Dề cương ôn thi TN mới soạn theo chuẩn 2010 - Pdf 16

NGUYENVANSINH TRUONGPTCAP2-3ĐAKIA
Câu 1: Nêu xuất xứ hoàn cảnh ra đời và tóm tắt truyện ngắn “Vợ chồng A Phủ” của Tô Hoài?
1) Xuất xứ-hoàn cảnh ra đời:
+ Vợ chồng A Phủ in trong tập truyện Tây Bắc (1954). Tập truyện được tặng giải nhất- giải thưởng Hội văn nghệ Việt
Nam 1954- 1955. VCAP gồm hai phần. Đoạn trích trong SGK là phần một.
+ Là kết quả chuyến đi cùng bộ đội vào giải phóng Tây Bắc năm 1952 của Tô Hoài.
2) Tóm tắt: Cần đảm bảo một số ý chính:
+ Mị, một cô gái xinh đẹp, yêu đời, có khát vọng tự do, hạnh phúc, bị bắt về làm con dâu gạt nợ cho nhà Thống lí Pá
Tra.
+ Lúc đầu Mị phản kháng nhưng dần dần trở nên tê liệt, chỉ "lùi lũi như con rùa nuôi trong xó cửa".
+ Đêm tình mùa xuân đến, Mị muốn đi chơi nhưng bị A Sử (chồng Mị) trói đứng vào cột nhà
+ Vì bất bình, A Phủ đã đánh A Sử nên bị bắt, bị phạt vạ và trở thành đứa ở trừ nợ cho nhà Thống lí.
+ Không may hổ vồ mất 1 con bò, A Phủ đã bị đánh, bị trói đứng vào cọc đến gần chết.
+ Mị đã cắt dây trói cho A Phủ, 2 người chạy trốn đến Phiềng Sa.
+ Mị và A Phủthành vợ chồng, được giác ngộ, trở thành du kích.
Câu 2: Nêu giá trị hiện thực và giá trị nhân đạo của tác phẩm
1) Giá trị hiện thực:
- Bức tranh chân thực số phận cực khổ của người dân nghèo miền núi Tây Bắc- một thành công có ý nghĩa khai phá
của Tô Hoài ở đề tài miền núi.
- Bộ mặt tàn bạo của giai cấp thống trị ở miền núi: khắc nghiệt, tàn ác với những cảnh tượng hãi hùng như địa ngục
giữa trần gian.
2) Giá trị nhân đạo:
- Yêu thương, đồng cảm sâu sắc với số phận đau khổ của người dân lao động miền núi trước CM.
- Tố cáo, lên án, phơi bày bản chất xấu xa, tàn bạo của giai cấp thống trị
- Trân trọng, ca ngợi vẻ đẹp tâm hồn, sức sống mãnh liệt và khả năng CM của nhân dân Tây Bắc.
Câu 3: Nêu ý nghĩa của truyện ngắn “Vợ chồng A Phủ” của Tô Hoài?
- Tố cáo tội ác của bọn thực dân phong kiến;
- Thể hiện số phận đau khổ của người dân lao động miền núi;
- Phản ánh con đường giải phóng và ca ngợi vẻ đẹp, sức sống tiềm tàng, mãnh liệt của họ.
Luyện tập:
Đề: Phân tích nhân vật Mị trong đoạn trích “Vợ chồng A Phủ” của Tô Hoài . (Ngữ văn 12, tập II)

người vẫn luôn tiềm ẩn và chắc chắn nếu có cơ hội sẽ thức dậy, bừng lên.
c) M ị - sự trỗi dậy của lòng ham sống và khát vọng hạnh phúc:
+ Những yếu tố tác động đến sự hồi sinh của Mị:
- "Những chiếc váy hoa đó đem phơi trên mỏm đá, xòe như con bướm sặc sỡ, hoa thuốc phiện vừa nở trắng lại đổi
ra màu đỏ hau, đỏ thậm rồi sang màu tím man mác".
- "Đám trẻ đợi Tết chơi quay cười ầm trên sàn chơi trước nhà" cũng có những tác động nhất định đến tâm lí của Mị.
- Rượu là chất xúc tác trực tiếp để tâm hồn yêu đời, khát vọng sống của Mị trỗi dậy. "Mị đã lấy hũ rượu uống ừng
ực từng bát một". Mị vừa như uống cho hả giận vừa như uống hận, nuốt hận. Hơi men đó dẫu tâm hồn Mị theo tiếng sáo.
- Tiếng sáo có một vai trò đặc biệt quan trọng.:
* "Mị nghe tiếng sáo vọng lại, thiết tha, bồi hồi. Mị ngồi nhẩm thầm bài hỏt của người đang thổi". "Ngày trước,
Mị thổi sáo giỏi… Mị uốn chiếc lá trên môi, thổi lá cũng hay như thổi sáo. Có biết bao nhiêu người mê, ngày đêm đã thổi
sáo đi theo Mị hết núi này sang núi khác".
* "Tiếng sáo gọi bạn cứ thiết tha, bồi hồi", "ngoài đầu núi lấp ló đã có tiếng ai thổi sáo", "tai Mị vẳng tiếng sáo gọi
bạn đầu làng", "mà tiếng sáo gọi bạn yêu vẫn lửng lơ bay ngoài đường", "Mị vẫn nghe tiếng sáo đưa Mị đi theo những
cuộc chơi, những đám chơi", "trong đầu Mị rập rờn tiếng sáo",…
* Tô Hoài đã miêu tả tiếng sáo như một dụng ý nghệ thuật để lay tỉnh tâm hồn Mị. Tiếng sáo là biểu tượng của
khát vọng tình yêu tự do, đã theo sát diễn biến tâm trạng Mị, là ngọn gió thổi bừng lên đốm lửa tưởng đã nguội tắt. Thoạt
tiên, tiếng sáo còn "lấp lú", "lửng lơ" đầu núi, ngoài đường. Sau đó, tiếng sáo ấy thâm nhập vào thế giới nội tâm của Mị và
cuối cùng nó trở thành lời mời gọi tha thiết để rồi tâm hồn Mị bay theo.
+ Diễn biến tâm trạng Mị trong đêm tình mùa xuân:
- Phản ứng đầu tiên của Mị là: "nếu có nắm lá ngón trong tay Mị sẽ ăn cho chết". Mị đã ý thức được tình cảnh đau
xót của mình. Những giọt nước mắt tưởng đã cạn kiệt vì đau khổ đã lại có thể lăn dài.
- Dấu hiệu đầu tiên của việc sống lại đó là Mị nhớ lại quá khứ, nhớ về hạnh phúc ngắn ngủi trong cuộc đời tuổi trẻ
của mình và niềm ham sống trở lại "Mị thấy phơi phới trở lại, lòng đột nhiên vui sướng như những đêm Tết ngày trước".
"Mị còn trẻ lắm. Mị vẫn còn trẻ lắm. Mị muốn đi chơi".
- Từ những sôi sục trong tâm tư đó dẫn Mị tới hành động "lấy ống mỡ sắn một miếng bỏ thêm vào đĩa dầu". Mị
muốn thắp lên ánh sáng cho căn phòng bấy lâu chỉ là bóng tối. Mị muốn thắp lên ánh sáng cho cuộc đời tăm tối của mình.
- Hành động này đẩy tới hành động tiếp: Mị "quấn tóc lại, với tay lấy cái váy hoa vắt ở phía trong vách".
- Mị quên hẳn sự có mặt của A Sử, quên hẳn mình đang bị trói, tiếng sáo vẫn đang dẫn tâm hồn Mị "đi theo những
cuộc chơi, những đám chơi".

