Giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả về việc sử dụng giáo cụ trực quan trong dạy học môn mỹ thuật - Pdf 13

: Sở giáo dục và đào tạo tỉnh Sơn La
Trường PTDT Nội Trú huyện Bắc Yên
-  &  -
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
Giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả
về việc sử dụng giáo cụ trực quan
trong dạy học môn Mỹ thuật
ở trường PTDT Nội Trú - Bắc Yên – Sơn La .

Tác giả: Nguyễn Văn Quân
Đơn vị: Trường PTDT Nội Trú Bắc Yên Năm học 2013 - 2014

Sở giáo dục và đào tạo tỉnh Sơn La
Trường PTDT Nội Trú huyện Bắc Yên
-  &  -

SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM

Giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả

Bởi vậy tôi làm đơn này kính gửi hội đồng thi đua các cấp để trình bày
một sáng kiến có tên “ Giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả về việc sử dụng giáo cụ
trực quan trong dạy học môn mỹ thuật ở trường PTDT Nội Trú - Bắc Yên”. Với
sáng kiến này tôi hy vọng sẽ nâng cao hiệu quả dạy học bộ môn mỹ thuật ở trường
THCS nói chung và trường PTDT Nội Trú huyện Bắc Yên nói riêng.
Trong sáng kiến không tránh khỏi những hạn chế, thiếu sót, kính mong
được sự đóng góp những ý kiến của Ban giám hiệu nhà trường, các bạn bè đồng
nghiệp, cùng Hội đồng thi đua các cấp.
Tôi xin trân trọng cảm ơn!
Bắc Yên ngày 15 tháng 09 năm 2013
Người đăng ký

Nguyễn Văn Quân
Xác nhận của công đoàn nhà trường Xác nhận của công BGH nhà trường

MỤC LỤC:
Sô TT NỘI DUNG Trang
1
2
3
4
5
6
7
8
9
10
11
12
13

* Bài soạn minh hoạ theo sách giáo khoa mỹ thuật 8
2.4 Hiệu quả của sáng kiến kinh nghiệm
3. Kết luận.
* Ý nghĩa của sáng kiến kinh nghiệm.
* Bài học kinh nghiệm.
* Những kiến nghị, đề xuất
* Tài liệu tham khảo
* Phụ lục
1
2
2
2
2
2
3
4
5
5
7
7
7
8
10
10
10
14
17
18
18
19

2.1 Cơ sở lý luận của vấn đề.
a. Mục tiêu:
Môn Mỹ thuật ở trung học cơ sở không nhằm đào tạo hoạ sĩ sáng tác hay
những người chuyên làm về mỹ thuật. Môn mỹ thuật ở trung học cơ sở nhằm
giáo dục thẩm mỹ cho học sinh là chủ yếu: tạo điều kiện cho học sinh tiếp xúc,
làm quen, thưởng thức cái đẹp, tập tạo ra cái đẹp, vận dụng cái đẹp vào sinh hoạt
học tập hằng ngày và những công việc cụ thể sau này.
Môn mỹ thuật ở trung học cơ sở nhằm nâng cao hơn nữa về năng lực
quan sát, khả năng tư duy hình tượng, sáng tạo, phương pháp làm việc khoa học,
nhằm hình thành ở các em phẩm chất con người lao động mới đáp ứng đòi hỏi
của xã hội ngày càng cao.
b. Nhiệm vụ:
Giáo dục thẩm mỹ cho học sinh thông qua ngôn ngữ tạo hình.
Cung cấp cho học sinh một số kiến thức phổ thông về mỹ thuật.
Giúp học sinh nhận thức sâu sắc hơn về nền mỹ thuật của dân tộc và thế giới.
Tạo điều kiện cho học sinh tiếp thu tốt hơn tri thức các môn học khác.
Định hướng cho một bộ phận học sinh học tiếp ngành mỹ thuật, hay tạo điều
kiện cho các em thi vào các trường chuyên nghiệp có liên quan đến mỹ thuật sau
này dễ dàng hơn ( kiến trúc, mỹ thuật ứng dụng, sư phạm mỹ thuật …)
c. Khái quát chương trình:
Chương trình môn mỹ thuật ở trung học cơ sở được chia thành 4 phân
môn: vẽ theo mẫu, vẽ trang trí, vẽ tranh và thường thức mỹ thuật. Trong đó có
các dạng bài lý
thuyết và bài thực hành. Các bài lý thuyết viết dưới dạng giới thiệu theo trình tự
nội dung và cuối bài là câu hỏi hướng dẫn. Các bài thực hành viết dưới dạng:
quan sát, nhận xét; tìm và chọn nội dung đề tài; cách vẽ; bài tập. Về nội dung:
giải thích các khái niệm, nêu lên đặc điểm của từng phân môn để các em tìm ra
cách học, cách vẽ, cung cấp những kiến thức cơ bản nhất cho từng phân môn, bài
tập ứng dụng.
d. Đặc điểm từng phân môn:

