MỤC LỤC
B. GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ 3
C. KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT 18
A. ĐẶT VẤN ĐỀ
1. Lí do chọn đề tài.
Hiện nay, cuộc cách mạng khoa học - kỹ thuật, công nghệ phát triển
ngày càng nhanh và đang được ứng dụng vào nhiều lĩnh vực kinh tế - xã hội
của
thế giới nói chung và nước ta nói riêng. Đặc biệt nó đã và đang ứng dụng rộng
rãi trong lĩnh vực giáo dục và đào tạo. Ngành giáo dục hiện nay đang đẩy
mạnh việc đổi mới phương pháp, ứng dụng công nghệ thông tin và thiết bị
vào dạy học, đặc biệt là ph¬ng ph¸p gi¶ng d¹y nhằm phát huy tính chủ động,
tích cực và sáng tạo của học sinh. Vì thế việc ứng dụng công nghệ thông tin
vào hoạt động dạy học trở thành nhiệm vụ hết sức cấp thiết và quan trọng của
giáo viên, đặc biệt là giáo viên bậc THPT, trong đó có những giáo viên dạy bộ
môn Ngữ văn.
Ứng dụng công nghệ thông tin, soạn và giảng dạy bằng giáo án điện tử
có nhiều ưu điểm: sử dụng những hình ảnh, âm thanh, nhạc và phim trong
bài dạy sẽ tạo được nhiều sự hứng thú và đạt nhiều hiệu quả giáo dục cho học
sinh trong qu¸ trình học tập ở nhà trường phổ thông. “Đổi mới phương pháp
dạy học gắn liền với đổi mới về phương tiện dạy học và môi trường học tập.
Ứng dụng công nghệ thông tin cho phép tạo ra một môi trường học tập mới –
môi trường dạy học điện tử” (E-Learning).
Để giảng dạy thành công một tiết Văn, người giáo viên phải có phương
pháp dạy học thích hợp. Mặc dù vậy không phải lúc nào, giáo viên nào cũng
cung cấp đầy đủ kiến thức của bài học cho học sinh trong thời lượng nhất
định và lại gợi được sự hứng thú, phát huy được tính tích cực chủ động chiếm
lĩnh kiến thức của các em.
Từ thực tế giảng dạy trong nhà trường, căn cứ vào tình hình của học
sinh tôi nhận thấy: việc đối mới phương pháp dạy học nhằm phát huy tính tích
cực, chủ động, sáng tạo của học sinh bằng việc ứng dụng công nghệ thông tin
+ Đề tài được nghiên cứu ở trường THPT Bá Thước, huyện Bá Thước, tỉnh
Thanh Hóa.
+ Người được nghiên cứu: giáo viên giảng dạy bộ môn Ngữ văn và học sinh
trường THPT Bá Thước, huyện Bá Thước, tỉnh Thanh Hóa.
4. Phương pháp nghiên cứu.
4.1. Phương pháp nghiên cứu lí luận.
Nghiên cứu, phân tích, tổng hợp, hệ thống hóa các tài liệu, văn bản liên
quan đến sáng kiến.
4.2. Phương pháp nghiên cứu thực tiễn.
- Phương pháp điều tra bằng phiếu hỏi.
- Phương pháp thống kê, xử lí số liệu.
2
B. GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ
Chương 1: Cơ sở lí luận.