Quảng Trị đến Bắc Kì, hơn hai triệu đồng bào ta chết đói. Kim Lân
viết tiểu thuyết “Xóm ngụ cư” ngay sau Cách mạng Tháng Tám
năm 1945 nhưng sau đó bị thất lạc bản thảo. Đến khi hoà bình lập lại
ở Miền Bắc năm 1954, dựa vào một chương trong tiểu thuyết ấy,
Kim Lân viết lại thành truyện ngắn “Vợ nhặt” .
3)Tóm tắt cốt truyện với những chi tiết chính:
+ Tràng là một thanh niên nghèo ở xóm ngụ cư với mẹ già, làm nghề kéo xe thuê.
+ Trong nạn đói, một lần kéo thóc lên tỉnh, anh gặp một người con gái ngồi lượm thóc ở nhà kho. Qua vài câu đưa đẩy,
họ quen nhau.Thời gian sau anh gặp lại cô gái nhưng đói rách tả tơi thảm thương. Tràng đãi cô ta một bữa bốn bát bánh
đúc và chỉ một câu nói đùa của Tràng mà cô sẵn sàng theo anh về làm vợ.
+ Tràng đưa vợ về nhà trong sự ngỡ ngàng của dân xóm ngụ cư cũng như sự ngạc nhiên buồn tủi của bà cụ Tứ- mẹ
Tràng. Nhưng khi hiểu ra, thương xót cho hoàn cảnh của mình, của Tràng và cả người đàn bà ấy, bà đã vui vẻ chấp nhận
con dâu mới.
+ Đêm tân hôn của Tràng diễn ra trong không khí tái tê của nạn đói. Hôm sau, căn nhà thay đổi hẳn dưới bàn tay quét
dọn của hai người đàn bà. Riêng Tràng, anh cảm thấy mình “nên người”, thấy gắn bó và có trách nhiệm hơn với gia đình.
+ Bữa cơm ngày cưới có tiếng cười và cả sự hiện diện của nạn đói qua niêu cháo lõng bõng và nồi “chè khoán”, miếng
cám chát đắng nhưng họ cùng hướng về cuộc đổi đời. Trong óc Tràng hiện lên đám người đói phá kho thóc và lá cờ đỏ
phấp phới.
Câu 2: Trình bày ý nghĩa nhan đề truyện “Vợ nhặt” của Kim Lân?
+ Nhan đề Vợ nhặt thâu tóm giá trị nội dung tư tưởng tác phẩm. "Nhặt" thường đi với những thứ không ra gì. Thân
phận con người bị rẻ rúng như cái rơm, cái rác, có thể "nhặt" ở bất kì đâu, bất kì lúc nào.
+ Nhưng "vợ" lại là sự trân trọng. Người vợ có vị trí trung tâm xây dựng tổ ấm.
+ Người ta hỏi vợ, cưới vợ, còn ở đây Tràng "nhặt" vợ. Đó thực chất là sự khốn cùng của hoàn cảnh.
=> Như vậy, nhan đề Vợ nhặt vừa thể hiện thảm cảnh của người dân trong nạn đói 1945, vừa bộc lộ sự cưu mang, đùm
bọc và khát vọng, sức mạnh hướng tới cuộc sống, tổ ấm, niềm tin của con người trong cảnh khốn cùng.
Câu 3 : Trình bày tình huống đặc sắc của truyện “Vợ nhặt” của Kim Lân?
+ Tràng là một nhân vật có ngoại hình xấu. Đã thế còn dở người. Lời ăn tiếng nói của Tràng cũng cộc cằn, thô kệch như
chính ngoại hình của anh ta. Gia cảnh của Tràng cũng rất đáng ái ngại. Nguy cơ "ế vợ" đã rõ. Đã vậy lại gặp năm đói
khủng khiếp, cái chết luôn đeo bám. Trong lúc không một ai (kể cả Tràng) nghĩ đến chuyện vợ con của anh ta, thì đột nhiên
Tràng có vợ. Trong hoàn cảnh đó, Tràng "nhặt" được vợ là nhặt thêm một miệng ăn cũng đồng thời là nhặt thêm tai họa

Đề : Phân tích tình huống truyện Vợ nhặt của Kim Lân. Từ đó, nêu lên giá trị hiện thực và giá trị nhân đạo
của tác phẩm.
Gợi ý bài làm:
1) Mở bài:
+ Giới thiệu tác giả, tác phẩm:
- Kim Lân là nhà văn một lòng một dạ đi về với "đất", với "người", với "thuần hậu nguyên thủy" của cuộc sống
nông thôn.
- Nạn đói năm 1945 đã đi vào nhiều trang viết của các nhà văn, nhà thơ. Trong đó có Vợ nhặt của Kim Lân.
+ Nhận xét khái quát:
- Vợ nhặt xây dựng tình huống truyện độc đáo.
- Qua tình huống truyện, tác phẩm thể hiện giá trị hiện thực và giá trị nhân đạo sâu sắc.
2) Thân bài:
1. Bối cảnh xây dựng tình huống truyện.
+ Bối cảnh nạn đói khủng khiếp năm 1945 mà kết quả là hơn hai triệu người chết.
+ Cái chết hiện hình trong tác phẩm tạo nên một không khí ảm đạm, thê lương. Những người sống luôn bị cái chết
đe dọa.
2. Trong bối cảnh ấy, Tràng - nhân vật chính của tác phẩm - "nhặt" được vợ. Đó là một tình huống độc
đáo:
+ Ở Tràng hội tụ nhiều yếu tố khiến nguy cơ "ế" vợ rất cao:
- Ngoại hình xấu, thô.
- Tính tình có phần không bình thường.
- Ăn nói cộc cằn, thô lỗ.
- Nhà nghèo, đi làm thuê nuôi mình và mẹ già.
- Nạn đói đe dọa, cái chết đeo bám.
+ Tràng lấy vợ là lấy cho mình thêm một tai họa (theo lô gích tự nhiên).
ONTAPNGUVAN12-HKII NAMHOC 2009-2010
5
NGUYENVANSINH TRUONGPTCAP2-3ĐAKIA
+ Việc Tràng lấy vợ là một tình huống bất ngờ
- Cả xúm ngụ cư ngạc nhiên.

