PHẦN MỞ ĐẦU
1.Phần mở đầu
Mĩ thuật là tạo ra cái đẹp. Thuật ngữ Mĩ thuật từ lâu đã đi vào cuộc sống của con người
trong mọi hoạt động như kiến trúc, xây dựng, may mặc, mua sắm,… Xuất phát từ tầm
quan trọng của Mỹ thuật mà nó đã được đưa vào chương trình dạy học ở Tiểu học để trở
thành một môn học chính thống. Nhằm giáo dục thẩm mĩ, tạo điều kiện cho học sinh
tiếp xúc làm quen, cảm nhận vẻ đẹp của thiên nhiên, của đời sống và của các sản phẩm
mĩ thuật. Mang lại cho học sinh những hiểu biết ban đầu về môn Mĩ thuật, hình thành và
củng cố các kĩ năng cần thiết để học sinh hoàn thành bài tập trong chương trình. Bồi
dưỡng năng lực quan sát, phát triển trí tuệ, phát huy trí tưởng tượng, sáng tạo, góp phần
hình thành nhân cách người lao động mới. Ngoài ra môn học còn nhằm phát hiện và bồi
dưỡng năng khiếu mĩ thuật của học sinh.
Có nhiều con đường để đi đến thành công. Mĩ thuật là một trong những con đường đó.
Rất nhiều người đã nổi tiếng trên khắp thế giới, tên tuổi của họ sống mãi theo thời gian
nhờ những tác phẩm nghệ thuật của họ. Ví dụ như danh họa Leonardo da Vinci, Pablo
Picasso, Vincent van Gogh,…Thế nhưng nhiều người trong xã hội ngày nay vẫn xem nhẹ
vai trò môn Mĩ thuật, đặc biệt là trong nhận thức của một số thầy cô giáo, phụ huynh và
học sinh. Đôi khi họ để dành thời gian dạy Mĩ thuật cho môn khác hoặc coi môn học chỉ là
bề nổi mang tính phong trào. Không ít giáo viên chỉ dạy kĩ thuật vẽ là chủ yếu mà chưa
chú ý nhiều đến giáo dục Thẩm mĩ cho học sinh. Cách dạy Mĩ thuật chưa thực sự phát
huy khả năng độc lập suy nghĩ ,tìm tòi, sáng tạo của học sinh mà con mang tính áp đặt.
Tình trạng dạy học theo phương pháp cũ vẫn phổ biến chính vì thế chất lượng môn học
chưa cao. Học sinh Tiểu học là những chủ nhân tương lai của đất nước, bậc học Tiểu học
là những viên gạch đầu tiên đặt xuống để xây dựng nên ngôi nhà tri thức. Xét thấy vai trò
đặc biệt quan trọng của môn Mĩ thuật ở bậc Tiểu học hình thành và phát triển Đức – Trí –
Thể - Mĩ đòi hỏi người giáo viên phải biết lựa chọn phương pháp dạy học sao cho đạt hiệu
qủa cao nhất.
Phương pháp dạy học trực quan là một trong những phương pháp dạy học được ứng
dụng nhiều trong giảng dạy ở phổ thông. Xuất phát từ nhiệm vụ, nội dung của môn học
cũng như đặc điểm của phương pháp dạy học trực quan; tôi nhận thấy phương pháp dạy
học trực quan là phương pháp dạy học rất phù hợp với các môn học ở Phổ thông nói chung
phương pháp trực quan trong dạy học môn Mĩ thuật ở Tiểu học.
4.2 Các phương pháp nghiên cứu lí luận thực tiễn
- Phương pháp điều tra bằng Anket
- Phương pháp trò chuyện
- Phương pháp điều tra quan sát
- Phương pháp thực nghiệm
5. Cấu trúc của đề tài nghiên cứu
Ngoài phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo kết quả nghiên cứu được trình bày
trong 3 chương:
- Chương 1: Cơ sở lí luận và thực tiễn của việc sử dụng phương pháp dạy học trực quan
trong dạy học Mĩ thuật nói chung và môn Mĩ thuật ở Tiểu học nói riêng.
- Chương 2: Vận dụng phương pháp dạy học trưc quan trong dạy học Mĩ thuật nói chung
và môn Mĩ thuật ở Tiểu học nói riêng
- Chương 3: Thực nghiệm đánh giá.