1.1. Quan niệm về giáo án điện tử.
Cần hiểu “giáo án điện tử” là bản thiết kế toàn bộ quá trình dạy - học
một đơn vị bài học (bao gồm mục tiêu, nội dung, phương pháp) trên phương
tiện trình chiếu điện tử. Trong bản thiết kế này, các thao tác trình chiếu phải
luôn tương tác và tương thích với các thao tác dạy - học, đảm bảo được mối
quan hệ hoạt động (thầy - tri thức và kĩ năng - trò), trở thành một phương diện
thể hiện cụ thể hóa của một phương pháp dạy - học bộ môn nhất định. Trong
bản thiết kế này có thể có các hình ảnh, âm thanh, các mô phỏng thí nghiệm…
1.2. Công tác chuẩn bị trước khi soạn .
Trước khi tiến hành soạn giáo án, giáo viên cần nắm vững các kiến
thức cơ bản về cách sử dụng máy vi tính, soạn thảo văn bản trên phần mềm
Microsoft Office Word và phần mềm Microsoft Office PowerPoint, các phần
mềm xem hình ảnh, xem phim, coppy hình ảnh…
Để tiến hành soạn giáo án điện tử, trước hết chúng ta cần soạn kỹ giáo
án truyền thống. Đây là khâu quan trọng đầu tiên vì giáo viên cần xác định rõ
mục tiêu của bài dạy, tiết dạy, các phương pháp sử dụng trọng bài, các
cần chuẩn bị, sử dụng các đồ dùng dạy học khác để hỗ trợ nếu không có điều
kiện để đưa vào giáo án như băng cassette ghi âm các chương trình trên đài
truyền hình, đài phát thanh, các tờ báo, tạp chí có liên quan đến bài dạy.
1. 3. Các phương pháp soạn giáo án.
Trước hết cần nắm vững các thao tác sử dụng phần mềm PowerPoint
như: làm việc với tập tin, quản lí các slide, định dạng slide, chọn dạng màu
4
nền, nhập văn bản, hiệu chỉnh văn bản, sử dụng các công cụ vẽ, sử dụng
Wordart, chèn hình ảnh, âm thanh, phim, thiết lập biểu đồ, chèn nút điều
khiển, thiết lập hiệu ứng, chọn dạng hiệu ứng
1. 3.1.Các bước thực hiện.
- Hoàn chỉnh giáo án trên word (gồm đầy đủ và chi tiết các hoạt động).
- Thiết kế các slide hỗ trợ và tạo hiệu ứng như dự kiến.
- Chuẩn bị thêm các phương tiện khác (nếu cần thiết): bảng phụ, tài liệu trực
quan…
- Kiểm tra, đánh giá bước đầu toàn bộ giáo án và các slide hỗ trợ trước khi lên
lớp.
1. 3.2. Những lưu ý khi tạo slide.
Sử dụng màu sắc trong các trang trình chiếu.
Để có những trang trình chiếu thu hút và ấn tượng, ngoài nội dung khoa
học ra, chúng ta phải biết sử dụng màu sắc hợp lí: chọn màu, phối màu giữa
nền và chữ, phối màu giữa các dòng văn bản.
Nếu chữ viết trong một trang chỉ có một màu duy nhất, người đọc sẽ rất
nhàm chán (ngoại trừ trường hợp, trên trang đó chỉ chứa một loại nội dung
duy nhất). Ngược lại, sử dụng quá nhiều màu sắc trong một trang hoặc trong
một bài giảng sẽ làm cho học sinh hoặc thích thú với màu sắc mà không tập
trung vào nội dung bài học, hoặc có cảm giác khó chịu, dẫn đến phản tác
dụng. Chỉ nên sử dụng nhiều nhất là 5 màu trong mỗi trang bài giảng.
Chữ viết trong trang trình chiếu
- Kiểu chữ: 2 kiểu chữ thường được chọn nhất là: Times New Roman và
Automaticaly hay On Mouse click tuỳ theo năng lực sử dụng giáo án và giảng
dạy của giáo viên. Tuy nhiên nên chọn chế độ On Mouse click để giáo viên
chủ động click chuột khi giảng dạy, chủ động về thời gian bài dạy và thích
hợp với bộ môn Ngữ văn.
