THỰC TRẠNG VỀ VIỆC SỬ DỤNG GIÁO CỤ TRỰC QUAN TRONG DẠY HỌC MỸ THUẬT TẠI TRƯỜNG THCS VĨNH TIẾN - Pdf 25

PHÒNG GIÁO DỤC HUYỆN VĨNH BẢO
TRƯỜNG THCS VĨNH TIẾN
ĐỀ TÀI :
THỰC TRẠNG VỀ VIỆC SỬ DỤNG GIÁO CỤ
TRỰC QUAN TRONG DẠY HỌC MỸ THUẬT
TẠI TRƯỜNG THCS VĨNH TIẾN.
NGƯỜI THỰC HIỆN : NGUYỄN THÙY CHI
ĐƠN VỊ : TRƯỜNG THCS VĨNH TIẾN.
NĂM HỌC : 2011 - 2012
I.TÓM TẮT :
Trong dạy học mỹ thuật việc sử dụng giáo cụ trực quan là điều cần không thể
thiếu trong mỗi tiết dạy. Không chỉ trường cấp II Vĩnh Tiến mà tất cả các trường cấp II
trong huyện cũng thấy tầm quan trọng của vấn đề này. Trong điều kiện trường nằm
trong một xã nghèo,đại đa số dân trong địa bàn làm nông nghiệp nên việc đầu tư cơ sở
vật chất cho giáo dục còn gặp nhiều khó khăn, việc tăng cường thiết bị dạy học còn gặp
nhiều bất cập. Chính vì vậy giáo cụ trực quan cho môn học Mỹ Thuật của trường còn ít
và hạn chế. Số tranh phục vụ cho các bài học thường thức, bài học trang trí,vẽ tranh đề
tài chỉ thống kê được 08 tranh.Đồ dùng dành cho vẽ theo mẫu có số lượng ít chỉ áp dụng
được từ 1 đến 2 bài học.Bản thân tôi khi tham gia giảng dạy môn mỹ thuật cũng đã tận
dụng tranh ảnh sách báo sưu tầm,tranh vẽ của học sinh qua các năm sử dụng trong bài
dạy và nhận thấy hứng thú học tập của học sinh tăng lên so với tiết dạy “chay”. Tuy
nhiên những đồ dùng tự làm đó không được bảo quản nên hầu như hỏng hóc,tranh in
màu kinh phí tốn,lại dễ phai,ố đi.
Qua quá trình tìm hiểu thực tiễn tại trường THCS Vĩnh Tiến – Vĩnh Bảo - Hải Phòng
tôi nhận thấy việc dạy và học môn Mỹ thuật còn gặp nhiều khó khăn trong sử dụng đồ
dùng dạy học. Đồ dùng dạy học chưa đáp ứng được một tiết dạy hoàn chỉnh và nhu cầu
kiến thức của học sinh. Giải pháp đã làm là tự vẽ tranh, làm đồ dùng dạy học,sưu tầm
vật mẫu, hoặc đi mượn. Nghiên cứu thực trạng đồ dùng dạy học được sử dụng trong
những bài dạy và so sánh với tiết không sử dụng đồ dùng dạy học cho thấy tiết sử dụng
đồ dạy học kết quả bài vẽ tăng lên, học sinh hứng thú tham gia.
Được sự quan tâm, giúp đỡ của Ban giám hiệu trường THCS Vĩnh Tiến,tôi đã