1) Xuất xứ:
Rừng xà nu (1965) ra mắt lần đầu tiên trên Tạp chí văn nghệ quân giải phóng miền Trung Trung bộ (số 2- 1965), sau
đó được in trong tập Trên quê hương những anh hùng Điện Ngọc.
2) Hoàn cảnh ra đời:
+ Sau chiến thắng Điện Biên Phủ, hiệp định Giơ-ne-vơ được kí kết, đất nước chia làm hai miền. Kẻ thù phá hoại hiệp
định, khủng bố, thảm sát, lê máy chém đi khắp miền Nam. Cách mạng rơi vào thời kì đen tối.
+ Đầu năm 1965, Mĩ đổ quân ồ ạt vào miền Nam và tiến hành đánh phá ác liệt ra miền Bắc. Nguyễn Trung Thành và
các nhà văn miền Nam lúc đó muốn viết "hịch thời đánh Mĩ". Rừng xà nu được viết vào đúng thời điểm mà cả nước ta
trong không khí sục sôi đánh Mĩ. Tác phẩm được hoàn thành ở khu căn cứ của chiến trường miền Trung Trung bộ.
+ Mặc dù Rừng xà nu viết về sự kiện nổi dậy của buôn làng Tây Nguyên trong thời kì đồng khởi trước 1960 nhưng chủ
đề tư tưởng của tác phẩm vẫn có quan hệ mật thiết với tình hình thời sự của cuộc kháng chiến lúc tác phẩm ra đời.
Câu 2: Tóm tắt truyện , nhận xét cốt truyện và cách bố cục của truyện ngắn “Rừng xà nu” (Nguyễn Tr. Thành)?
+ Tóm tắt tác phẩm: Cần đảm bảo những chi tiết chính:
- Làng Xô-man ở trong tầm đại bác của giặc, đạn đại bác tàn phá rừng xà nu nhưng cũng như những người Xô-man,
rừng xà nu vẫn kiên cường bất khuất. Tnú về thăm làng sau ba năm đi lực lượng. Nhân Tnú trở về, cụ Mết đã kể cho dân
làng nghe về cuộc đời của anh.
- Hồi đó, Mĩ-Diệm khủng bố dã man nhưng dân làng vẫn tìm cách nuôi giấu cán bộ. Tnú được anh Quyết-cán bộ
cách mạng dìu dắt. Tnú học chữ và làm liên lạc. Tnú bị bắt và bị giam cầm, tra tấn. Anh vượt ngục trở về, cùng dân làng
chuẩn bị vũ khí chiến đấu. Bọn giặc do thằng Dụcác ôn cầm đầu ập tới khủng bố. Mai và đứa con vừa tròn tháng tuổi bị
giặc bắt. Trước cảnh vợ con anh bị hành hạ dã man, từ nơi ẩn nấp, Tnú lao ra với sức mạnh của lòng căm thù. Tnú bị bắt,
vợ con anh bị giết chết, giặc đốt mười đầu ngón tay anh. Dân làng vùng lên cứu anh và giết thằng Dụ cvà bọn ác ôn. Rồi
Tnú gia nhập lực lượng vũ trang với mười ngón tay cụt.
- Sáng hôm sau, cụ Mết và Dít đưa tiễn Tnú đi trước cánh rừng xà nu nối tiếp nhau chạy đến chân trời.
+ Cốt truyện và cách tổ chức bố cục tác phẩm:
- Rừng xà nu được kể theo một lần về thăm làng của Tnú sau 3 năm đi bộ đội. Đêm ấy, dân làng quây quần bên bếp
lửa nhà rông nghe cụ Mết kể lại câu chuyện bi tráng về cuộc đời Tnú và cuộc đời làng Xô-Man.
- Rừng xà nu là sự lồng quyện hai cuộc đời: cuộc đời Tnú và cuộc đời làng Xô Man. Hai cuộc đời ấy đều đi từ bóng
tối đau thương ra ánh sáng của chiến đấu và chiến thắng, đi từ hai bàn tay không đến hai bàn tay cầm vũ khí đứng lên dùng
bạo lực cách mạng chống lại bạo lực phản cách mạng.
- Cốt truyện Rừng xà nu căng ra trong xung đột quyết liệt một mất một còn giữa một bên là nhân dân, một bên là kẻ

nằm trong cuộc đụng độ ấy. Từ chỗ tả thực, rất tự nhiên,
hình ảnh xà nu đã trở thành một biểu tượng. Xà nu hiện
ra với tư thế của sự sống đang đối diện với cái chết, sự
trường sinh đối diện với sự hủy diệt.
-> Cách mở đầu của câu chuyện thật gọn gàng, cô đúc mà vẫn đầy uy nghi ,tầm vóc.
+ Tựa như quay phim, với kĩ thuật quay toàn cảnh, Nguyễn Trung Thành đã phát hiện ra: "cả rừng xà nu hàng vạn
cây không cây nào là không bị thương". Tác giả đã chứng kiến nỗi đau của xà nu: "có những cây bị chặt đứt ngang
nửa thân mình đổ ào ào như một trận bão".
Rồi "có những cây con vừa lớn ngang tầm ngực người bị đạn đại bác chặt đứt làm đôi. Ở những cây đó, nhựa còn
trong, chất dầu còn loóng, vết thương không lành được cứ loét mãi ra, năm mười hôm sau thì cây chết".
Các từ ngữ: vết thương, cục máu lớn, loét mãi ra, chết,… là những từ ngữ diễn tả nỗi đau của con người. Nhà văn đó
mang nỗi đau của con người để biểu đạt cho nỗi đau của cây. Do vậy, nỗi đau của cây tác động đến da thịt con người gợi lên
cảm giác đau đớn.
+ Nhưng tác giả đã phát hiện được sức sống mãnh liệt của cây xà nu: "trong rừng ít có loại cây sinh sôi nảy nở khỏe
như vậy". Đây là yếu tố cơ bản để xà nu vượt qua giới hạn của sự sống và cái chết. Sự sống tồn tại ngay trong sự hủy diệt:
"Cạnh một cây xà nu mới ngã gục đó có bốn năm cây con mọc lên". Tác giả sử dụng cách nói đối lập (ngã gục><
mọc lên; một><bốn năm) để khẳng định một khát vọng thật của sự sống. Cây xà nu đã tự đứng lên bằng sức sống mãnh
liệt của chính mình: "…cây con mọc lên, hình nhọn mũi tên lao thẳng lên bầu trời". Xà nu đẹp một vẻ đẹp hùng tráng,
man dại, đẫm tố chất núi rừng.
Xà nu không những tự biết bảo vệ mình mà còn bảo vệ sự sống, bảo vệ làng Xô Man: "Cứ thế hai ba năm nay, rừng
xà nu ưỡn tấm ngực lớn ra che chở cho làng”. Hình tượng xà nu chứa đựng tinh thần quả cảm, một sự kiêu hãnh của vị
trí đứng đầu trong bão táp chiến tranh.
+ Trong quá trình miêu tả rừng xà nu, cây xà nu, nhà văn đã sử dụng nhân hóa như một phép tu từ chủ đạo. Ông luôn
lấy nỗi đau và vẻ đẹp của con người làm chuẩn mực để nói về xà nu, khiến xà nu trở thành một ẩn dụ cho con người, một
biểu tượng của Tây Nguyên bất khuất, kiên cường.
Các thế hệ con người làng Xô-Man cũng tương ứng với các thế hệ cây xà nu.
ONTAPNGUVAN12-HKII NAMHOC 2009-2010
Câu 5: Phân tích ý nghĩa của văn bản “ Rừng xà nu” (Nguyễn Trung Thành)
8
NGUYENVANSINH TRUONGPTCAP2-3ĐAKIA

những thằng ác ôn, tiếng gậy sắt nện "hự hự" xuống thân người. Anh Xút bị treo cổ. Bà Nhan bị chặt đầu. Mẹ con Mai bị
chết rất thảm. Tnú bị đốt 10 đầu ngón tay.
- Cuộc sống ngột ngạt dồn nén đau thương, căm thù. Đêm Tnú bị đốt 10 đầu ngón tay, làng Xô Man đã nổi dậy "ào
ào rung động", "xác mười tên giặc ngổn ngang", tiếng cụ Mết như mệnh lệnh chiến đấu: "Thế là bắt đầu rồi, đốt lửa lên!"
Đó là sự nổi dậy đồng khởi làm rung chuyển núi rừng. Câu chuyện về cuộc đời một con người trở thành câu chuyện
một thời, một đất nước. Như vậy, câu chuyện về cuộc đời Tnú đã mang ý nghĩa cuộc đời một dân tộc. Nhân vật sử thi của
Nguyễn Trung Thành gánh trên vai sứ mệnh lịch sử to lớn.
3. Vai trò của các nhân vật: cụ Mết, Mai, Dít, Heng:
+ Cụ Mết, Mai, Dít, bé Heng là sự tiếp nối các thế hệ làm nổi bật tinh thần bất khuất của làng Xô-Man nói riêng, của Tây
Nguyên nói chung.
+ Cụ Mết "quắc thước như một cây xà nu lớn" là hiện thân cho truyền thống thiêng liêng, biểu tượng cho sức mạnh tập
hợp để nổi dậy đồng khởi.
+ Mai, Dít là thế hệ hiện tại. Trong Dít có Mai của thời trước và có Dít của hôm nay. Vẻ đẹp của Dít là vẻ đẹp của sự
kiên định, vững vàng trong bão táp chiến tranh.
+ Bé Heng là thế hệ tiếp nối, kế tục cha anh để đưa cuộc chiến tới thắng lợi cuối cùng.
=>Dường như cuộc chiến khốc liệt này đòi hỏi mỗi người Việt Nam phải có sức trỗi dậy của một Phù Đổng Thiên
Vương.
Luyện tập:
ONTAPNGUVAN12-HKII NAMHOC 2009-2010
9
NGUYENVANSINH TRUONGPTCAP2-3ĐAKIA
Đề :“Rừng Xà nu” là bản anh hùng ca về cuộc chiến đấu của nhân dân Tây Nguyên trong chiến tranh chống
Mĩ cứu nước. Hãy phân tích tác phẩm “Rừng Xà nu”của nhà văn Nguyễn Trung Thành để làm sáng tỏ nhận
định trên.
Gợi ý bài làm:
1. Tìm hiểu đề:
- Nội dung yêu cầu nghị luận: phân tích tác phẩm “Rừng Xà nu”(của Nguyễn Trung Thành) để thấy được đó là bản
anh hùng ca về cuộc chiến đấu của nhân dân Tây Nguyên trong chiến tranh chống Mĩ cứu nước.
- Các thao tác nghị luận: phân tích, chứng minh, bình luận.
- Phạm vi tư liệu: tác phẩm “Rừng Xà nu”(của Nguyễn Trung Thành)