Khi thiết lập và chọn dạng hiệu ứng âm thanh, trong phần mềm
PowerPoint có các dạng âm thanh khác nhau, cần chọn các loại âm thanh phù
hợp với tính chất, tư tưởng của bài dạy. Có slide nên thiết lập âm thanh nhưng
có phần không cần vì chúng ta khi giảng dạy vừa cho hiển thị slide vừa giảng
bài, nếu có quá nhiều âm thanh hoặc âm thanh không phù hợp thì vừa ồn vừa
có tác dụng phản cảm đối với học sinh khi tiếp thu bài học.
Ví dụ : Trong slide có tên bài học, tên tác phẩm, tên tác giả, câu hỏi đặt
vấn đề thì nên chọn chế độ hoạt hình tự động Automaticaly và thiết lập, chọn
dạng âm thanh. Thế nhưng trong phần các slide có các nội dung chính của bài
học thì không nên thiết lập chế độ hoạt hình tự động mà nên chọn chế độ click
chuột và không định dạng âm thanh
Chú ý: Nên chọn nhiều hiệu ứng hoạt hình và âm thanh khác nhau để
không gây nhàm chán cho học sinh, đồng thời thích hợp với các phần của bài
dạy.
Khi sử dụng hình ảnh để minh hoạ cho bài học cần lựa chọn những
hình ảnh, những bức tranh tiêu biểu phù hợp với từng phần và toàn bộ bài
học. Không nên sử dụng nhiều hình ảnh có nội dung ít liên quan đến bài học
vì chúng ảnh hưởng đến tính thẩm mỹ của bài dạy, ảnh hưởng đến sự cảm
nhận văn chương của học sinh.
Ví dụ : Trong bài “Phong cách ngôn ngữ báo chí” trong chương trình
Ngữ văn lớp 11, ở phần bài tập củng cố có nhiều bài tập khác nhau, dưới đây
là cách chọn hình ảnh phù hợp với nội dung của một bài tập (một slide).
Đoạn văn sau viết theo thể loại nào của văn bản báo chí?
“ Chiều 6 – 10, tại Trung tâm Công nghệ phần mềm đã diễn ra lễ
bế giảng lớp đào tạo Tin học dành cho cán bộ công chức các sở,
ban, ngành trong toàn tỉnh ”
Nếu có sự cố khi trình diễn trong lúc giảng dạy, các slide không hiển
thị theo trình tự vì nhầm lẫn thì nên thoát phần đang trình diễn để trình diễn
lại slide ở phần đang dạy, không nên bỏ qua tiếp tục trình diễn các slide tiếp
theo vì có thể sẽ bỏ qua một phần kiến thức bài dạy. Cách thoát như sau:
Nhấn Esc để thoát phần đang trình diễn hoặc click chuột bên phải, sau đó
click vào mục End Show và tiếp tục nhấn Slide Show/ View Show.
Chương 2: Thực trạng của vấn đề nghiên cứu.
2.1. Thực trạng chung.
Trong những năm gần đây, ngày càng nhiều giáo viên ứng dụng công
nghệ thông tin vào dạy học môn Ngữ văn. Đó là một chuyển biến đáng mừng,
đáng trân trọng, cần phát huy. Song không phải ai, không phải lúc nào tiết dạy
bằng giáo án điện tử cũng phát huy hết hiệu quả.
Biểu hiện phổ biến nhất trong các giờ gọi là dạy bằng giáo án điện tử là
việc giáo viên trình chiếu trên màn hình tất cả các slide được thiết kế trên các
phần mềm PowerPoint, Violet, … Ví dụ slide dưới đây:
7
Slide này khá nhiều chữ, giáo viên dựa vào đó đọc lại cho học sinh
nghe, ghi.
Một số giáo viên không hoạch định kế hoạch lên lớp, chưa xác định
đơn vị kiến thức, kiến thức tích hợp, ít chú trọng đến phương pháp, phương
tiện (nếu có chỉ là những câu hỏi được trình chiếu trên màn hình thay cho việc
giáo viên ghi trên bảng đen, như cách làm truyền thống), biến màn hình thay
bảng đen phấn trắng. Khi cho học sinh thảo luận nhóm, các em trình bày
xong, giáo viên lại củng cố lại bằng những slide đã chuẩn bị sẵn, như vậy vô
tình “buộc” các em hiểu theo cách mà giáo viên đã hiểu. Điều đó biến hoạt
động nhóm trước đó thành hình thức, khó thuyết phục học sinh.