cuộc sống của mỗi cộng đồng, mỗi dân tộc, mỗi quốc gia và như vậy nó mang
tính giáo dục sâu sắc.
Trong dạy học phân môn này cần sử dụng các phương pháp sau: trực
quan, gợi mở, luyện tập.
*Phân môn “ Vẽ tranh ”:
Khai thác đề tài: từ đề tài chung mỗi người tìm ra cách thể hiện sâu
sắc, độc đáo, tìm ra những hình tượng điển hình để có thể diễn tả được tư tưởng
chủ đề, ý đồ của người vẽ, khêu gợi được sự tìm tòi và cảm nhận của người
xem.
Phản ánh một cách sinh động bằng sự quan sát và hiểu biết của người vẽ;
vì thế, vẽ tranh đề tài là thể hiện sự hiểu biết nhiều mặt về cuộc sống, tự do tạo
điều kiện cho người vẽ có ý thức tìm hiểu thế giới xung quanh.
Khi dạy vẽ tranh cần vận dụng các phương pháp sau: quan sát, liên hệ
thực tiễn với cuộc sống. Bên cạnh sử dụng các trực quan là bài vẽ của học sinh
và họa sĩ để các em nắm bắt được nội dung.
* Phân môn “ Thường thức mỹ thuật ”:
Đây là phân môn mà học sinh không làm bài thực hành, là phân môn lịch
sử mỹ thuật tóm lược.
Lịch sử mỹ thuật gắn liền với sự phát triển kinh tế, chính trị, văn hoá của
một đất nước, một vùng hay một mốc thời gian. Do đó dạy và học phân môn này
cần có kiến thức về các môn khoa học xã hội và có cách nhìn tổng quát, nhận xét
sâu sắc, phân tích có cơ sở.
Thường thức mỹ thuật nâng cao trình độ văn hoá chung cho học sinh, bồi
dưỡng thẩm mỹ thị giác, giáo dục tình yêu quê hương đất nước và tạo điều kiện
cho các em học tập các phân môn khác có hiệu quả hơn.
Phương pháp dạy thích hợp của phân môn này là: quan sát, vấn đáp, đàm
thoại, liên hệ với thực tiễn cuộc sống. Giáo viên cần sưu tầm, tìm hiểu nhiều
tranh ảnh liên quan đến bài học.
e. Phương pháp trực quan trong dạy học Mỹ thuật:
Dạy mỹ thuật cũng là dạy học, vì mỹ thuật cũng là một môn học ở trường