các em tìm ra cách học, cách vẽ, cung cấp những kiến thức cơ bản nhất cho từng phân
môn, bài tập ứng dụng.
Chương trình môn Mỹ thuật ở THCS được phân phối như sau:
Stt Phân môn
Lớp/Số tiết
6 7 8 9
1 Vẽ theo mẫu 8 9 8 3
2 Vẽ trang trí 9 8 10 6
3 Vẽ tranh 9 11 10 5
4 Thường thức mỹ thuật 7 6 6 4
2.2. Đặc điểm từng phân môn:
Môn Mỹ thuật ở THCS được chia thành 4 phân môn với những đặc điểm sau:
2.2.1 Phân môn “ Vẽ theo mẫu ”:
Đây là phân môn “ khô ” nhất trong các phân môn, tương đối khó dạy do đó giáo
viên ít quan tâm đến bài dạy để tìm ra những nét khác nhau giữa các bài. Về phía học
sinh , đây cũng là phân môn khó nhất không “ thích ”bằng vẽ trang trí hay vẽ tranh đề
tài. Trên thực tế, kết quả bài vẽ theo mẫu bao giờ cũng thua các phân môn khác.
Vẽ theo mẫu phải quan sát từ đầu đến kết thúc bài vẽ. Quan sát để tìm ra “ kiến
thức ”, vì vậy kết quả của bài vẽ phụ thuộc vào phương pháp quan sát.
Vẽ theo mẫu là vẽ từ mẫu thực. Từ mẫu thực đến bài vẽ do người vẽ quyết định.
Song trên thực tế, các khái niệm vẽ - theo - mẫu chưa được hiểu đúng ở học sinh và
ngay cả ở một bộ phận giáo viên.
Không vẽ tiếp khi không có mẫu ở trước mặt. Trong quá trình vẽ không thay đổi
vị trí của mẫu và vị trí của người vẽ, hướng ánh sáng…để đảm bảo cho bài vẽ khồng
thay đổi, không bị sửa chữa, điều chỉnh…Do vậy mẫu vẽ đối với bài vẽ theo mẫu là rất
quan trọng.
Với những đặc điểm đó, cần vận dụng những phương pháp sau đây khi dạy vẽ
theo mẫu: quan sát, trực quan, gợi mở.
2.2.2 Phân môn “ Vẽ trang trí ”:
Vẽ trang trí cũng từ những mẫu, từ kiến thức chung nhưng người vẽ có thể suy

thẩm mỹ thị giác, giáo dục tình yêu quê hương đất nước và tạo điều kiện cho các em học
tập các phân môn khác có hiệu quả hơn.
Phương pháp dạy thích hợp của phân môn này là: quan sát, vấn đáp, đàm thoại,
liên hệ với thực tiễn cuộc sống. Giáo viên cần sưu tầm, tìm hiểu nhiều tranh ảnh liên
quan đến bài học.
3. Phương pháp trực quan trong dạy học Mỹ thuật:
3.1. Dạy Mỹ thuật cũng là dạy học, vì Mỹ thuật cũng là một môn học ở trường
phổ thông. Do vậy, dạy Mỹ thuật cũng phải tuân theo những phương pháp chung và có
phương pháp riêng. Đối với môn học Mỹ thuật có thể kể đến một số phương pháp
thường vận dụng sau:
1.1 Phương pháp quan sát.
1.2 Phương pháp trực quan.
1.3 Phương pháp vấn đáp.
1.4 Phương pháp gợi mở.
1.5 Phương pháp luyện tập.
1.6 Phương pháp liên hệ thực tiễn với cuộc sống.
Đối với môn học Mỹ thuật đó là môn học trực quan, do vậy dạy Mỹ thuật ở
trường THCS dạy trên đồ dùng dạy học là chủ yếu. Đề tài này nhằm nghiên cứu về sử
dụng đồ dùng dạy học trong môn Mỹ thuật nên phương pháp trực quan sẽ được phân
tích sâu hơn.
3.2. Trực quan trong dạy học Mỹ thuật:
Mỹ thuật là môn học trực quan. Đối tượng của môn Mỹ thuật thường là những gì
ta có thể nhìn thấy, sờ được - có hình, khối, có đậm nhạt, có màu sắc, ở xung quanh ta,
gần gũi và quen thuộc.
Dạy học nói chung và dạy học Mỹ thuật nói riêng bao giờ cũng mang lại hiệu quả
cao. Riêng với Mỹ thuật, tất cả các loại bài học đều phải sử dụng đồ dùng dạy học. Dạy
Mỹ thuật dạy trên đồ dùng dạy học. Do vậy đồ dùng dạy học là nội dung, kiến thức của
bài học. Đồ dùng dạy học còn phản ánh mức độ kiến thức của bài học , trình độ của học
sinh.
3.3. Phương pháp trực quan trong dạy học Mỹ thuật:

- Sách giáo khoa, học sinh có thể tham khảo thêm sách thực hành Mỹ thuật.
- Bài vẽ của học sinh năm trước.
- Minh hoạ bảng.
- Đồ dùng dạy học: phấn, thước kẽ, bút chì, giấy vẽ…
- Phương tiện hiện đại: máy chiếu.
- Ngoài ra đối với các bài như: Tập vẽ dáng người, Giới thiệu tỉ lệ cơ thể người
( lớp 8 ),…có thể phải chuẩn bị thêm người mẫu là học sinh hoặc người lớn…
4.2. Vị trí, vai trò của giáo cụ trực quan trong dạy học môn Mỹ thuật:
Bất kỳ một môn học nào trông công tác giảng dạy trực quan đều có vị trí quan
trọng. Sử dụng giáo cụ trực quan trong giảng dạy Mỹ thuật được xem là một biện pháp
tốt nhất để các em dễ dàng năm bắt nội dung bài học, giáo cụ trực quan là cơ sở để giáo
dục thẩm mỹ.
Mỹ thuật là môn học phải có giáo cụ trực quan vì Mỹ thuật là môn rèn luyện bồi
dưỡng và phát triển khả năng cảm thụ thị giác nên Mỹ thuật thông qua trực quan dạy
cho học sinh quan sát, so sánh đối chiếu, phân tích nhằm lĩnh hội tri thức, rèn luyện kĩ
năng, kĩ xảo. Giáo cụ trực quan nhằm mục đích cụ thể hoá bài giảng , tăng thêm hiểu
biết cho học sinh, giúp học sinh thu nhận thông tin về các sự vật, hiện tượng một cách
đầy đủ và chính xác.
Giáo cụ trực quan nhằm kích thích tò mò và chăm chú, theo dõi bài giảng, gợi ý
cho học sinh hoặc để giải thích chứng minh cho một luận cứ, quy tắc nào đó. Mặc dù
giáo cụ trực quan hết sức quan trọng nhưng cũng hết sức nguy hiểm vì tâm lý chung của
học sinh là hay bắt chước. Nhờ giáo cụ trực quan để thấy được cái hay, cái đẹp, tránh
được cái chưa đạt, thấy rõ mục tiêu bài học, khắc sâu kiến thức hơn nữa, thế nhưng phải
biết sử dụng hợp lý, đúng lúc.
Giáo cụ trực quan là phương tiện giúp trẻ tiếp thu nhận thức tốt lý thuyết cũng
như hướng dẫn thực hành, từ đố gây cho các em niềm say mê hứng thú trong cái hay,
cái đẹp, hình thành thị hiếu tốt, đồng thời giúp các em học tốt các môn khác.
LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Cuộc sống con người ngày càng phát triển về mọi mặt và hướng đến chân thiện mỹ. Mỹ
thuật dần đi vào cuộc sống của con người trong mọi hoạt động, mọi công việc. Ví dụ

nguyên mẫu.
- Tranh ảnh, bài vẽ nên chọn nhiều chất liệu, mẫu vẽ có thể là hoa quả nhựa để
tiết kiệm và sử dụng lâu năm.
- Đối với bài Vẽ theo mẫu, giáo viên nên bố trí hai vật mẫu ở phía trên và phía
dưới để học sinh quan sát rõ hơn ( bởi hiên nay chưa có phòng học đặc thù ).
- Cách sử dụng giáo cụ trực quan: có thể treo tranh theo từng bước giảng, giảng
nội dung nào treo tranh đó. Hoặc treo tất cả các tranh một lần rồi phân tích từng tranh.
- Bảo quản, giữ gìn trực quan tranh ảnh không bị nhàu nát, nhà trường nên trang
bị tủ đựng riêng.
- Hằng năm giáo viên nên có kế hoạch đề nghị Nhà trường cấp thêm kinh phí cho
việc dạy học.
- Công ty thiết bị dạy học nên sản xuất thêm nhiều trực quan không những là
tranh ảnh mà cả vật mẫu.
Giải pháp khi thiết kế giáo cụ trực quan cho các phân môn trong dạy học Mỹ
thuật:
1. Phân môn “ Vẽ theo mẫu”:
- Bài “ Mẫu có hai đồ vật ”, giáo viên có thể sử dụng các mẫu như: cái ấm tích –
cái bát, cái phích - khối cầu, cái ấm nhôm – cái bát, cũng có thể sử dụng mẫu sau :
Giáo viên nên sắp xếp mẫu khác với sách giáo khoa để dễ nhận ra học sinh nào
vẽ theo sách.
- Đối với bài học vẽ theo mẫu ở chương trình lớp 6 để học sinh nắm kĩ hơn về các
góc nhìn khác nhau, khung hình mỗi góc khác nhau, vị trí mỗi góc khác nhau …chúng
ta có thể sử dụng trực quan để chỉ rõ hơn .
- Đối với tiết học vẽ đậm nhạt giáo viên có thể sử dụng đèn học cá nhân để chiếu
sáng vào mẫu. Như vậy học sinh sẽ thấy rõ đậm nhạt trên vật mẫu. Trong khi hướng dẫn
học sinh cách vẽ nên dùng giấy vẽ treo lên bảng và lên bóng sẽ có hiệu quả hơn như
cách giáo viên thường hay minh hoạ bảng ( độ đậm là độ trắng của phấn ).
- Bên cạnh giáo viên cần sử dụng một số trực quan là bài vẽ các em học sinh năm
trước để học sinh nhận xét ra những điểm chưa đúng và rút kinh nghiệm cho bài vẽ của
mình.

