Sử dụng đồ dùng dạy học trực quan trong dạy học địa lý 6 - Pdf 16

MỞ ĐẦU
I. LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI :
Trong thời đại ngày nay, khoa học- kó thuật phát triển như vũ bão, khối
lượng tri thức của các khoa học đều tăng lên nhanh chóng, trong đó có môn địa
lí , thời lượng giảng dạy môn này mỗi tuần một tiết. Vì thế, một yêu cầu đặt ra là
phải lựa chọn kiến thức cơ bản của nội dung bài học của bộ môn ở nhà trương
phổ thông như thế nào cho phù hợp với khả năng nhận thức của học sinh, tương
ứng với quỹ thời gian dành cho bộ môn. Để làm được điều này, một mặt bộ mơn
địa lí phải tinh giản những kiến thức có tính chát sự kiện để tăng cường những
kiến thức cơ bản. Môn địa lí cũng cần trang bò những kiến cho học sinh các
phương pháp sử dung tranh ảnh, bản đồ, quan sát đòa phương, phương pháp làm
việc với các số liệu, sơ đồ Nhờ nắm được các phương pháp đó, học sinh có thể
tự mình mở rộng được thêm những hiểu biết về kiến thức bộ môn, tự bổ sung cho
mình cách thức rèn luyện phẩm chât đạo đức, pháp luật đúng đắn. Ngoài ra còn
làm cho bộ môn địa lí trong nhà trường xích lại gần hơn đối với các bộ môn khác
trong hệ thống kiến thức giảng dạy.
Chính vì điều đó, đòi hỏi người giáo viên phải nắm được sự thay đổi tích
cực trong quá trình dạy và học trong trường phổ thông. Việc thay đổi SGK mới
đồi hỏi lượng kiến thức phải tăng lên. Do đó, trong dạy học phải có sự kết hợp
các phương pháp thật linh hoạt, khoa học, nhằm giúp học sinh nắm bài một cách
chủ động, sâu sắc.Ở đây, phương pháp dạy học trực quan không chỉ là vật để
minh hoạ kiến thức, mà nó còn là nguồn tri thức quan trọng mà học sinh qua quá
trình làm việc biết khai thác tối đa. Để giúp học sinh khai thác được kiến thức
cũng như khắc sâu kién thức, đồi hỏi người giáo viên phải hiểu được ưu, nhược
điểm của phương pháp dạy học trực quan, để từ đó vận dụng tốt hơn.
II. ĐỐI TƯNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU:
1. Đối tượng:
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là vấn đề lí luận về phương pháp dạy học
môn đđịa lí và nội dung chương trình môn địa lí – lớp 6.
2. Phạm vi:
Phạm vi nghiên cứu của đề tài là nghiên cứu về vai trò, tác dụng, cách sử

học sinh sẽ có những tình cảm mạnh mẽ về lòng yêu thiên nhiên, quê hương, đất
nước. Kính trọng và quý mến người tài. Đặc biệt các em luôn nhớ tới lãnh tụ -
Anh hùng dân tộc.
Với vai trò giáo dưỡng, giáo dục và phát triển đã nêu trên, đồ dùng trực
quan góp phần to lớn nâng cao chất lượng dạy - học, gây hứng thu học tập cho
học sinh " Nó là chiếc cầu nối giữa kiến thức lí thuyết và thực tiễn".
2
Trong môn địa lí có hai nội dung kiến thức, đó là Tự nhiên và Xã hội. Do đó
PPDH địa lí cũng phải lựa chọn nội dung mà sử dụng đồ dùng trực quan cho phù
hợp. Chính việc đó là nguyên nhân làm nảy sinh PPDH trực quan trong bộ môn
địa lí.
II. CÁC LOẠI ĐỒ DÙNG DH TRỰC QUAN TRONG DẠY HỌC MÔN ĐỊA LÍ – LỚP 6 :
Có nhiều cách phân loại đồ dùng dạy học trực quan trong dạy học môn địa
lí, nhưng nội dung chương trình địa lí, chủ yếu có ba nhóm trực quan sau:
* Nhóm trực quan thực tiễn: Các loại cảnh quan tự nhiên, văn hóa….
* Nhóm trực quan tạo hình: Tranh ảnh, phim đèn chiếu, băng hình
Video
* Nhóm trực quan quy ước: Bản đồ, số liệu, sơ đồ, biểu đồ
a. Nhóm trực quan thực tiễn:
Bao gồm các loại cảnh quan tự nhiên, văn hóa…. sử dụng dưới hình thức
trực quan bằng cách tham quan thực tế . Nó có giá trò, ý nghóa to lớn về mặt nhận
thức, thông quaviệc tiếp xúc những các loại cảnh quan tự nhiên, văn hóa….học
sinh sẽ có những hình ảnh cụ thể, chân thực, đúng đắn. Tuy nhiên, việc sử dụng
hình thức này bò hạn chế bởi vì nó không có sẵn trong phòng học. do đó cần tạo
điều kiện thuận lợi nhằm tổ chức cho học sinh tham quan các loại cảnh quan tự
nhiên, văn hóa…. đòa phương. Để qua đó học sinh có cái nhìn bao quát về sự đa
dạng của tự nhiên, xã hội.
b. Nhóm trực quan tạo hình:
Bao gồm tranh ảnh ( tranh ảnh trong SGK, tranh ảnh sưu tầm, tranh vẽ, bộ
tranh in sẵn), phim đèn chiếu, băng hình Video Các loại đồ dùng trực quan này