* Câu chuyện anh hùng của Tnú- nhân vật sử thi điển hình: đó là câu chuyện của một đời người nhưng được kể trong
một đêm.
+ Hoàn cảnh: mồ côi cha mẹ, được dân làng Xô Man đùm bọc, nuôi dưỡng. Sau đó làm liên lạc cho anh Quyết, bị
giặc bắt, vượt ngục trở về lãnh đạo dân làng. Anh đã vượt qua những bi kịch cá nhân để cầm súng.
+ Khi còn nhỏ: xuất hiện trong tính cách anh hùng, sớm tỏ ra thông minh, gan dạ, quả cảm.
+ Khi lớn lên lãnh đạo dân làng: anh đã biết vượt qua đau đớn, bi kịch cá nhân để chiến đấu ( bất lực khi nhìn cảnh
vợ con bị tra tấn, chịu đựng ngọn lửa tra tấn; yêu thương, gắn bó sâu nặng với buôn làng, quê hương )
Chú ý: Nêu dẫn chứng phải tiêu biểu, đầy đủ, nhất là những chi tiết nghệ thuật: bàn tay Tnú, tiếng chày giã gạo của
người Strá
ONTAPNGUVAN12-HKII NAMHOC 2009-2010
10
NGUYENVANSINH TRUONGPTCAP2-3ĐAKIA
c. Kết luận: Nhận xét, đánh giá chung về tác phẩm:.
- Đặc sắc về nghệ thuật: cốt truyện hấp dẫn, cách kể chuyện sinh động, khéo léo; giọng điệu, ngôn ngữ, nhân vật đậm
chất sử thi
- Qua cách khắc hoạ những phẩm chất anh hùng của tập thể dân làng Xô Man, truyện ngắn “Rừng xà nu” được xem
là bài ca về chủ nghĩa anh hùng cách mạng của nhân dân Tây Nguyên trong cuộc kháng chiến chống Mĩ. /.
Câu 1: Trình bày vài nét về đặc điểm sáng tác của Nguyễn Thi?
Đặc điểm sáng tác:
- Nguyễn Thi gắn bó với nhân dân miền Nam và thực sự xứng đáng với danh hiệu: Nhà văn của người dân Nam Bộ.
- Nhân vật của Nguyễn Thi có cá tính riêng nhưng tất cả đều có những đặc điểm chung "rất Nguyễn Thi". Đó là:
- Yêu nước mãnh liệt, thủy chung đến cùng với Tổ quốc, căm thù ngùn ngụt bọn xâm lược và tay sai của chúng, vô
cùng gan góc và tinh thần chiến đấu rất cao- những con người dường như sinh ra để đánh giặc.
- Tính chất Nam bộ: thẳng thắn, bộc trực, lạc quan, yêu đời, giàu tình nghĩa.
Câu 2: Nêu xuất xứ, hoàn cảnh ra đời và tóm tắt truyện ngắn “Những đứa con trong gia đình” (Nguyễn Thi)
1) Xuất xứ, hoàn cảnh ra đời : Tác phẩm được viết ngay trong những ngày chiến đấu ác liệt khi ông công tác với tư cách
là một nhà văn-chiến sĩ ở Tạp chí Văn nghệ Quân giải phóng (tháng 2 năm 1966). Sau được in trong Truyện và kí - NXB
Văn học Giải phóng, 1978.
2) Tóm tắt cốt truyện theo nhân vật chính:
Việt là một chiến sĩ Giải phóng quân, xuất thân từ một gia đình nông dân có mối thù sâu nặng với Mĩ-nguỵ: ông nội và

Tóm lại: Tình huống truyện dẫn đến một cách trần thuật riêng của thiên truyện theo dòng ý thức của nhân vật.
Câu 4 : Ý nghĩa của văn bản “Những đứa con trong gia đình” của Nguyễn Thi
Truyện kể về những đứa con trong một gia đình nông dân Nam Bộ có truyền thống yêu nước, căm thù giặc và khao
khát chiến đấu, son sắt với cách mạng. Tác giả khẳng định: Sự hòa quyện giữa tình cảm gia đình với tình yêu nước, giữa
truyền thống gia đình với truyền thống dân tộc đã làm nên sức mạnh tinh thần to lớn của con người Việt Nam, dân tộc VN
trong cuộc kháng chiến chống Mĩ cứu nước.
Câu 5: Chất sử thi của thiên truyện “Những đứa con trong gia đình” của Nguyễn Thi?
- Thể hiện qua cuốn sổ của gia đình với truyền thống yêu nước, căm thù giặc, thủy chung son sắt với quê hương. Cuốn
sổ là lịch sử gia đình mà qua đó thấy lịch sử của một đất nước, một dân tộc trong cuộc chiến chống Mĩ.
- Số phận của những đứa con, những thành viên trong gia đình cũng là số phận của nhân dân miền Nam trong cuộc
kháng chiến chống Mĩ khốc liệt.
- Mỗi nhân vật trong truyện đều tiêu biểu cho truyền thống, đều gánh vác trên vai trách nhiệm với gia đình, với Tổ
quốc trong cuộc chiến tranh vệ quốc vĩ đại.
- Truyện về một gia đình nhưng ta lại cảm nhận được cả một Tổ quốc đang hào hùng chiến đấu bằng sức mạnh sinh
ra từ những đau thương.
Luyện tập:
Đề : Truyện ngắn Những đứa con trong gia đình của Nguyễn Thi có nêu lên quan niệm: Chuyện gia đình cũng dài
như sông, mỗi thế hệ phải ghi vào một khúc. Rồi trăm con sông của gia đình lại cùng đổ về một biển, "mà biển thì rộng
lắm […], rộng bằng cả nước ta và ra ngoài cả nước ta".
Chứng minh rằng, trong thiên truyện của Nguyễn Thi, quả đã có một dòng sông truyền thống gia đình liên tục chảy
từ những lớp người đi trước: tổ tiên, ông cha, cho đến đời chị em Chiến, Việt.
Gợi ý:
Bài viết cần có những ý cơ bản sau:
1. Chuyện gia đình cũng dài như sông, mỗi thế hệ phải ghi vào một khúc.
Có thể hiểu:
+ Chỉ được coi là con của gia đình những ai đã ghi được, làm được "khúc" của mình trong dòng sông truyền
thống. Con không chỉ là sự tiếp nối huyết thống mà phải là sự tiếp nối truyền thống của cha.
+ Không thể hiểu khúc sau của một dòng sông nếu không hiểu ngọn nguồn đã sinh ra nó. Cũng như vậy, ta chỉ có
thể hiểu những đứa con (Chiến, Việt) khi hiểu truyền thống gia đình đã sinh ra những đứa con ấy.
Chứng minh:

Câu 1: Trình bày vài nét về Nguyễn Minh Châu và đặc điểm sáng tác của ông sau năm 1975?
- Nguyễn Minh Châu (1930- 1989), quê ở làng Thơi, xã Quỳnh Hải (nay là xã Sơn Hải), huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An.
Ông “thuộc trong số những nhà văn mở đường tinh anh và tài năng nhất của văn học ta hiện nay"
ONTAPNGUVAN12-HKII NAMHOC 2009-2010
13
CHIẾC THUYỀN NGOÀI XA (trích)
-Nguyễn Minh Châu-_
NGUYENVANSINH TRUONGPTCAP2-3ĐAKIA
- Sau 1975, khi văn chương chuyển hướng khám phá, trở về với đời thường, Nguyễn Minh Châu là một trong số những
nhà văn đầu tiên của thời kì đổi mới đã đi sâu khám phá sự thật đời sống ở bình diện đạo đức-thế sự. Tâm điểm những
khám phá nghệ thụât của ông là con người trong cuộc mưu sinh, trong hành trình nhọc nhằn kiếm tiền hạnh phúc và hoàn
thiện nhân cách.
Câu 2: Nêu xuất xứ, hoàn cảnh ra đời và tóm tắt truyện ngắn “ Chiếc thuyền ngoài xa” của Nguyễn Minh
Châu ?
Truyện ngắn lúc đầu được in trong tập Bến quê (1985), sau được nhà văn lấy làm tên chung cho một tuyển tập truyện
ngắn (in năm 1987).
Truyện in đậm phong cách tự sự - triết lí của Nguyễn Minh Châu, rất tiêu biểu cho hướng tiếp cận đời sống từ góc độ thế
sự của nhà văn ở giai đoạn sáng tác thứ hai.
Tóm tắt tác phẩm :
Để có thể xuất bản một bộ lịch nghệ thuật về thuyền và biển thật ưng ý, trưởng phòng đề nghị nghệ sĩ nhiếp ảnh Phùng
đi thực tế chụp bổ sung một bức ảnh với cảnh biển buổi sáng có sương mù.
Nhân chuyến đi thăm Đẩu, người bạn chiến đấu năm xưa, giờ đang là chánh án toà án huyện, Phùng đi tới một vùng
biển từng là chiến trường cũ của anh thời chống Mĩ. Phùng đã “phục kích” mấy buổi sáng mà chưa chụp được bức ảnh
nào. Sau gần một tuần lễ suy nghĩ, tìm kiếm, Phùng quyết định thu vào tờ lịch tháng bảy năm sau cảnh thuyền đánh cá thu
lưới vào lúc bình minh. Phùng đã chụp được một bức ảnh thật đẹp và toàn bích.
Nhưng anh không ngờ chính từ chiếc thuyền ngoài xa thật đẹp ấy lại bước xuống một đôi vợ chồng hàng chài và lão
đàn ông thẳng tay quật vợ chỉ để giải toả nỗi uất ức, buồn khổ của mình.Phùng chưa kịp xông ra can ngăn thì thằng Phác,
con lão, đã kịp tới để che chở người mẹ đáng thương. Biết Phùng chứng kiến sự tàn bạo của cha mình, thằng bé Phác đâm
ra căm ghét anh. Ba hôm sau, cũng trong làn sương sớm, Phùng lại chứng kiến cảnh lão đàn ông đánh vợ, cảnh cô chị gái
tước đoạt con dao găm mà thằng em trai định dùng làm vũ khí để bảo vệ mẹ. Không thể nén chịu hơn được nữa, Phùng

Người đàn bà đi vào bãi xe tăng hỏng chờ đợi, người chồng đến và đánh vợ một cách tàn bạo, người vợ nhận đòn với vẻ
cam chịu đầy nhẫn nhục Người đàn bà được mời đến toà án huyện để giải quyết. Thật ngạc nhiên, người đàn bà “lạy quí
toà” và van xin: “bắt tội”, “bỏ tù” cũng được nhưng “đừng bắt con bỏ nó”. Sự thật được giải đáp khi người đàn bà kể lại
câu chuyện về cuộc đời mình. Người đàn bà chấp nhận những trận đòn một cách “tự nguyện” là bởi ở thuyền “phải có
người đàn ông để chèo chống khi phong ba”, bởi đàn bà ở thuyền “phải sống cho con chứ không thể sống cho mình”.
Như vậy, “Chiếc thuyền ngoài xa” còn là chiếc thuyền có thật trong cuộc đời, là không gian sinh tồn của gia
đình hàng chài với cuộc sống bấp bênh, đầy khó khăn, bất trắc.
Nếu chiếc thuyền ấy không vào gần bờ, không có câu chuyện của người đàn bà trên thuyền kể lại, chỉ nhìn “chiếc
thuyền” khi nó ở “ngoài xa” thì làm sao thấu hiểu sự thật? Đây chính là tư tưởng cốt lõi của truyện ngắn: thấy được xa và
gần, bên ngoài và thẳm sâu, mới là cái nhìn toàn diện về cuộc sống, cần có một cái nhìn nhiều chiều như thế mới phát
hiện ra bản chất thật của cuộc sống và con người.
“Chiếc thuyền ngoài xa” đã trở thành tấm ảnh đẹp, treo ở nhiều nơi, nhất là ở trong các gia đình sành nghệ thuật,
nhưng có ai hiểu được câu chuyện con người trên chiếc thuyền ấy. Chỉ có nghệ sĩ Phùng, mỗi khi ngắm nhìn tấm ảnh bao
giờ cũng “thấy người đàn bà ấy dang bước ra khỏi tấm ảnh”, một người đàn bà lam lũ, cam chịu, giàu tình thương, lòng
vị tha. Đó cũng là thông điệp của tác giả gửi tới người đọc: nghệ thuật luôn gắn liền với cuộc đời
Câu 5 : Ý nghĩa của truyện ngắn “Chiếc thuyền ngoài xa” của Nguyễn Minh Châu ?
Từ câu chuyện về một bức tranh nghệ thuật và sự thật cuộc đời đằng sau bức ảnh, truyện ngắn “Chiếc thuyền
ngoài xa” thể hiện những chiêm nghiệm sâu sắc của nhà văn về nghệ thuật và cuộc đời:
- Nghệ thuật chân chính phải luôn gắn với cuộc đời, vì cuộc đời;
- Người nghệ sĩ cần phải nhìn nhận cuộc sống và con người một cách toàn diện, sâu sắc;
- Rung lên hồi chuông báo động về tình trạng bạo lực gia đình và hậu quả khôn lường của nó.
Luyện tập:
Đề : Cảm nhận của anh chị về truyện ngắn “Chiếc thuyền ngoài xa” của Nguyễn Minh Châu.
1) Mở bài:

Nguyễn Minh Châu –người mở đường tinh anh và tài năng của văn học Việt Nam thời kì đổi mới.Những tác phẩm
của ông để lại dấu ấn sâu sắc với người đọc: “Mảnh trăng cuối rừng”, “Bức tranh” và đặc biệt là tác phẩm “Chiếc thuyền
ngoài xa”viết vào những năm đầu thời kì đổi mới.
Truyện ngắn “Chiếc thuyền ngoài xa” thể hiện một bài học đúng đắn về cách nhìn nhận cuộc sống và con người:một
cách nhìn đa dạng nhiều chiều,phát hiện ra bản chất thật sau vẻ đẹp bên ngoài của hiện tượng.Đồng thời tác phẩm in đậm

còn những góc khuất. Đặc biệt là câu chuyện của người đàn bà làng chài ở tòa án huyện.Bề ngoài,đó là một người đàn bà
nhẫn nhục, cam chịu,bị chồng thường xuyên hành hạ,đánh đập thật khốn khổ “ba ngày một trận nhẹ,năm ngày một trận
nặng”, nhưng người đàn bà vẫn kiên quyết gắn bó với lão đàn ông ấy: “Con lạy quý tòa Quý tòa bắt tội con cũng
được,phạt tù con cũng được,đừng bắt con bỏ nó”. Nguồn gốc của những nghịch lí đó là tình thương vô bờ đối với những
đứa con “Đám đàn bà hàng chài ở thuyền chúng tôi cần phải có người đàn ông để chèo chống khi phong ba, để cùng làm
ăn nuôi nấng, phải sống cho con chứ không phải sống cho mình”. Phùng từng là người lính chiến đấu giải phóng miền
Nam khỏi nanh vuốt quân xâm lược nhưng lại không thể nào giải phóng được số phận của người đàn bà bất hạnh.Qua câu
chuyện của người đàn bà, Phùng càng thấm thía: không thể đơn giản trong cái nhìn về cuộc đời và con người.
Người đàn bà hàng chài không có tên, một người vô danh như biết bao người đàn bà vùng biển khác.Thấp thoáng trong
người đàn bà ấy là bóng dáng của biết bao người phụ nữ Việt Nam nhân hậu,bao dung,giàu đức hi sinh. Người đàn bà ấy
thật đáng chia sẻ cảm thông. Lão đàn ông trước kia là một “anh con trai cục tính nhưng hiền lành” nay là một người chồng
độc ác.Ông ta vừa là nạn nhân của cuộc sống khốn khổ,vừa là thủ phạm gây nên bao đau khổ cho chính những người thân
của mình. Làm thế nào để khôi phục cái phần thiện trong người đàn ông ấy? Trong một gia đình như gia đình vợ chồng
làng chài, những đứa trẻ như cậu bé Phác và chị nó, lớn lên và sẽ thành người như thế nào? Những người nghệ sĩ như
Phùng, những nhà quản lí xã hội như Đẩu sẽ làm gì để cuộc sống bớt đi những mảnh đời như vậy?! Đó chính là những vấn
đề mà tác giả hằng trăn trở và đặt ra cho người đọc để cùng suy gẫm và hành động.
Cốt truyện của tác phẩm rất sáng tạo và độc đáo.Những tình huống chứa đầy sự nghịch lí: Một trưởng phòng muốn có tờ
lịch “tĩnh vật hoàn toàn” nhưng thực tế vẫn có hình ảnh con người. Một người nghệ sĩ chụp được bức ảnh tuyệt đẹp thì
chính trong đó lại chứa những cái xấu, cái ác. Một người đàn bà bị chồng đánh dã man nhưng không bao giờ muốn từ bỏ
lão. Những nghịch lí đó vẫn tồn tại trong cuộc đời như nói lên một triết lí sâu sắc: Cuộc sống không hề đơn giản, không dễ gì
khám phá. Người nghệ sĩ phải có cái nhìn nhiều chiều khi phản ánh hiện thực cuộc sống.
Người kể chuyện là sự hóa thân của tác giả vào n/vật Phùng đã tạo ra một điểm nhìn trần thuật sắc sảo. Lời kể trở nên khách
quan, chân thật giàu sức thuyết phục.Ngôn ngữ n/v phù hợp với đ.điểm tính cách của từng người: giọng lão đàn ông thô bỉ, lời
người đàn bà xót xa, cam chịu…Việc sử dụng ngôn ngữ sáng tạo đã góp phần khắc sâu hơn chủ đề tư tưởng của TP
3) Kết bài:
Truyện ngắn “Chiếc thuyền ngoài xa” nêu lên một bài học đúng đắn về cách nhìn nhận cuộc sống và con người: Mỗi
người trong cõi đời, nhất là người nghệ sĩ, không thể đơn giản, sơ lược khi nhìn nhận cuộc sống và con người. Cần có một
cách nhìn đa diện đối với cuộc sống, phát hiện ra bản chất thật sau vẻ đẹp bên ngoài của hiện tượng. Nhà văn Nguyễn Minh
Châu đã phản ánh những nội dung ngồn ngộn hơi thở hiện thực ấy bằng một phong cách tự sự-triết lí rất riêng.
Có thể khẳng định Nguyễn Minh Châu là một trong số những nhà văn đầu tiên của thời kì đổi mới đã đi sâu khám phá

5. Lý trưởng sách nhiễu. Trương Ba phải ở nhà hàng thịt đến đêm mới được về nhà
6. Bị thể xác xui khiến, Trương Ba định xuôi theo ở lại với vợ hàng thịt
ONTAPNGUVAN12-HKII NAMHOC 2009-2010
Câu 1: Trình bày những nét cơ bản về tiểu sử sự nghiệp của tác giả Lưu Quang Vũ?
17
HỒN TRƯƠNG BA DA HÀNG THỊT (trích)
_ -Lưu Quang Vũ-_
NGUYENVANSINH TRUONGPTCAP2-3ĐAKIA
7. Trương Ba bắt đầu thay đổi tâm tính khiến mọi người trong gia đình, bạn bè, xa lánh chán ghét, bản thân vô cùng
đau khổ. N/v quyết định giải thoát: chấp nhận chết hẳn, hồn Trương Ba nhập vào màu xanh cây cỏ.
* Truyện cổ dân gian:
Ngày xưa có một người tên là Trương Ba, người còn trẻ tuổi nhưng đánh cờ tướng rất giỏi. Nước cờ của anh dễ
thường thiên hạ không có người nào địch nổi. Bao nhiêu giải cờ trong những hội hè mùa xuân đều về tay anh. Tiếng đồn
vang khắp nước, sang đến tận Giang Nam. Buổi ấy ở Trung Quốc có ông Kị Như cũng nổi tiếng cờ cao. Khi nghe tiếng
Trương Ba, Kị Như liền xách khăn gói sang Nam tìm đến nhà địch thủ. Hai người đọ tài nhau trong mấy ván vẫn không
phân thua được. Nhưng đến ván thứ ba, Trương Ba dồn Kị Như vào thế bí. Thấy đối phương vò đầu suy nghĩ, Trương Ba
kiêu hãnh bảo: Nước cờ dù có Đế Thích xuống đây cũng không thể gỡ nổi.
Bấy giờ Đế Thích là tiên cờ ở thiên đình, bỗng nghe câu nói hỗn xược của Trương Ba, liền cưỡi mây xuống trần để
cho y biết tay. Trương Ba và Kị Như đang đánh, chợt có một ông cụ già đến ngồi bên cạnh bàn cờ. Ông cụ thủng thỉnh
mách cho Kị Như mấy nước, Kị Như chuyển bại thành thắng. Trương Ba cau có, trong bụng tức giận ông già ở đâu đến
làm cho mình lâm vào thế bí. Nhưng khi nhìn thấy ông cụ râu tóc trắng xoá, mặt mũi không có vẻ là người trần tục, chợt
hiểu, liền sụp xuống lạy và rằng: Ngài hẳn là thần Đế Thích đây rồi, tôi người trần mắt thịt không biết, xin thứ lỗi. Đế Thích
cười bảo: Ta nghe như nhà ngươi tự phụ là cao cờ nên xuống xem cho biết. Trương Ba liền giữ Đế Thích lại mua rượu,
giết gà khoản đãi rất chu tất. Đế Thích tuy mới gặp nhưng cũng rất yêu mến Trương Ba. Thấy anh khẩn khoản muốn học
nước cờ của mình, Đế Thích bảo anh: Ta thấy nhà ngươi có bụng chân thành, vậy ta cho một nén hương này, mỗi lần cần
đến ta thì thắp lên một cây, ta sẽ xuống. Nói đoạn, cưỡi mây bay về trời.
Từ đó, Trương Ba thỉnh thoảng lại dọn cờ mời thầy Đế Thích xuống chơi. Hai bên rất tương đắc. Nhưng một hôm
Trương Ba bị cái chết mang đi một cách đột ngột. Sau khi chôn cất chồng, người vợ dọn dẹp nhà cửa. Thấy có nén hương
giắt ở mái nhà, chị ta vô tình lấy xuống đốt lên cắm trước bàn thờ chồng. Ở thiên đình, tiên Đế Thích nhận được mùi hương
liền xuống ngay. Thấy vắng mặt Trương Ba, Đế Thích ngạc nhiên: Trương Ba đâu ? Vợ Trương Ba sụt sịt: Nhà tôi chết