Nguyên nhân của vấn đề là do nhiều người hiểu chưa đúng về giáo án
có sử dụng phần mềm tin học hỗ trợ với việc trình chiếu nội dung bài giảng;
nhiều tiết dạy còn mang nặng tính biểu diễn. Nhiều lúc học sinh nhầm lẫn
giữa hình tượng văn học vốn được xây dựng bằng nghệ thuật ngôn từ với
Thứ ba: một số bài giảng quá tham lam và lạm dụng công nghệ thông
tin, đưa quá nhiều hiệu ứng, tranh ảnh không đúng lúc, trang trí màu sắc lòe
loẹt dẫn đến sự chi phối sự chú ý của học sinh trong tiết học không phát huy
được óc quan sát và sự tưởng tượng, thiếu sự tư duy để cảm nhận được vẻ
đẹp, cái hay, cái tình, cái hồn của văn chương.
Bên cạnh đó, còn một số giáo viên chưa thật thành thạo trong việc soạn
và dạy bằng giáo án điện tử, nhiều học sinh chưa có kĩ năng nghe, nhìn và ghi
chép, chưa có ý thức chuẩn bị bài ở nhà dẫn đến tình trang thụ động trong
việc lĩnh hội tri thức.
Như vậy, việc giảng dạy giáo án điện tử cũng có thể là con dao hai
lưỡi, nếu lạm dụng quá, học sinh bị cuốn hút vào âm thanh sống động mà
quên nội dung chính của bài.
Chương 3: Giải pháp và tổ chức thực hiện.
Việc ứng dụng công nghệ thông tin trong giảng dạy Ngữ văn là vấn đề
được nhiều người quan tâm bởi tính đặc thù của bộ môn, song từ thực tế cho
thấy giảng dạy, vận dụng công nghệ thông tin vào dạy học Ngữ văn thật sự
mang lại hiệu quả không nhỏ mà bất kì người giáo viên nào cũng có thể nhận
ra.
Rõ ràng, hiệu quả của phương pháp giảng dạy mới bằng giáo án điện tử
không thể phủ nhận nếu chúng ta có phương pháp sử dụng hiệu quả. Nếu
được đầu tư cẩn thận, phương pháp này sẽ tạo hứng thú, lôi cuốn sự chú ý của
học sinh, đặc biệt khi giảng những nội dung có minh họa bằng tranh ảnh, âm
thanh, sơ đồ Điều này rất bổ ích và cần thiết mà một tiết dạy bình thường
khó có thể thực hiện được.
Từ thực tế giảng dạy của bản thân và các đồng nghiệp, tôi nhận thấy
cần phải có phương pháp phù hợp vừa phát huy được tính tích cực chủ động,
9
vừa gợi được hứng thú cho học sinh, vừa truyền tải hết nội dung của bài trong
khoảng thời gian có hạn, giáo viên cũng không phải giảng và ghi bảng quá
nhiều đặc biệt là đối với những bài văn học sử hoặc các bài tiếng Việt.
như Nguyễn Tuân, ta vận dụng tri thức của các ngành nghệ thuật khác nhau
để tăng thêm hiệu quả của văn chương. Học sinh sẽ nhìn thấy qua màn hình
dòng sông “sáng xanh trưa vàng chiều tím” và sẽ cảm nhận được chất thơ của
Huế, thấy được bề dày văn hóa Huế, và nét riêng của tâm hồn Huế.