PHẦN NỘI DUNG
Chương 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN CỦA VIỆC SỬ DỤNG PHƯƠNG
PHÁP TRỰC QUAN TRONG DẠY HỌC MĨ THUẬT NÓI CHUNG VÀ MÔN MĨ
THUẬT Ở TIỂU HỌC NÓI RIÊNG
1.1Cơ sở lí luận
1.1.1 Đặc điểm môn Mĩ thuật nói chung và môn Mĩ thuật ở Tiểu học nói riêng
a/ Đặc điểm môn Mĩ thuật
Mĩ thuật là một môn học nghệ thuật do đó nó có nhiều điểm khác môn học khác. Việc nắm
vững và phân tích một cách khoa học những đặc điểm môn học là cơ sở cho việc xây dựng
và lựa chọn các PPDH thích hợp trong quá trình dạy học. Môn học Mĩ thuật có những đặc
điểm sau:
- Tính cụ thể và trừu tượng của môn học. Mĩ thuật là môn học mà kiến thức của nó vừa cụ
thể, vừa trừu tượng. Ví dụ: vẽ theo mẫu – vẽ cái bình hoa là cụ thể, nhưng vẽ tranh đề tài
Lịch sử lại là trừu tượng. Và là loại kiến thức ở xung quanh ta.
- Mĩ thuật là môn học đòi hỏi sự sáng tạo và luôn luôn sáng tạo.
- Mĩ thuật là một môn học tạo ra cái đẹp. Rèn luyện, bồi dưỡng và phát triển khả năng cảm
* Đời sống tình cảm
- Các em dễ xúc động và khó kìm nén cảm xúc của mình song tình cảm còn mong manh,
chưa sâu sắc và dễ thay đổi. Đối tượng gây cảm xúc cho các em thường là những sự vật,
hiện tượng cụ thể, sinh động. Trong quá trình dạy học học, nếu giáo viên khơi gợi được
những cảm xúc ở các em thì sẽ giúp các em có hứng thú với môn học và chăm chỉ học hơn.
* Nhu cầu nhận thức
- Nhu cầu nhận thức của học sinh Tiểu học phát triển rất rõ nét đặc biệt là nhu cầu tìm hiểu
thế giới xung quanh, khát vọng hiểu biết.
b/ Đặc điểm nhận thức
*Tri giác
- Tri giác của học sinh TH mang tính đại thể, ít đi sâu vào chi tiết. Trong quá trình học, tri
giác giúp các em phát hiện những dấu hiệu, bản chất của sự vật hiện tượng. Ở các lớp đầu
TH, tri giác của các em thường gắn với hành động trưc quan, hoạt độngthực tiễn. Ở các lớp
cuối cấp, tri giác của các em mang tính mục đích và có phương hướng rõ ràng hơn, thích
quan sát các sự vật hiện tượng có màu sắc sặc sỡ, hấp dẫn.
* Tư duy
- Tư duy cụ thể mang tính hình thức bằng cách dựa vào những đặc điểm trực quan của
những đối tượng và hình tượng cụ thể.
* Tưởng tượng
- Tưởng tượng của học sinh TH phát triển và phong phú hơn nhiều so với trẻ mầm non.
Lớp đầu cấp hình ảnh tưởng tượng còn đơn giản, chưa bền vững và dễ thay đổi. Ở các lớp
cuối cấp tưởng tượng tái tạo đã bắt đầu hoàn thiện, từ những hình ảnh cũ trẻ tái tạo ra
những hình ảnh mới, tưởng tượng sáng tạp tương đối phát triển, trẻ bắt đầu phát triển khả
năng vẽ tranh, làm văn, làm thơ,…Đặc biệt hình tượng của các em trong giai đoạn này bị
chi phối mạnh mẽ bởi các xúc cảm, tình cảm, những hình ảnh, sự vật, sự việc, hiện tượng
đều gắn liền với các rung động tình cảm của các em.
* Trí nhớ
- Loại trí nhớ trực quan hình tượng chiếm ưu thế hơn trí nhớ từ ngữ - lôgic. Giai đoạn lớp
1,2,3 ghi nhớ máy móc phát triển tương đối tốt và chiếm ưu thế hơn so với ghi nhớ có ý
nghĩa. Giai đoạn lớp 4,5 ghi nhớ có ý nghĩa và ghi nhớ từ ngữ được tăng cường. Ghi nhớ
- Vận dụng các phương pháp dạy-học phù hợp với đặc điểm của từng lớp học, của
từng đối tượng học sinh.