phẳng ” như trên.
- Nên lựa chọn trực quan điển hình, sát nội dung, thể hiện rõ nội dung. Trực quan
bài vẽ học sinh nên lựa chọn cả bài đẹp và bài chưa đẹp.
- Ở phân môn này giáo viên cũng có thể sử dụng các đồ dùng phục vụ cho trò
chơi để học sinh thấy nội dung đề tài phong phú hơn…Ví dụ như: trong bài “ Trò chơi
dân gian ” giáo viên có thể chuẩn bị thêm bảng, bút dạ cho học sinh kể tên những trò
chơi dân gian và trò chơi hiện đại mà các em biết.
4. Phân môn “ Thường thức mỹ thuật ”:
- Đây là phân môn lý thuyết không thực hành, giáo viên cần chuẩn bị các dụng cụ
đầy đủ đặc biệt là tranh ảnh. Cần sưu tầm thêm tranh ảnh thông qua sách báo.
- Trong quá trình dạy giáo viên có thể yêu cầu học sinh phân tích những tranh ảnh
sưu tầm được hoặc tổ chức các trò chơi bằng những dụng cụ trực quan hấp dẫn tự sáng
chế như chơi giải đáp ô chữ…
- Đối với phân môn này giáo viên có thể sử dụng công nghệ thông tin để dạy học
rất thuận lợi. Các tranh ảnh có thể truy cập mạng internet để chuẩn bị cho bài giảng
III. PHƯƠNG PHÁP :
a.Khách thể nghiên cứu:
a.1. Khách thể nghiên cứu: Sử dụng đồ dùng dạy học môn Mỹ thuật ở trường
THCS Vĩnh Tiến.
a.2. Đối tượng nghiên cứu: Thực trạng và một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu
quả sử dụng đồ dùng dạy học môn Mỹ thuật ở trường THCS Vĩnh Tiến.
. b. Thiết kế :
Tôi chọn hai lớp khối 8. Lớp 8A làm nhóm đối chứng, lớp 8B làm nhóm thực
nghiệm. Qua các tiết dạy tại hai lớp tôi thấy điểm KT định kỳ hai lớp có sự khác nhau,
do đó tôi dùng phép kiểm chứng T-Test để kiểm chứng sự chênh lệch điểm trung bình
của hai lớp trước khi tác động.
Kết quả : Bảng 1 .Kiểm chứng để xác định các nhóm tương đương :
Đối chứng Thực nghiệm
TBC
p =

Bảng 3. Thời gian thực nghiệm
Thứ/Ngày Môn/ Lớp Tiết theo PPCT Tên bài dạy
Thứ 3
Ngày
Mỹ Thuật
Lớp 8B
Tiết
Thứ 5
Ngày
Mỹ Thuật
Lớp 8A
Tiết
d. Đo lường:
Để thấy rõ hơn thực trạng của việc sử dụng giáo cụ trực quan trong dạy học môn Mỹ
thuật ở trường THCS Vĩnh Tiến tôi đã tiến hành tìm hiểu qua học sinh bằng phiếu điều
tra và kết quả như sau:
Tổng số phiếu phát ra : 124 phiếu cho các lớp
Trong đó: - Lớp 6 : 34 phiếu ; Lớp 7