Ví dụ 2: Khi dạy bài “Truyện Kiều”, phần một: Tác giả, mục II: Sự
nghiệp văn học, mục 1: Các sáng tác chính, chúng ta có thể lập một bảng so
sánh để thấy được sự sáng tạo của Nguyễn Du để tạo nên một tác phẩm mới
với cảm hứng mới, nhận thức lí giải nhân vật theo cách riêng của ông dựa trên
cơ sở cốt truyện tiểu thuyết chương hồi “Kim Vân Kiều truyện” của Trung
Quốc.
10
Ví dụ 3: Khi dạy bài “Tổng kết phần Văn học” (Ngữ văn 10) bằng
giáo án điện tử, chúng ta có thể sử dụng sơ đồ sau để giúp học sinh có cái
nhìn toàn diện về văn học trung đại Việt Nam.
Đối với phân môn tiếng Việt: dạy giáo án điện tử rất thuận tiện đặc
biệt là những tiết học luyện tập, tổng kết kiến thức phải sử dụng bảng phụ thì
sử dụng giáo án điện tử sẽ bớt công chuẩn bị bảng phụ. Hơn nữa phông chữ
có đủ màu sắc, giúp cho giáo viên nhấn mạnh nội dung quan trọng. Riêng
trong những giờ tiếng Việt: ngôn ngữ nghệ thuật khác ngôn ngữ sinh hoạt ở
điểm nào, những yêu cầu sử dụng tiếng Việt ra sao…nếu được trực tiếp tai
11
nghe mắt thấy trên màn hình sẽ giúp học sinh hiểu bài rất nhanh và cả lớp sẽ
cùng làm việc chứ không còn thụ động ở phía thầy giảng trò chép như trước.
Ví dụ: Khi dạy bài “Những yêu cầu sử dụng tiếng Việt” (Ngữ văn
10), ở phần II: Sử dụng hay, đạt hiệu quả giao tiếp cao, giáo viên có thể cho
học sinh nghe một đoạn nhạc trong bài hát “Lòng mẹ”, sau đó đặt câu hỏi:
“Lời bài hát đã sử dụng biện pháp tu từ nào? Tác dụng của việc sử dụng
phép tu từ đó?” thì sẽ tạo được hứng thú và khơi gợi khả năng nắm bắt tri
thức của học sinh.
Đối với các bài Văn học sử: việc giảng dạy văn học sử không phải lúc
Hoặc ở phần Ghi nhớ, để khái quát nội dung bài học, giáo viên có thể
chuẩn bị sơ đồ:
Đối với các bài lí luận văn học: để học sinh nhanh chóng nắm bắt các
khái niệm trừu tượng, chúng ta có thể khái quát bằng các bảng, từ đó dành
nhiều thời gian cho hoạt động luyện tập.
Ví dụ: Dạy bài “Nội dung và hình thức của văn bản văn học” (Ngữ
văn 10). Giáo viên nên thiết kế 2 bảng:
Bảng 1: Hiển thị tên và nội dung các khái niệm thuộc về mặt nội dung
của văn bản văn học.
15
Bảng 2: Hiển thị tên và nội dung các khái niệm thuộc về mặt hình thức
của văn bản văn học.
Một giờ dạy giỏi không phải là giờ thuyết giảng và phô diễn kiến thức,
giáo viên giành nói từ đầu đến cuối, mà phải là sự dẫn dắt khéo léo, hệ thống
câu hỏi phải phát huy trí tuệ học sinh, tạo ra tình huống có vấn đề để học sinh
tranh luận, sau giờ học học sinh nắm vững kiến thức và có khả năng vận dụng
kiến thức. Vấn đề đặt ra là người sử dụng làm sao “làm chủ” được công nghệ,
kỹ thuật, ứng dụng nó một cách có hiệu quả nhất, lấy học sinh là tâm điểm
của buổi học, hãy nhìn và cảm nhận theo góc nhìn của các em, chắc chắn
chúng ta sẽ có một giờ giảng dạy hợp lý và hiệu quả.