khổ, tuyệt vọng khiến Hồn Trương Ba không
chịu nổi phải cầu xin Đế Thích cho mình được
chết hẳn.
ONTAPNGUVAN12-HKII NAMHOC 2009-2010
18
NGUYENVANSINH TRUONGPTCAP2-3ĐAKIA

b) Đoạn trích là phần lớn cảnh VII và đoạn kết của vở kịch, đúng vào lúc xung đột trung tâm của vở kịch lên đến đỉnh
điểm: Sau mấy tháng sống trong tình trạng "bên trong một đằng, bên ngoài một nẻo", nhân vật Hồn Trương Ba
ngày càng trở nên xa lạ với bạn bè, người thân trong gia đình và tự chán ghét chính mình, muốn thoát ra khỏi
nghịch cảnh trớ trêu. Nhân vật quyết định giải thoát: chấp nhận chết hẳn. Hồn Trương Ba nhập vào màu xanh
cây cỏ.
2) Phân tích đoạn trích: (Trích từ cảnh VII và đoạn kết của vở kịch. Thuộc phần cao trào và mở nút)
a) Ý nghĩa ẩn dụ đoạn đối thoại Hồn Trương Ba - Xác hàng thịt:

- Trước hết đó là hoạt động kịch đã đầy ><, xung đột kịch tới cao trào. Xác anh hàng thịt tỏ ra lấn át hồn Trương Ba ->
sỉ nhục hồn Trương Ba -> hồn Trương Ba đau khổ đến cực độ -> không thể chịu được nữa.
- Ý nghĩa ẩn dụ của đoạn đối thoại:
+ Xác anh hàng thịt: ẩn dụ về thể xác của con người.
+ Hồn Trương Ba: ẩn dụ về linh hồn của con người -> cuộc đối thoại đó là cuộc đấu tranh giữa thể xác và linh hồn
trong một con người.
-> Đó là hai thực thể có quan hệ hữu cơ với nhau.
+ Thể xác có tính độc lập tương đối, có tiếng nói, có khả năng tác động vào linh hồn.
+ Linh hồn phải đấu tranh với những đòi hỏi không chính đáng của thể xác -> để hoàn thiện nhân cách.
b) Đoạn đối thoại giữa hồn Trương Ba và gia đình:
Trong đoạn đối thoại đó, tính cách Trương Ba đã có sự thay đổi:
-> trở nên thô vụng hơn: làm gãy cây, gẫy diều .
-> trở nên xa lạ hơn với người thân: vợ, con, cháu không muốn gần gũi vì tính tình của Trương Ba đã thay đổi.
Trước sự đổi thay đó, hồn Trương Ba đó nhận ra: ông cảm thấy không thể sống như vậy được nữa, không thể khuất phục
trước thể xác, bởi như thế là tự đánh mất mình.

Năm 18 tuổi lên Nam Kinh học trường Thủy sư học (hàng hải)
Hai năm sau bỏ học thi lại vào trường Khoáng lộ học đường (kỹ sư mỏ)
Năm 1902 đỗ tốt nghiệp, được cử sang Nhật học vào ngành Y.
Năm 1909 giã từ nước Nhật trở về dạy học nuôi mẹ, nuôi em.
Thời thanh niên Lỗ Tấn sục sôi nhiệt huyết, có lòng yêu nước sâu xa, có tinh thần tiếp thu mạnh mẽ. Ông đã đổi
nghề 4 lần: Hàng hải -> Khoảng lộ (mỏ) -> Y -> viết văn. => là người yêu nước, thương dân muốn cứu nước cứu dân.
Con đường gian nan để chọn ngành nghề của Lỗ Tấn vừa mang đậm dấu ấn lịch sử Trung Hoa thời cận hiện đại,
vừa nói lên tâm huyết của một người con ưu tú của dân tộc.
Ngòi bút Lỗ Tấn mang tính văn chương đích thực bởi vì ông đã đề cập đến sứ mệnh thiêng liêng nhất của văn học
là góp phần cứu nước cứu dân. Ông đã phát huy được một trong những chức năng đích thực của văn chương là chữa bệnh
tinh thần cho quốc dân đồng bào.
Ông là nhà văn mà Bác Hồ thích đọc ngay từ thời trẻ, khi bôn ba hoạt động cách mạng. Năm 1936, Lỗ Tấn mất
2) Sự nghiệp văn chương:
Để lại một khối lượng tác phẩm khổng lồ 20 tập (mỗi tập 600 trang) đủ các thể loại
Tác phẩm chính:
- AQ chính truyện (Kiệt tác của văn học hiện đại Trung Quốc và thế giới),
- 3 tập truyện ngắn, tiêu biểu : Gào thét(1923), Bàng hoàng(1926), Chuyện cũ viết theo lối mới(1936).
- 17 tạp văn: Nấm mồ, Cỏ dại, Gió nóng, Hai lòng
=> Nhà văn hiện đại Trung Quốc, danh nhân văn hóa thế giới
Câu 2: Trước khi trở thành nhà văn Lỗ Tấn đã học những nghề nào? Tại sao cuối cùng ông chuyển sang
là văn nghệ? Nêu tên 3 tác phẩm của ông.
ONTAPNGUVAN12-HKII NAMHOC 2009-2010
20
LỖ TẤN VỚI TRUYỆN NGẮN
“THUỐC”
NGUYENVANSINH TRUONGPTCAP2-3ĐAKIA
Trước khi trở thành nhà văn Lỗ Tấn đã học những nghề:
- Hàng hải: với ước mong mở rộng tầm mắt - học nghề khai thác mỏ với nguyện vọng làm giàu cho Tổ quốc
- Khoáng lộ học đường (kỹ sư mỏ)->khai tác tài nguyên, làm giàu cho đất nước.
- Nghề y: để chữa bệnh cho người nghèo như bố ông.

- Cốt truyện đơn giản nhưng hàm súc.
- Các chi tiết, hình ảnh đều giàu ý nghĩa tượng trựng. Đặc biệt là hình ảnh chiếc bánh bao tẩm máu, hình ảnh con
đường, hình ảnh vòng hoa trên mộ Hạ Du,
- Không gian, thời gian của truyện là một tín hiệu nghệ thuật có ý nghĩa ./.
ONTAPNGUVAN12-HKII NAMHOC 2009-2010
21
SÔLÔKHÔP VÀ
“SỐ PHẬN CON NGƯỜI”
(trích)