cần thiết, là nội dung bài dạy.
* Về chuẩn bị: chủ động nghiên cứu bài dạy, tự tìm và thiết kế đồ dùng
dạy học sát với nội dung.
* Về phương pháp: sử dụng trực quan giáo viên cần lưu ý:
- Phân loại đồ dùng sao cho hợp với nội dung, thích hợp với từng thời kỳ,
từng giai đoạn của học tập và ý đồ của giáo viên.
- Hình thức đồ dùng dạy học cần có kích thước vừa phải, dễ quan sát, có
trọng tâm, đẹp để thu hút sự chú ý của học sinh.
- Trình bày đồ dùng dạy học cần rõ ràng, khoa học.
- Kết hợp giữa trình bày lý thuyết với giới thiệu trực quan đúng lúc, sao
cho lời nói hấp dẫn và minh hoạ đẹp hoà quyện làm một, tạo điều kiện cho học
sinh nhận thức nhanh, nhớ lâu.
* Giáo cụ trực quan trong dạy học môn mỹ thuật:
+ Các loại giáo cụ trực quan:
Giáo cụ trực quan môn ỹ thuật là tất cả những phương tiện sử dụng trong
tiết dạy môn mỹ thuật. Có thể kể đến các loại đồ dùng ( phương tiện ) đó là:
- Vật mẫu: nhiều chất liệu, hình dáng phong phú ( có thể tự làm ) như: hoa
quả, các khối hộp, cái phích, ấm tích, khối cầu, tượng…
- Hình mẫu: dưới dạng vật thật hoặc tự vẽ như: chén đĩa, khăn, gạch hoa…
- Mô hình: kích thước vừa phải, tiện lợi như: mô hình trại…
- Tranh ảnh:
+ Tranh nguyên bản, phiên bản: tranh thiếu nhi, tranh hoạ sĩ, tranh dân
gian…
+Ảnh chụp theo đề tài, hoặc sưu tầm qua sách báo…
- Sơ đồ: sơ đồ có minh hoạ các bước vẽ.
- Sách giáo khoa, học sinh có thể tham khảo thêm sách thực hành Mỹ
thuật.
- Bài vẽ của học sinh năm trước.
- Minh hoạ bảng.
- Đồ dùng dạy học: phấn, thước kẽ, bút chì, giấy vẽ…

đặc biệt là môn mỹ thuật. Giáo cụ trực quan môn mỹ thuật của trường hiện nay
chưa đầy đủ, giáo viên giảng dạy bằng những giáo cụ trực quan do bộ cấp và
thỉnh thoảng có làm thêm ở một số tiết.
Hiện nay phòng học của nhà trường đang còn thiếu do vậy đến nay phòng
học của môn mỹ thuật đang còn nhiều khó khăn ( vẫn chưa có phòng học riêng
cho môn mỹ thuật ) vẫn sử dụng phòng học các môn chung; dụng cụ, tủ để bảo
quản đồ dùng dạy học môn mỹ thuật chưa có.
Một số vật mẫu vẫn chưa đầy đủ giáo viên tự tìm kiếm hoặc phải chuẩn bị
để dạy học. Phần lớn giáo viên đều cho rằng: giáo cụ trực quan của môn mỹ
thuật hiện nay là chưa đầy đủ, phần lớn đều do giáo viên tự thiết kế thêm,…
Bên cạnh đó giáo viên đã ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học
môn mỹ thuật và mang lại hiệu quả cao, gây hứng thú cho học sinh đặc biệt là
trong các tiết học phân môn thường thức mỹ thuật. Với cách dạy này giáo viên
có thể sử dụng nhiều trò chơi để tổng kết bài học và củng cố kiến thức; giới thiệu
nhiều trang web để học sinh tự tìm hiểu thêm .
Như vậy khó khăn lớn nhất của giáo viên giảng dạy môn mỹ thuật ở
trường hiện nay là thiếu giáo cụ trực quan, nhưng nếu tự làm thêm thì không đủ
kinh phí. Bên cạnh đó chưa có phòng học đặc thù cho môn mỹ thuật cũng gây
không ít khó khăn cho việc học phân môn vẽ theo mẫu.
Một số đề nghị: Bộ giáo dục cần cung cấp thêm nhiều giáo cụ trực quan
cho các trường trung học cơ sở nói chung và trường PTDT Nội Trú - Bắc Yên –
Sơn La nói riêng, không chỉ là tranh ảnh mà còn các vật dụng khác. Nhà trường
và các ban nghành cần đầu tư kinh phí hơn để giáo viên có thể làm trực quan cho
tiết dạy bởi một số trực quan do giáo viên sáng tạo ra cũng tốn nhiều kinh phí so
với mức lương.
b. Đánh giá chung:
Như vậy qua quá trình giảng dạy, tôi rút ra một số đánh giá chung về thực
trạng sử dụng giáo cụ trực quan trong dạy học môn mỹ thuật ở trường PTDT Nội
Trú - Bắc Yên – Sơn La như sau:
- Về nhận thức, từ Ban giám hiệu đến giáo viên giảng dạy và cả học sinh