: 31 phiếu;
Lớp 8A: 30 phiếu ;Lớp 8B

: 29 phiếu;
+ Câu hỏi 1: “ Các em thấy giáo cụ trực quan có cần thiết đối với quá trình học
tập môn Mỹ thuật hay không ? ”
Kết quả thu được:
Mức độ Rất cần thiết Cần thiết Không cần thiết Hoàn toàn không
Số
lượng
80 44 0 0

để lên trình bày trong tiết học hay không ?”
Qua câu trả lời của các em, tôi thấy trong một số tiết thường thức Mỹ thuật giáo
viên đã yêu cầu mỗi tổ sưu tầm tranh ảnh và sau đó lên giới thiệu với lớp ( kể các khối
6, 7 hay 8.
+ Câu hỏi 6: “ Giáo viên có thường hay sử dụng các dụng cụ, mô hình, tranh ảnh
để tổ chức cho cả lớp thảo luận hay chơi trò chơi không ?”
Các em cho biết giáo viên rất ít khi sử dụng các dụng cụ hay đồ dùng dạy học để
tổ chức cho cả lớp thi theo nhóm hoặc chơi trò chơi.
+ Câu hỏi 7: “ Trong những tiết học môn Mỹ thuật bằng máy, các em thấy có
hiệu quả hơn không ? ”
Phần lớn các em đều cho rằng : học bằng cách dạy trên máy thì có nhiều tranh
ảnh để xem, được giáo viên giới thiệu qua các trang web để học sinh tự tìm hiểu. Tuy
nhiên, những hình ảnh đó các em không chứng kiến được trực tiếp hoặc không được
xem thầy vẽ hình trực tiếp lên bảng.
+ Câu hỏi 8 :“ Trong quá trình vẽ bài các em có thường hay vẽ theo những bức
tranh của giáo viên đưa ra không ?
Không 99 79.9%
Thỉnh thoảng có. 25 20.1%
Thường xuyên 0 0
Ý kiến khác:……………………………
Qua thống kê này chúng ta nhận thấy, giáo cụ trực quan mà giáo viên sử dụng có
hiệu quả, không làm cho học sinh bắt chước vẽ theo. Chỉ một phần nhỏ ( 20.1 % ) thỉnh
thoảng có vẽ theo một vài bài, nhưng bên cạnh một số ý kiến khác đã cho rằng các em
đã biết cách dựa vào các bài vẽ, tranh ảnh của giáo viên cho xem để từ đó làm cơ sở cho
bài vẽ của mình.
Bên cạnh đó qua tìm hiểu một số bài của học sinh ( bài vẽ theo mẫu )tôi thấy, một số
em vẫn vẽ hình theo sách giáo khoa. Sau khi trực tiếp hỏi các em thì các em trả
lời:những khóa trước giáo viên yêu cầu hoặc các em về nhà vẽ, cũng có thể là giáo viên
chưa hướng dẫn rõ các em cách quan sát mẫu hay các em có thói quen . Như vậy đồ
dùng dạy học của giáo viên chưa thật sự có hiệu quả cao.