- Vận dụng một cách linh hoạt các PPDH khác như: thuyết trình, đàm thoại, trực quan,
vấn đáp…
- Không chỉ đơn giản là dạy kĩ thuật vẽ mà cần kết hợp dạy - học cách cảm thụ cái
đẹp của tác phẩm nghệ thuật, của thế giới xung quanh.
- Giáo viên huy động vốn kiến thức và kinh nghiệm sống của học sinh để xây dựng bài.
- Tạo không khí học tập vui vẻ, nhẹ nhàng, hấp dẫn, sử dụng từ ngữ phù hợp, tạo không
khí như đang trò chuyện, trao đổi nội dung bài học với học sinh.
- Tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú học tập cho học sinh, động viên,
khích lệ học sinh làm bài bằng chính khả năng và cảm thụ của mình.
- Tổ chức các hoạt động cho học sinh tham gia vào quá trình nhận thức một cách tự
giác.
1.1.4 Tổng quan về phương pháp trực quan trong dạy học Mĩ thuật
1.1.4.1 Khái niệm
- Phương pháp trực quan là PPDH mà giáo viên dùng lời kết hợp với việc sử dụng các
phương tiện trực quan thể hiện trên 2 hình thức trình bày mẫu vật hoặc minh họa quy trình,
thao tác.
1.1.4.2 Mục đích của phương pháp trực quan
- Hình thành những khái niệm cơ bản, ban đầu về Mĩ thuật.
- Giới thiệu hình dáng, màu sắc, họa tiết của các sản phẩm, đồ vật của Mĩ thuật.
- Trực quan để dạy các thao tác kĩ thuật vẽ, tô màu, và thực hiện các chức năng giáo duc
khác.
- Giúp học sinh hứng thú, lôi cuốn vào bài học.
1.1.4.3 Tác dụng của phương pháp trực quan
- Phương pháp trực quan với những hình ảnh trực quan do các đồ dùng biểu diễn mang lại
kết hợp với lời giảng của giáo viên, học sinh sẽ dễ dàng hơn trong việc tiếp cận và lĩnh hội
các kiến thức Mĩ thuật. Bản chất của phương pháp này là giáo viên tác động vào tư duy
học sinh Tiểu học theo đúng quy luật nhận thức “ Từ trực quan sinh động đến tư duy trừu
tượng và từ tư duy trừu tượng đến thực tiễn”. Thể hiện cụ thể:
tập, mẫu vật, hình khối,…
1.1.4.7 Phân loại phương pháp trực quan
- Phương pháp quan sát.
- Phương pháp trình bày trực quan.
1.2 Cơ sở thực tiễn
- Phương pháp trực quan là 1 trong những PPDH phù hợp với mọi môn học và đặc biệt
phù hợp với học sinh TH, thế nhưng việc vận dụng phương pháp này vào dạy học nói
chung vẫn hạn chế, thiếu hình ảnh, mô hình mẫu vật thật cho học sinh trực quan.
- Riêng đối với môn học Mĩ thuật một bộ môn năng khiếu góp phần giúp học sinh hoàn
thiện Trí – Đức – Thể - Mĩ thì hiện nay hầu hết các trường huyện còn rất thiếu thốn về
trang thiết bị cho bộ môn Mĩ thuật, đó là trường chưa có phòng học chức năng riêng, mẫu
vẽ còn thiếu (với những bài Vẽ theo mẫu) đặc biệt là các bộ tranh sử dụng cho phân môn
Thừơng thức Mĩ thuật do vậy ảnh hưởng rất lớn đên chất lượng Bộ môn,hầu hết do GV tự
làm hoăc sưu tầm chưa đảm bảo tính thẩm mĩ và chất lượng.
+ Do nhận thức của một số cán bộ quản lí, học sinh và cả phụ huynh HS về ý nghĩa,vai trò,
tác dụng cuả môn Mĩ thuật nên ít được quan tâm đến việc kiểm tra,đánh giá chất lượng,
đôi khi để dành thời gian cho môn khác hoặc coi môn học chỉ là bề nổi có tính phong trào.
