, sự lo lắng của một số cán bộ, đảng viên về sự
tha hoá, biến chất của Đảng là chính đáng, rất cần lưu tâm.
Theo yêu cầu của Hội đồng lý luận TW, Trung tâm nghiên cứu dư luận
XH, Ban Tư tưởng – Văn hoá TW đã tiến hành thăm dò dư luận XH về “vấn đề
đảng viên làm kinh tế tư bản, tư nhân”. Đối tượng điều tra là: Cán bộ lãnh đạo,
quản lý ( Chủ yếu từ cấp vụ trở lên) ở một số cơ quan TW, thành phố Hà nội và
10
- Trong thời kỳ quá độ lên CNXH, đất nước còn nghèo, phải tập trung
phát triển lực lượng sản xuất, làm ra nhiều của cải cho XH. Muốn thế phải huy
động mọi nguồn lực, khai thác mọi tiềm nắng, phát huy sức mạnh của toàn dân
tộc, của mọi thành phần kinh tế, tất cả vì dân giàu nước mạnh, xã hội công bằng,
dân chủ, văn minh. Đảng viên phải lãnh đạo và gương mẫu thực hiện chủ trương
này.
- Trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN do Đảng cộng sản lãnh
đạo, chúng ta không xem kinh ấê tư nhân là gắn với chủ nghĩa tư bản mà Đảng
lanhzx đạo kinh tế tư nhân phát triển theo định hướng XHCN. Vì vậy, Đảng
viên có thể làm kinh tế tư nhân trên cơ sở chấp hành pháp luật, điều lệ Đảng và
qui định của BCH TW.
- Hiện nay số Đảng viên làm chủ doanh nghiệp tư nhân ở nước ta còn ít,
qui mô rất nhỏ. Phần đông họ đã từng làm việc trong các cơ quan, doanh nghiệp
nhà nước, bộ đội, công an đã về hưu, về mất sức được Đảng, Nhà nước đào tạo,
bồi dưỡng. Dư luận XH chưa băn khoăn nhiều về đảng viên làm chủ doanh
nghiệp tư nhân. Vì họ đã giải quyết công ăn việc làm cho nhân dân, làm tăng
của cải cho XH, đóng góp ngân sách cho nhà nước, đối xử tốt với người lao
động.
- Theo luật pháp hiện hành, những cán bộ, đảng viên trong biên chế Nhà
nước, tại chức, tại ngũ không được làm chủ doanh nghiệp tư nhân.
- Cho Đảng viên làm kinh tế tư nhân, nhưng với những qui định bảo đảm
vừa phát huy khả năng làm kinh tế của đảng viên, vừa giữ được tư cách đảng
viên không làm biến chất Đảng, không chỉ làm theo pháp luật mà còn phải làm
theo nghĩa vụ, trách nhiệm của đảng viên, chấp hành điều lệ Đảng và những qui
định cụ thể của Đảng.
- Đại hội X phân định các thành phần kinh tế như sau: kinh tế nhà nước,
kinh tế tập thể, kinh tế tư nhân (cá thể, tiểu chủ, tư bản tư nhân), kinh tế tư bản
nhà nước, kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài. Với cách phân định này, kinh tế tư
nhân đã bao gồm kinh tế tư bản tư nhân, do đó, việc ghi “không giới hạn về qui