Chương 4: Kiểm nghiệm.
Sau khi áp dụng cách dạy cũ ở một lớp và sử dụng giáo án điện tử ở
một lớp khác thì tôi thấy kết quả khác nhau. Lớp dạy theo cách cũ học sinh
nắm được bài nhưng khó khái quát được nội dung chính và khắc sâu được
kiến thức, lớp còn lại nắm bài nhanh hơn, khái quát được kiến thức và quan
trọng là việc khắc sâu kiến thức tốt hơn, hứng thú hơn.
Để đảm bảo tính khách quan, tôi chọn 2 lớp có lực học tương đương
nhau là lớp 11A5 và 11A6 để làm đối tượng thực hiện đề tài. Kết quả cụ thể
như sau:
Kết quả bài kiểm tra kiểm nghiệm số 1.
(%)
Dưới 5 Từ 5 - 6 Từ 7 - 10
SL % SL % SL %
11A6 41 0 0 20 48.8 21 51.2 100
11A5 37 3 8.1 23 62.2 11 29.7 85
Từ hai bảng trên, chúng ta có thể dễ dàng nhận thấy, ở giờ dạy có sử
dụng giáo án điện tử, học sinh lĩnh hội tri thức và có khả năng vận dụng kiến
thức tốt hơn, hứng thú với bài học nhiều hơn.
17
C. KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT
1. Kết luận.
Ứng dụng công nghệ thông tin vào giảng dạy và học tập ở bậc THPT
nhất là môn Ngữ văn là một yêu cầu đặc biệt quan trọng trong việc đổi mới
phương pháp dạy học của giáo viên và học sinh hiện nay. Thực tế đã chứng
minh những hiệu quả nhất định mà phương pháp dạy học mới này mang lại
trong việc phát huy tính tích cực, chủ động và khơi gợi hứng thú học tập của
học sinh. Để soạn giáo án điện tử và giảng dạy môn Ngữ văn có hiệu quả đòi
hỏi sự cố gắng không ngừng trong quá trình tự học của mỗi giáo viên. Bởi vì
để hoàn thành giáo án điện tử cho một tiết dạy, ngoài việc thành thạo các kỹ
năng sử dụng máy vi tính và các phần mềm ứng dụng có liên quan, chúng ta
cần phải bỏ nhiều công sức vào việc tìm kiếm, sưu tầm, lựa chọn các nguồn tư
liệu phù hợp với từng tiết dạy, với từng tác phẩm. Thời gian để đầu tư vào
việc soạn giáo án điện tử cũng nhiều hơn soạn giáo án truyền thống.
Trước khi soạn giáo án điện tử, giáo viên cần phải soạn và nắm kỹ giáo
án truyền thống. Có như vậy việc giảng dạy mới đạt hiệu quả cao. Bên cạnh
đó, chất lượng của một giờ dạy Văn bằng giáo án điện tử còn phụ thuộc rất
nhiều vào quá trình học bài cũ, chuẩn bị bài mới và khả năng tiếp thu của học
sinh. Mặt khác, khi dạy học bằng giáo án điện tử, ngoài những phần đã soạn ở
trong giáo án, chúng ta cũng phải xen vào một số đoạn thuyết giảng để tạo
điều kiện cho học sinh cảm thụ văn học một cách sâu sắc hơn.
19
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Sách giáo khoa:
- Sách giáo khoa Ngữ văn 10 .NXB Giáo dục.
- Sách giáo khoa Ngữ văn 11. NXB Giáo dục.
- Sách giáo khoa Ngữ văn 12. NXB Giáo dục.
2. Sách tham khảo:
- Tài liệu: Hướng dẫn sinh viên soạn giáo án điện tử trong dạy học Ngữ văn.
Khoa Ngữ văn, ĐHSP Hà Nội.
3. Tư liệu khác:
- Giáo án điện tử trên trang “ Thư viện VIOLET”.
20