La, tôi xin đưa ra một số giải pháp sau:
- Giáo viên cần nhận thức rõ tầm quan trọng của giáo cụ trực quan để từ
đó có kế hoạch soạn bài dạy và chuẩn bị trực quan chu đáo, hiệu quả.
- Cần phân loại trực quan cho phù hợp với nội dung, thời gian bài dạy.
- Kích cỡ trực quan tương đối, rõ ràng, đẹp, đảm bảo nội dung để thu hút
tầm nhìn.
- Trình bày phải rõ ràng, khoa học, kết hợp với minh hoạ bảng, tạo điều
kiện cho học sinh nhận thức nhanh, nhớ lâu.
- Khi học sinh làm bài giáo viên cần xem kĩ những trực quan nào cần để
lại để học sinh xem, những trực quan nào nên cất đi. Riêng đối với bài vẽ theo
mẫu cần giữ nguyên mẫu.
- Tranh ảnh, bài vẽ nên chọn nhiều chất liệu, mẫu vẽ có thể là hoa quả
nhựa để tiết kiệm và sử dụng lâu năm.
- Đối với bài Vẽ theo mẫu, giáo viên nên bố trí hai vật mẫu ở phía trên và
phía dưới để học sinh quan sát rõ hơn ( bởi hiên nay chưa có phòng học đặc thù )
- Cách sử dụng giáo cụ trực quan: có thể treo tranh theo từng bước giảng,
giảng nội dung nào treo tranh đó. Hoặc treo tất cả các tranh một lần rồi phân tích
từng tranh.
- Bảo quản, giữ gìn trực quan tranh ảnh không bị nhàu nát, nhà trường nên
trang bị tủ đựng riêng.
- Hằng năm giáo viên nên có kế hoạch đề nghị nhà trường cấp thêm kinh
phí cho việc dạy học.
- Công ty thiết bị dạy học nên sản xuất thêm nhiều trực quan không những
là tranh ảnh mà cả vật mẫu.
b. Một số giải pháp khi thiết kế giáo cụ trực quan cho các phân môn
trong dạy học Mỹ thuật:
* Phân môn “ Vẽ theo mẫu”:
- Bài “ Mẫu có hai đồ vật ”, giáo viên có thể sử dụng các mẫu như: cái ấm
tích – cái bát, cái phích - khối cầu, cái ấm nhôm – cái bát, cũng có thể sử dụng
mẫu sau :

- Trực quan hình vẽ của giáo viên cũng nên sử dụng nhiều chất liệu ( màu
nước, màu bột, màu sáp, sáp dầu…) để học sinh thấy rõ hiệu quả từng chất liệu.
Lựa chọn bài của học sinh cũng nên chọn phong phú về mảng, hình, màu…và
thậm chí các bài chưa đẹp để học sinh chủ động nhận xét.
* Phân môn “ Vẽ tranh ”:
- Đối với phân môn này giáo viên nên lồng ghép nội dung và không khí
tiết học sao cho thích hợp với nội dung đề tài của bài . Đặc biệt là trong phần vào
bài cần sử dụng những đồ dùng hấp dẫn thu hút học sinh.
Ví dụ: Bài “ Mẹ của em ”, giáo viên nên cho học sinh xem hình vẽ thật
đẹp về mẹ và cho cả lớp cùng hát một bài hát về mẹ…Bài “ Minh hoạ truyện cổ
tích ”, để tạo ra không khí của những câu truyện cổ tích trong toàn bộ bài dạy
chúng ta có thể mở bài bằng cách: cho một vài em học sinh đóng vai các nhân
vật cổ tích và giáo viên gợi ý, dẫn nhập vào bài…Trong toàn bộ bài này giáo
viên có thể sử dụng những câu nói mang tính cổ tích, những vật dụng trong
truyện cổ tích. Ví dụ chúng ta có thể để tất cả những đồ dùng dạy học hay trực
quan chúng ta trong một “ chiếc rương thần ”…
- Với phân môn này chúng ta cũng có thể sử dụng trực quan “ Ti vi màn
hình phẳng ” như trên.
- Nên lựa chọn trực quan điển hình, sát nội dung, thể hiện rõ nội dung.
Trực quan bài vẽ học sinh nên lựa chọn cả bài đẹp và bài chưa đẹp.
- Ở phân môn này giáo viên cũng có thể sử dụng các đồ dùng phục vụ cho
trò chơi để học sinh thấy nội dung đề tài phong phú hơn…Ví dụ như: trong bài
vẽ tranh đề tài “ Trò chơi dân gian ” giáo viên có thể chuẩn bị thêm bảng, bút
phớt cho học sinh kể tên những trò chơi dân gian và trò chơi hiện đại mà các em
biết.
* Phân môn “ Thường thức mỹ thuật ”:
- Đây là phân môn lý thuyết không thực hành, giáo viên cần chuẩn bị các
dụng cụ đầy đủ đặc biệt là tranh ảnh. Cần sưu tầm thêm tranh ảnh thông qua sách
báo.
- Trong quá trình dạy giáo viên có thể yêu cầu học sinh phân tích những