quan sát, trình tự tiến hành quan sát. Công việc này phụ thuộc khá nhiều vào đối
tượng quan sát. Ngoài ra giáo vien phải duy trì thường xuyên hứng thú quan sát
cho học sinh. Muốn thế giáo viên phải khuyến khích, giúp đỡ, động viên, gây
cho các em hứng thú trong việc tìm ra được câu trả lời, lời giải đáp cho những
vấn đề các em quan tâm. Sau đó, cho các em trình bày kết quả quan sát được và
bày tỏ tình cảm trước đối tượng.
2. Phần cụ thể:
Trong nội dung chương trình SGK địa lí THCS, nhóm trực quan thực tiễn có
thể áp dụng cho rất nhiều bài ở lớp 6.
Ví dụ : Bài 23 : "SƠNG VÀ HỒ"
* Phương pháp dạy trong phòng : GV cho HS quan sát mơ hình, hình ảnh
về một dòng sơng:
4

Sau đó GV u cầu HS mơ tả về dòng sơng đó có những bộ phận nào, hình
dang dáng ra sao… và rút ra nội dung bài học.
* Phương pháp tham quan thực tế: Đối với bài này, quá trình dạy - học
không nhất thiết chỉ tiến hành trong lớp học. Nếu như có điều kiện, giáo viên
nên tổ chức dạy - học ngoài trời, ở những nơi có sơng , hồ.- Phương án này tổ chức dưới hình thức cho học sinh tham quan, nhưng
phải đạt được các mục tiêu, yêu cầu của nội dung bài học và tuỳ theo tính chất
của thiên nhiên, giáo viên phải chuẩn bò nội dung và hệ thống câu hỏi phù hợp
với quang cảnh nơi tham quan, các câu hỏi phải khai thác hết cảnh thực của tự
nhiên, từ đó hình thành khái niệm địa lí cho học sinh cũng như cảm xúc về thiên
nhiên cho học sinh.
- Khi tham quan, giáo viên giới thiệu và hướng dẫn cho học sinh cách khai
thác, xem xét cụ thể về các bộ phận của sông, hồ ra sao
Qua chuyến tham quan thực tế, học sinh rút ra được những nội dung cần

cùng làm.
2. Phần cụ thể:
Cách sử dụng tranh ảnh được ví dụ qua một số bài cụ thể sau:
- Bài 12: " Tác động của nội lực và ngoại lực trong việc hình thành bề mặt
Trái đất"
- Bài 23: " Sơng và hồ"
- Bài 24: " Biển và đại dương".
Ví dụ: Bài 12: " TÁC ĐỘNG CỦA NộI LỰC VÀ NGOẠI LỰC TRONG
VIỆC HÌNH THÀNH BỀ MẶT TRÁI ĐẤT"
Đối với bài này, giáo viên có thể sử dụng các loại tranh in sẵn của Bộ GD-
ĐT, mô tả các loại địa hình như: núi cao, bình ngun, đồng bằng, động đất, núi
lửa…
6

Giáo viên cho học sinh quan sát tranh ảnh, sau đó đặt ra một số câu hỏi
cho học sinh thảo luận về đặc điểm, hình dạng của các loại địa hình. Sau đó giáo
viên tập hợp kết quả, thảo luận rồi rút ra kết luận chính xác. Cuối cùng rút ra nội
dung bài học.
III. NHÓM TRỰC QUAN QUY ƯỚC:
A. BẢN ĐỒ:
1. Phần chung:
Là phương tiên trực quan, qua bản đồ học sinh lớp 6 có thể biết khái qt về
cách đọc bản đồ, nhận biết về các loại bản đồ thực hiện theo các phép chiếu đồ khác
nhau, các phương hướng trên bản đồ.
Về phương pháp sử dụng bản đồ trong chương trình địa -6 là không đáng
kể, giáo viên chỉ cần cho học sinh quan sát dưới sự giới thiệu của giáo viên,
nhằm cho học sinh biết phân biệt các loại kí hiệu trên bản đồ, cách tính tỉ lệ bản đồ
hoặc các loại bản đồ.
2. Phần cụ thể:
Trong nội dung chường trình SGK địa lí- 6, bản đồ có thể sử dụng cho các