+ Không ít GV chỉ dạy Kĩ thuật vẽ là chủ yếu mà chưa chú ý nhiều đến Giáo dục Thẩm
mĩ cho HS.
+ Dạy mĩ thuật chưa thực sự phát huy khả năng độc lâp suy nghĩ ,tìm tòi, sáng tạo con
mang tính áp đặt.
+ Việc áp dụng PPDH mới chưa thể hiện rõ ràng, nhiều GV chưa hiểu rõ khái niệm Đổi
mới PPDH là gì và đổi mới như thế nào?! cho nên tình trạng dạy theo phương pháp cũ vẫn
phổ biến chính vì thế Chất lượng môn học chưa cao.
Chương 2: BIỆN PHÁP SỬ DỤNG PHƯƠNG PHÁP TRỰC QUAN TRONG DẠY HỌC
NÓI CHUNG VÀ MÔN MĨ THUẬT Ở TIỂU HỌC NÓI RIÊNG
2.1 Sử dụng phương pháp trực quan trong dạy học nói chung
- Trong dạy học nói chung phương pháp trực quan được sử dụng rộng rãi trong tất cả các
hoạt động của bài học và trong tất cả các môn học. Ví dụ như trong mônToán, môn Tiếng
Việt, Tự nhiên xã hội, Khoa học, Lịch sử, Địa lí, Thủ công và Kĩ thuật,
Sau đây tôi xin được trình bày việc sử dụng phương pháp trực quan trong dạy học Mĩ thuật
ở Tiểu học theo từng phân môn của môn học.
2.2.1 Sử dụng phương pháp trực quan trong nội dung vẽ theo mẫu
Phương pháp vẽ theo mẫu được tiến hành theo các bước sau:
-Quan sát - nhận xét mẫu.
-Vẽ khung hình chung, vẽ khung hình từng đồ vật (mẫu ghép).
-Tìm tỉ lệ bộ phận, đánh dấu các điểm chính, vẽ phác nét cơ bản
-Vẽ chi tiết
-Vẽ màu hoặc vẽ đậm, nhạt
Ví dụ: Bài 12: Vẽ theo mẫu – Mẫu vẽ có hai vật mẫu
HĐ 1
: hướng dẫn học sinh quan sát, nhận xét mẫu
-Gv cho học sinh quan sát một số bức tranh ảnh về mẫu vẽ có hai vật mẫu, kết hợp với SGK
để giới thiệu với các em về mẫu vẽ có hai đồ vật.
- Sau đó giáo viên mang mẫu vật thật để làm mẫu vật cho bài vẽ ra, hướng dẫn HS quan
sát, nhận xét ( ví dụ chọn mẫu vẽ hình số 1):
+ Hình lọ gồm có những bộ phận nào? (Miệng, cổ, thân và đế)
+ Hình quả gồm có những bộ phận nào? (Thân quả và cuống)
- Ước lượng tỉ lệ của lọ và quả
- Lưu ý: Mỗi góc nhìn thì mẫu có tỉ lệ tương ứng khác nhau về chiều rộng và chiều cao.
Mỗi góc nhìn có khung hình chung tương ứng tỉ lệ khác nhau, vị trí của các vật mẫu cũng
lệch khác nhau.
So sánh độ đậm nhạt
+ Cho HS quan sát hai bức hình sau để HS nhận thấy mảng sáng nhất, mảng trung gian,
mảng tối nhất của quả, của lọ.
- Hướng dẫn bố cục đúng của bài, GV cho HS nêu câu hỏi cho HS trả lời sau đó dùng các
hình ảnh để minh họa cho bài vẽ có bố cục đẹp.
- Sắp xếp bố cục: Dựa vào các đường đã kẻ, vẽ mảng chính, phụ sao cho
cân đối, hài hoà với khoảng trốngï. Cần áp dụng các nguyên tắc trang trí
như: đối xứng, nhắc lại, xen kẽ, …
- Vẽ hoạ tiết vào các mảng hình, nên chọn hoạ tiết đơn giản,
dễ vẽ.
- Vẽ màu: Vẽ màu tự do nhưng chú ý đậm nhạt của màu nền với màu
hoạ tiết chính, phụ. Vẽ màu cần làm nổi mảng chính hơn mảng phụ, cho
học sinh tập vẽ màu theo hoà sắc nóng hoặc lạnh (lớp 3, 4, 5).