1/ Mc tiờu bi hc:
a/. Kiến thức: Học sinh nắm bắt đợc đặc điểm, công dụng và phơng pháp
trang trí quạt giấy.
b/. Kỹ năng: Học sinh nhanh nhẹn trong việc lựa chọn kiểu dáng, biết
cách chọn họa tiết, màu sắc phù hợp với công dụng, mục đích sử dụng của quạt.
Sắp xếp bố cục hài hòa.
c/. Thái độ: Học sinh yêu thích môn học, yêu vẻ đẹp của các đồ vật trong
cuộc sống, phát huy khả năng sáng tạo và t duy trừu tợng.
2/ Chun b ca GV v HS:
a/. Giáo viên: Một số mẫu quạt, bài vẽ của HS năm trớc.
b/. Học sinh: Đọc trớc bài, su tầm họa tiết, chì, tẩy, màu, vở bài tập.
3/ Tin trỡnh dy hc:
a/ Kim tra bi c: (1
Phỳt
) Giáo viên kiểm tra sĩ số và sự chuẩn bị của học
sinh.
+ Giới thiệu bài: Quạt giấy là vật dụng rất quen thuộc trong cuộc sống, nó
có nhiều tiện ích rất thiết thực. Để giúp các em nắm bắt đợc đặc điểm và phơng
pháp trang trí quạt giấy, hôm nay thầy, trò chúng ta cùng nhau nghiên cứu bài
Trang trí quạt giấy.
b/ Bi mi: (40 Phỳt)
T
HOT NG CA GV
HOT NG CA
H S
NI DUNG GHI BNG
6
/
Hot ng 1:
Hớng dẫn HS quan sát và

và phát biểu cảm nhận.
- GV tóm lại những đặc
điểm cơ bản của quạt giấy.
- HS quan sát bài vẽ
và nêu cảm nhận.
8
/
Hot ng 2:
Hớng dẫn HS trang trí
quạt giấy.
* Hớng dẫn HS tạo dáng
quạt.
- GV cho HS xem một số
mẫu quạt và gợi ý để HS
lựa chọn hình dáng quạt
theo ý thích.
- GV vẽ minh họa. Nhắc
nhở HS chú ý đến tỷ lệ để
quạt có hình dáng thanh
mảnh, nhẹ nhàng.
* Hớng dẫn HS trang trí
quạt.
+ Hớng dẫn HS vẽ mảng.
- GV cho HS quan sát mẫu
quạt, yêu cầu HS nêu nhận
xét cụ thể về cách sắp xếp
các hình mảng trên quạt.
- GV vẽ minh họa, nhắc
nhở HS khi vẽ mảng cần
phải có mảng to, nhỏ, mảng

- HS lựa chọn cách
sắp xếp và họa tiết
trang trí cho quạt của
mình.
II/. Cách trang trí
1. Tạo dáng.
2. Trang trí.
a. Vẽ mảng.
b. Vẽ họa tiết.

c. Vẽ màu.
- GV cho HS nhận xét về
màu sắc ở một số mẫu quạt.
Nhắc nhở HS nên lựa chọn
gam màu nhẹ nhàng hay
rực rỡ phải tùy thuộc vào
mục đích sử dụng của quạt. - HS quan sát và nêu
nhận xét về màu sắc
ở một số mẫu quạt.
26
/
Hot ng 3:
Hớng dẫn HS làm bài tập.
- Nhắc nhở HS làm bài tập
theo đúng phơng pháp.
- GV quan sát và hớng dẫn
thêm về bố cục, cách chọn
và sắp xếp họa tiết.
- HS làm bài tập.
III/. Bài tập.