viên chưa đủ kinh phí để thiết kế thêm.
IV. PHÂN TÍCH DỮ LIỆU VÀ BÀN LUẬN KẾT QUẢ:
Thực trạng sử dụng giáo cụ trực quan môn Mỹ thuật ở trường THCS Vĩnh Tiến:
Đề tài này chỉ giới hạn tìm hiểu việc sử dụng đồ dùng dạy học trong môn Mỹ
thuật ở trường THCS Vĩnh Tiến. Để đánh giá thực trạng này tôi đã tiến hành thực dạy,
điều tra, tìm hiểu công tác giảng dạy,qua học sinh và sản phẩm của các em.
1. Thực trạng:
1.1 Đánh giá thực trạng ,tìm hiểu ở Ban giám hiệu nhà trường và công tác giảng
dạy môn Mỹ thuật:
Qua trao đổi với BGH nhà trường và công tác giảng dạy môn Mỹ thuật cho thấy
giáo cụ trực quan là rất cần thiết đối với quá trình dạy học đặc biệt là môn Mỹ thuật.
Giáo cụ trực quan môn Mỹ thuật của trường hiện nay chưa đầy đủ, giáo viên giảng dạy
bằng những giáo cụ trực quan do bộ cấp và thỉnh thoảng có làm thêm ở một số tiết.
Với cuơng vị là một giáo viên mỹ thuật tôi nhận định : hiệu quả của giáo cụ trực quan
là rất cao, học sinh thấy đam mê, thích thú hơn…và nắm bài tốt hơn, kiến thức vững
chắc hơn.
Hiện nay phòng học của nhà trường đang còn thiếu do vậy môn Mỹ thuật vẫn
chưa có phòng học riêng . Vẫn sử dụng phòng học các môn chung; dụng cụ, tủ để bảo
quản đồ dùng dạy học môn Mỹ thuật chưa có.
Một số vật mẫu vẫn chưa đầy đủ giáo viên tự tìm kiếm hoặc phải chuẩn bị để dạy
học. Phần lớn giáo viên đều cho rằng: giáo cụ trực quan của môn Mỹ thuật hiện nay là
chưa đầy đủ, phần lớn đều do giáo viên tự thiết kế thêm,…
Bên cạnh đó giáo viên đã ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học môn Mỹ
thuật và mang lại hiệu quả cao, gây hứng thú cho học sinh đặc biệt là trong các tiết học
phân môn thường thức Mỹ thuật. Với cách dạy này giáo viên có thể sử dụng nhiều trò
chơi để tổng kết bài học và củng cố kiến thức; giới thiệu nhiều trang web để học sinh tự
tìm hiểu thêm .
Tuy nhiên do chưa có phòng chức năng nên việc sử dụng máy chiếu trong giảng dạy
là còn rất hạn chế, chủ yếu dạy “chay”.
Như vậy khó khăn lớn nhất của giáo viên giảng dạy môn Mỹ thuật ở trường Vĩnh

Thực trạng này không chỉ là ở trường THCS Vĩnh Tiến mà còn tồn tại ở các
trường THCS trên địa bàn huyện và toàn quốc. Hy vọng rằng những hạn chế đó dần
được khắc phục, các ban ngành quan tâm hơn nữa môn Mỹ thuật ở THCS để môn học
xứng đáng với tầm quan trọng của nó.
2. Khuyến nghị:
1. Đối với Sở giáo dục và đào tạo:
Cần quan tâm hơn nữa đến môn Mỹ thuật trong chương trình THCS. Thiết kế
nhiều đồ dùng trực quan phục vụ cho các trường THCS trong huyện. Tổ chức nhiều đợt
tập huấn cho các cán bộ chủ chốt môn Mỹ thuật của các huyện về sử dụng đồ dùng trực
quan trong dạy học Mỹ thuật.
2. Đối với trường THCS Vĩnh Tiến .
Quan tâm, tạo điều kiện giúp đỡ giáo viên Mỹ thuật trong dạy học. Tổ chức nhiều
buổi dự giờ để nắp bắt tình hình sử dụng giáo cụ trực quan của giáo viên. Đầu tư kinh
phí xây dựng phòng học môn Mỹ thuật, giúp đỡ kinh phí để giáo viên thiết kế đồ dùng
dạy học và sử dụng công nghệ thông tin trong dạy học.
VI. TÀI LIỆU THAM KHẢO :
1. Phương pháp giảng dạy Mỹ thuật - Nhà xuất bản Giáo dục, 1995.
2. Sách giáo khoa Mỹ thuật 6, 7, 8, 9 - Nhà xuất bản Giáo dục.
3. Thực hành Mỹ thuật 6, 7, 8, 9 - Nhà xuất bản Giáo dục.
4. Giáo dục thẩm mỹ. Đỗ Xuân Hoà - Nhà xuất bản Giáo dục, 1998.
5. Đổi mới phương pháp dạy học Mỹ thuật ở trường phổ thông. Trịnh Đức Minh -
Sở GD và ĐT Hà Nội.
6. Một số vấn đề đổi mới phương pháp dạy học môn Mỹ Thuật THCS- Nhà xuất
bản GD – 2008/ Đàm Luyện, Bạch Ngọc Diệp, Nguyễn Quốc Toản.
7. Những vấn đề chung về đổi mới giáo dục THCS môn Mỹ Thuật - Nguyễn Hải
Châu, Nguyễn Quốc Toản …
VII. PHỤ LỤC :
1.PHIẾU KHẢO SÁT
+ Câu hỏi 1: “ Các em thấy giáo cụ trực quan có cần thiết đối với quá trình học tập môn
Mỹ thuật hay không ? ”

* VẼ THEO MẪU

* VẼ TRANG TRÍ
* VẼ TRANH


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status