Hình minh hoạ gợi ý cách trang trí
2.4. Đồ dùng dạy - học vẽ trang trí
Có bài trang trí mẫu, vật thật, ảnh chụp, biểu bảng, …. để giới thiệu khái
niệm, để minh hoạ gợi ý các bước tiến hành, một số bài có hoà sắc nóng hoặc hoà
sắc lạnh, một số bài đẹp của học sinh năm trước để tham khảo, ĐDDH phục vụ
các hoạt động học tập,
2.5. Phương pháp dạy-học vẽ trang trí
- Giáo viên cần lựa chọn phương pháp dạy học thích hợp với trình độ, đặc điểm,
… học sinh.
- Gợi ý một số phương pháp dạy học chủ yếu: Trực quan, gợi mở, luyện tập,
hợp tác trong nhóm nhỏ, …
- Phương pháp dạy-học vẽ trang trí được tiến hành theo các bước:
a) Hướng dẫn học sinh quan sát, nhận xét bài mẫu hoặc vật mẫu được
trang trí (khoảng 4-5 phút)
+ Quan sát, nhận xét: đặc điểm hình trang trí, cách sắp đặt mảng chính, phụ,
hoạ tiết, màu sắc, đậm nhạt, … chú ý đến từng thể loại bài trang trí.
+ Giáo viên sử dụng ĐDDH kèm theo hệ thống câu hỏi làm cho học sinh thấy
được sự đa dạng về bố cục, màu sắc, họa tiết … trong trang trí.
+ Hình minh họa trong ĐDDH cần có bố cục, hoạ tiết đơn giản, phù hợp với
lứa tuổi.
b) Hướng dẫn học sinh cách vẽ (khoảng 5-7 phút)
c
3. Phương pháp dạy - học vẽ tranh
3.1. Khái niệm
Vẽ tranh là vẽ về một đề tài cho trước trong cuộc sống, thiên nhiên
….thông qua cảm xúc và khả năng thể hiện của người vẽ.
3.2. Nhiệm vụ
- Học sinh được vẽ tranh theo ý thích để thể hiện cảm nhận thế giới xung
quanh theo cách hiểu, cách nghĩ của mình.
- Học sinh biết cách sắp xếp các hình ảnh chính, phụ, màu, … để làm rõ nội
dung.
- Tạo điều kiện cho học sinh tiếp xúc, tìm hiểu thế giới xung quanh, tìm
ra đặc
điểm và vẻ đẹp của đối tượng, có thói quen quan sát cuộc sống và thiên nhiên.
- Bồi dưỡng cho học sinh tình cảm yêu thiên nhiên, đất nước, con người.
3.4. Phương pháp vẽ tranh
- Chọn nội dung đề tài, tìm hình tượng tiêu biểu.
- Tìm bố cục: phác thảo mảng chính, phụ.
- Vẽ hình trong mảng.
- Vẽ màu theo ý thích, có đậm, nhạt, nóng lạnh, ….
Hình minh họa gợi ý cách tìm hình mảng, hình
dáng
3.5. Đồ dùng dạy - học vẽ tranh
Một số tranh về đề tài đã cho, một số tranh có đề tài khác để học
sinh nhận xét, biểu bảng gợi ý các bước tiến hành, một số ĐDDH phục vụ cho các
hoạt động như: trò chơi, thi vẽ, …
3.6. Phương pháp dạy - học vẽ tranh
- Giáo viên cần lựa chọn phương pháp dạy học thích hợp với trình độ, đặc điểm,
… học sinh.
- Gợi ý một số phương pháp dạy học chủ yếu: Liên hệ thực tiễn cuộc sống, gợi mở,
luyện tập, tích hợp, …
5 cần vẽ theo trình tự các bước để tạo nề nếp trong cách vẽ tranh. Động viên
các em hoàn thành bài tập trong giờ học.
d) Hướng dẫn học sinh nhận xét, đánh kết quả học tập (khoảng 20-25
phút)
+ Giáo viên nên cho các em tự chọn một số bài vẽ đẹp của tổ hay nhóm để
nhận xét trước lớp ( cả lớp chọn khoảng 7, 8 bài).