7B 28 28 100% 0 0%
8A 25 23 92% 02 8%
8B 26 26 100% 0 0%
9A 32 32 100% 0 0%
9B 31 31 100% 0 0%
9C 30 30 100% 0 0%
Kết quả chất lượng sau khi áp dụng
sáng kiến kinh nghiệm năm học 2013 - 2014 như sau:
Lớp
Tổng số
HS
Chất lượng học tập năm học 2012 - 2013
Đạt Chưa đạt
TS % TS %
6A 32 32 100% 0 0%
6B 33 33 100% 0 0%
7A 27 27 100% 0 0%
7B 29 29 100% 0 0%
8A 27 27 100% 0 0%
8B 26 26 100% 0 0%
9A 23 23 100% 0 0%
9B 26 26 100% 0 0%
So sánh với kết quả năm học 2012- 2013, từ thực tế kết quả giảng dạy như
trên đã cho tôi thấy rằng: để nâng cao hơn nữa về chất lượng giáo dục ở trường
PTDT Nội Trú nói riêng, ngoài việc chủ động, sáng tạo của học sinh trong việc
tiếp thu, lĩnh hội những tri thức mới thì đòi hỏi mỗi người thầy cũng phải cần có
sự vận dụng phương pháp dạy học tích cực sao cho phù hợp với đặc trưng của bộ
môn và tuỳ từng đối tượng học sinh. Song song với việc tự học hỏi để nâng cao
trình độ chuyên môn nghiệp vụ của bản thân thì mỗi nhà giáo cần phải tâm huyết
với nghề, luôn kiên trì, miệt mài tìm tòi, nhiệt tình hướng dẫn học sinh học tập

những hạn chế đó sẽ dần được khắc phục, các ban ngành quan tâm hơn nữa môn
mỹ thuật ở trung học cơ sở để môn học xứng đáng với tầm quan trọng của nó.
* Bài học kinh nghiệm
Sáng kiến này vẫn còn có nhược điểm đó là: Nếu như giáo viên không
khéo léo sử dụng giáo cụ trực quan sẽ tạo cho học sinh tâm lý ỷ lại chép lại bài
vẽ ở giáo cụ trực quan, mất đi tính sáng tạo mà gây tâm lý thụ động. Vì vậy khi
áp dụng sáng kiến cần mềm dẻo, linh hoạt vận dụng phù hợp với từng đối tượng
để phát huy tối đa trí tưởng tượng và óc sáng tạo của học sinh để bài vẽ thật sự
có chất lượng kể cả nội dung và hình thức thể hiện
* Những kiến nghị, đề xuất:
- Đối với Sở giáo dục và đào tạo:
Cần quan tâm hơn nữa đến môn mỹ thuật trong chương trình trung học cơ
sở . Thiết kế nhiều đồ dùng trực quan phục vụ cho các trường trung học cơ sở
trong tỉnh. Tổ chức nhiều đợt tập huấn cho các cán bộ chủ chốt môn mỹ thuật
của các huyện về sử dụng đồ dùng trực quan trong dạy học Mỹ thuật.
- Đối với trường PTDT Nội Trú - Bắc Yên – Sơn La.
Quan tâm, tạo điều kiện giúp đỡ giáo viên mỹ thuật trong dạy học. Tổ
chức nhiều buổi dự giờ để nắm bắt tình hình sử dụng giáo cụ trực quan của giáo
viên. Đầu tư kinh phí xây dựng phòng học môn mỹ thuật, giúp đỡ kinh phí để
giáo viên thiết kế đồ dùng dạy học và sử dụng công nghệ thông tin trong dạy
học.
Giáo viên giảng dạy môn mỹ thuật cần chủ động xây dựng kế hoạch bài
dạy có đầy đủ trực quan. Thiết kế, sử dụng trực quan một cách đầy đủ và khoa
học.
Trên đây là sáng kiến kinh nghiệm của bản thân tôi đã áp dụng vào thực
tế giảng dạy cùng với sự giúp đỡ của bạn bè đồng nghiệp tôi rất mong nhận được
sự quan tâm và giúp đỡ, góp ý kiến của hội đồng khoa học nhà trường và các cấp
chuyên môn để sáng kiến của tôi được hoàn thiện và thực thi một cách có hiệu
quả.
Tôi xin chân thành cảm ơn!


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status