- Bài 8: “Sự chuyển động của Trái Đất quanh Mặt trời”
- Bài 10: “Cấu tạo trong của Trái đất”
- Bài 9: "Hiện tượng ngày, đêm dài theo mùa"
- Bài 19: "Khí áp và gió trên trái đất"
……….
Ví dụ: Bài 8: "SỰ CHUYỂN ĐỘNG CỦA TRÁI ĐẤT QUANH MẶT TRỜI"Bài này giáo viên cho học sinh quan sát bài giảng bằng sơ đồ, ( ở trong hoạt
động1). nhằm xác đònh hướng chuyển động và vị trí của Trái đất quanh Mặt trời vào
các ngày Hạ chí, Đơng chí, Xn phân, Thu phân để từ đó cho học sinh biết ngun
nhân sinh ra các mùa.
Ví dụ : Bài 10: " CẤU TẠO TRONG CỦA TRÁI ĐẤT"
9

Bài này, giáo viên dạy ở Hoạt động 1: Học sinh nghiên cứu phần " Nội
dung bài học" , sau đó GV u cầu học sinh nêu đặc điểm của các lớp cấu tạo của
Trái đất. Cuối cùng rút ra nội dung bài học.
C. SỐ LIỆU - BIỂU ĐỒ:
1. Phần chung:
Dùng để diễn tả quá trình phát triển sự vận động của một yếu tố, một thành phần
địa lí nào đó. Trên cơ sở sử dụng số liệu, tài liệu thống kê trong bài học.
VD: Số liệu về " Nhiệt độ và lượng mưa của địa phương A" bài 21 - lớp 6.
Muốn sử dụng biểu đồ, trước hết giáo viên phải xử lí số liệu ( lấy những số
liệu nổi bật, có thể tính ra % ). Sau đó mới xây dựng biểu đồ; có nhiều loại biểu
đồ: Biểu đồ hình trụ, hình khối, hình tròn, đường biểu diễn Nhưng trong chương
trình địa lí - lớp 6, ta nên sử dụng biểu đồ hình trụ ( cột) hoặc đường biểu diễn. Vì
các loại này biểu hiện sự tăng giảm ( phát triển) của sự kiện rõ ràng, trực quan
hơn so với các biểu đồ khác.
Đối với hai loại biểu đồ này, khi xây dựng cần có trục chỉ số lượng, trục

của nó nói chung, về chức năng hình thành, xây dựng nhân cách con người mới
nói riêng, đáp ứng yêu cầu của xã hội Việt Nam hiện tại và tương lai. Chính vì
vậy, trong Đại hội VIII của Đảng khẳng đònh : " Giáo dục - Đào tạo là quốc sách
hàng đầu". Để thực hiện tốt chức năng của mình, ngành Giáo dục - Đào tạo đã
có những chính sách cụ thể, từ việc đổi mới khâu quản lí cho đến đổi mới SGK
và phương pháp dạy học, đó là một vấn đề quan trọng và cần thiết. Trong dạy
học không chỉ vận dụng rập khuôn những phương pháp dạy học truyền thống mà
còn phải biết phát triển các phương pháp truyền thống đó. Đồng thời kết hợp với
những phương pháp dạy học hiện đại. Cí như vậy việc dạy và học mới đạt hiệu
quả cao, mới thực sự góp phàn tích cực vào công cuộc đổi mới giáo dục.
Một số kết quả nghiên cứu trên đây, chỉ mới bước đầu đi vào nghiên cứu
vai trò, vò trí của phương pháp trực quan trong quá trình đổi mới phương pháp dạy
học, để thấy rõ ý nghóa to lớn của vấn đề này- xét cả về mặt nghiên cứu lí luận
12
và vận dụng cụ thể lẫn nghiên cứu lòch sử và hiện atò. Nó đóng góp và chiến lược
xây dựng con người, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài của Đảng ta khi bước
vào thế kỉ XXI.
Vậy, dưới góc độ duy vật biện chứng, chức năng của phương pháp dạy học
trực quan là rất to lớn. Trong đó chức năng tổ chức dạy học, khắc sâu kiến thức,
nhằm bồi dưỡng giáo dục thế hệ trẻ mang ý nghóa to lớn hơn. Điều mà trong nền
giáo dục XHCN ngày nay rất chú trọng là phương pháp giáo dục, có rất nhiều
phương pháp dạy học mà phương pháp trực quan là một phương pháp dạy học
đóng vai trò cần thiết, nó là phương pháp đi đầu trong việc khắc sâu kiến thức,
có chức năng thực tiễn cao nhất. Như vậy sử dụng phương pháp trực quan ra sao?
Để việc dạy học có hiệu quả cao thì pải làm thế nào? Đây là một vấn đề mà các
nhà nghiên cứu giáo dục ở chức năng này cũng đã và đang timg hiểu biện pháp,
nhiều xu hướng để phương pháp dạy học trực quan được sử dụng hợp lí với các
phương pháp dạy học mới khác.
NGƯỜI VIẾT
Nguyễn Văn Lộc


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status