_
NGUYENVANSINH TRUONGPTCAP2-3ĐAKIA
Câu 1: Hãy cho biết tiểu sử và sự nghiệp sáng tác thơ văn của Sô-lô-khôp
1) Tiểu sử:
Mi-kha-in A-lêch-xan-đrô-vích Sô-lô-khôp (1905-1984), sinh ra trong một gia đình nông dân, vùng thảo nguyên
sông Đông, thuộc tỉnh Rôxtốp của Liên Xô cũ.
Thời nội chiến: nghỉ học, tham gia cách mạng và bắt đầu viết văn. Năm 1923, Sôlôkhốp quyết tâm lên Max-cơ-
va, tại đây ông làm đủ nghề để kiếm sống và thực hiện giấc mộng viết văn.
Năm 1925 vì cảm thấy “thiếu quê hương” nên ông trở về quê và bắt tay vào sự nghiệp sáng tác “Sông Đông êm
đềm” .
Thời kỳ chiến tranh vệ quốc (1941-1945), ông khoác áo lính, làm phóng viên chiến trường, xông pha trên nhiều
mặt trận, nhiều bài ký sự, chính luận, truyện ngắn nổi tiếng được ra đời
2) Sự nghiệp sáng tác:
a) Tác phẩm:
- Tập truyện “Truyện sông Đông” (1926)
- Bộ tiểu thuyết “Sông Đông êm đềm” bắt đầu sáng tác năm 1925 hoàn thành năm 1940, được tặng giải thưởng
Nôben về văn học năm 1965.
- “Đất vỡ hoang” (1932-1959)
b) Đề tài:
+ Sô-lô-khốp sinh ra và lớn lên ở vùng Sông Đông. Cuộc sống của ông gắn bó máu thịt với con người và cảnh

2) Giá trị nhân đạo:
+ Quan tâm số phận nghiệt ngã của con người; niềm cảm thương, trân trọng ý chí con người.
+ Niềm cảm phục của tác giả về sự hy sinh của thế hệ đi trước để tạo niềm tin cuộc sống cho thế hệ kế tiếp.
=> Ý nghĩa tư tưởng:
Khám phá và ca ngợi tính cách Nga, đó là sự cứng rắn ý chí kiên cường có niềm tin mãnh liệt vào cuộc sống và
tâm hồn nhân hậu sâu sắc.
Số phận con người của Sô-lô-khốp đã khiến ta suy nghĩ nhiều hơn đến số phận của từng con người cụ thể sau
chiến tranh. Tác phẩm đã khẳng định một cách viết mới về chiến tranh: không né tránh mất mát, không say với chiến thắng
mà biết cảm nhận chia sẻ những đau khổ tột cùng của con người sau chiến tranh. Từ đó mà tin yêu hơn đối với con người.
Số phận con người khẳng định sức mạnh của lòng nhân ái, tinh thần trách nhiệm, nghị lực con người. Tất cả những điều đó
sẽ nâng đỡ con người vượt lên số phận
II/ Đặc sắc nghệ thuật :
- Kiểu truyện lồng truyện, hai người kể chuyện (tác giả và nhân vật). Nhờ đó, đảm bảo tính chân thực, tạo ra một
phương thức miêu tả lịch sử mới: lịch sử trong mối quan hệ mật thiết với số phận cá nhân.
- Sáng tạo nhiều tình huống nghệ thuật, nhiều chi tiết, tình tiết để khám phá chiều sâu tính cách nhân vật.
Số phận con người có sức rung cảm vô hạn của chất trữ tình sâu lắng. Nhà văn đã sáng tạo ra hình thức tự sự độc đáo,
sự xen kẽ nhịp nhàng giọng điệu của người kể chuyện (tác giả và nhân vật chính). Sự hoà quyện chặt chẽ chất trữ tình của
tác giả và chất trữ tình của nhân vật đã mở rộng, tăng cường đến tối đa cảm xúc, nghĩ suy và những liên tưởng phong phú
cho người đọc.
Câu 4: Nêu chủ đề của truyện ngắn “Số phận con người” (Sô-lô-khốp)
Số phận con người tập trung khám phá nỗi bất hạnh của con người sau chiến tranh. Song, tuy viết về nhưng đau
thương, mất mát mà chiến tranh gây ra, tác giả vẫn giữ vững niềm tin ở tính cách Nga kiên cường cũng như lòng tin ở cuộc
sống bao dung./.
HAI BỐ CON XÔ-CÔ-LỐP VÀ VA-NI-A
ONTAPNGUVAN12-HKII NAMHOC 2009-2010
23
Ơ-nit Hê-minh-uê
và “ÔNG GIÀ VÀ BIỂN CẢ” (trích)

NGUYENVANSINH TRUONGPTCAP2-3ĐAKIA

ý. Một trong những biểu hiện của nguyên lý trên là độc thoại
nội tâm, dùng ẩn dụ, biểu tượng
+ Hê-minh-uê được tặng Giải Pu-lit-dơ (1953)-giải
thưởng văn chương cao nhất của Hoa Kì và Giải
thươngNô-ben về văn học (1954)
Câu 2: Nêu xuất xứ, hoàn cảnh ra đời và tóm tắt tác
phẩm “Ông già và biển cả” của Hê-minh-uê?
1) Xuất xứ, hoàn cảnh ra đời:
+ Năm 1952, sau gần 10 năm sống ở Cu-ba, Hê-minh-uê
cho ra đời tác phẩm “Ông già và biển cả”. Bối cảnh của tác
phẩm là ngôi làng chài yên ả bên cảng La-ha-ba-na. Phu-en-
téc, một thuỷ thủ trên con tàu của ông, được xem là
nguyên mẫu của Xan-ti-a-gô. Trước khi được in
thành sách, truyện đã được đăng trên tạp chí Đời
sống.
+ Tác phẩm gây tiếng vang lớn và hai năm sau
Hê-minh-uê được trao giải Nô-ben.
2) Tóm tắt tác phẩm :
Chuyện kể về ông lão đánh cá vùng nhiệt
lưu tên là Xan-ti-a-gô, tám mươi bốn ngày liền
không kiếm được con cá nào. Thế rồi lão một mình
ra khơi và một con cá kiếm lớn mắc câu. Sau cuộc
vật lộn ba ngày hai đêm cực kỳ căng thẳng và nguy
hiểm, lão bị nó quẫy mạnh ngã vập cả mặt, máu
chảy đầy cả má, hai bàn tay bị dây câu cứa nát ứa
máu. Cuối cùng lão cũng giết được con cá kiếm.
Nhưng lúc quay vào bờ, từng đàn các mập hung dữ
theo rỉa thịt con cá. Lão phải đơn độc chiến đẫu đến
kiệt sức với lũ cá mập. Tuy vậy, lão vẫn nghĩ “không
một ai cô đơn nơi biển cả”. Khi vào đến bờ, con cá

cả của Hê-minh-uê:
+ Ông lão và con cá kiếm. Hai hình tượng mang một vẻ
đẹp song song tương đồng trong một tình huống căng thẳng
đối lập.
+ Ông lão tượng trưng cho vẻ đẹp của con người trong
việc theo đuổi ước mơ giản dị nhưng rất to lớn của đời
mình.
+ Con cá kiếm là đại diện cho tính chất kiêu hùng
vĩ đại của tự nhiên.
+ Trong mối quan hệ phức tạp của thiên nhiên với
con người không phải lúc nào thiên nhiên cũng là kẻ
thù. Con người và thiên nhiên có thể vừa là bạn vừa
là đối thủ. Con cá kiếm là biểu tượng của ước mơ
vừa bình thường giản dị nhưng đồng thời cũng rất
khác thường, cao cả mà con người ít nhất từng theo
đuổi một lần trong ./.
Câu 1. Nêu vài nét về tác giả Trần Đình Hượu?
a) Tiểu sử:
- Trần Đình Hượu (1926- 1995)
- Quê: xã Võ Liệt – Thanh Chương- Nghệ An.
- Là nhà nghiên cứu lịch sử, văn học Việt Nam trung cận đại
- Là một chuyên gia về các vấn đề văn hóa, tư tưởng Việt Nam.
- Ông đã có nhiều công trình nghiên cứu về văn hóa, tư tưởng có giá trị.
b) Các tác phẩm chính:
+ Văn học Việt Nam giai đoạn giao thời 1900- 1930.
+ Nho giáo và văn học Việt Nam trung cận đại(1995)
ONTAPNGUVAN12-HKII NAMHOC 2009-2010
25
NHÌN VỀ VỐN VĂN HÓA DÂN TỘC (trích)
-Trần Đình Hượu-


Nhờ tải bản gốc
Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status