Tăng cường huy động vốn đầu tư trong nước cho nhu cầu phát triển - Pdf 16

Lời mở đầu
Trong giai đoạn hiện nay, vốn là một hoạt động vật chất quan trọng cho
mọi hoạt động của nền kinh tế. Nhu cầu về vốn đang nổi lên nh một vấn đề
cấp bách. Đầu t và tăng trởng vốn là một cặp phạm trù của tăng trởng kinh tế,
để thực hiện chiến lợc phát triển nền kinh tế trong giai đoạn hiện nay ở nớc
ta cần đến một lợng vốn lớn.
Vốn cho phát triển kinh tế- xã hội luôn là vấn đề quan trọng và cấp bách
trong cuộc sống hiện nay và nhiều năm tới ở nớc ta. Đơng nhiên để duy trì
những thành quả đã đạt đợc của nền kinh tế nhờ mấy năm đổi mới vừa qua,
giữ vững nhịp độ tăng trởng kinh tế cao, tránh cho đất nớc rơi vào tình trạng
lạc tụt hậu so với nhiều nớc láng giềng trong khu vực và trên thế giới.
Trong giai đoạn hiện nay nớc ta đang tìm mọi cách khơi dậy mọi nguồn vốn
trong nớc từ bản thân nhân dân và việc sử dụng có hiệu quả nguồn vốn đã có
tại các cơ sở quốc doanh. Nguồn nớc ngoài từ ODA, NGO và từ đầu t trực
tiếp nớc ngoài FDI. Tuy nhiên cần thấy rõ nguồn vốn trong nớc là chủ yếu,
nguồn vốn trong nớc vừa phong phú vừa chủ động nằm trong tầm tay. Nguồn
trong nớc vừa là tiền đề vừa là điều kiện để đón các nguồn vốn từ nớc
ngoài. Nguồn vốn nớc ngoài sẽ không huy động đợc nhiều và sử dụng có
hiệu quả khi thiếu nguồn vốn bạn hàng trong nớc.
Mặc dù điều kiện quốc tế thuận lợi đã mở ra những khả năng to lớn để
huy động nguồn vốn từ bên ngoài, nhng nguồn vốn ở trong nớc đợc xem là
quyết định cho sự phát triển bền vững và độc lập của nền kịnh tế.
Qua nghiên cứu thực tế, và với cơ sở kiến thức đã tích luỹ đợc trong thời
gian qua em nhận thấy tầm quan trọng của việc huy động nguồn vốn đầu t
trong nớc phục vụ cho phát triển kinh tế Việt nam trong giai đoạn hiện nay.
Cũng nh xuất phát từ tính cấp thiết của vấn đề này, em chọn đề tài: Những
biện pháp cơ bản để tăng cờng huy động vốn đầu t trong nớc phục vụ
cho phát triển kinh tế Việt nam trong giai đoạn hiện nay.
Nội dung của đề tài này bao gồm các nội dung sau:
Phần I: Cơ sở phơng pháp luận để huy động nguồn vốn.
PHầN II: Thực trạng huy động vốn trong nớc trong thời gian qua ở

nguồn vốn đặc biệt là nguồn vốn trong nớc.
Vốn ngân sách nhà nớc một thời gian giảm xuống nay đã bắt đầu tăng
lên. năm 1990 là 20% thì tới năm 1994 đã tăng lên là 44% ngân sách. Để đạt
đợc kết quả đó thì nguyên nhân cơ bản là chính sách thuế đã đợc cải cách
một cách toàn diện và thu đợc nhiều kết quả cho ngân sách. Năm1990 thu
ngân sách từ thuế phí chiếm 73,69%, năm 1993 phần thu đó là 93,8%. Nếu
so với GDP thì các tỷ trọng tơng tự là 17,3% và 17,06% vốn huy động từ các
nguồn khác cũng có xu hớng tăng do chính sách khuyến khích đầu t, t nhân
và tạo dựng đợc môi trờng đầu t cho mọi thành phần kinh tế phát triển. Điều
mà ai cũng có thể đồng ý với nhau là một nền kinh tế kém phát triển có thể
cất cánh đợc nếu không có sự tham gia của các nguồn vốn từ nớc ngoài. Vai
trò của nguồn vốn bên ngoài có ý nghĩa quan trọng nhằm hỗ trợ khai thông
những cản ngại, tạo sức bật cho nền kinh tế phát triển. Vì vậy chúng ta nên
nỗ lực huy động nguồn vốn từ bên ngoài dới nhiều hình thức khác nhau. Tuy
nhiên, chúng ta không nên trông chờ và ỷ lại vào nguồn vốn từ bên ngoài.
Trong việc huy động vốn để đầu t phát triển, chúng ta cần phải khẳng định
vai trò của nguồn vốn trong nớc đóng vai trò quan trọng hay quyết định. Mặc
dù nguồn vốn này còn thấp so với vốn dài hạn ( cho thời kỳ 1996- 2000) vẫn
còn khó huy động trong hiện tại. Theo ý kiến của các chuyên gia trong và
ngoài nớc , cùng với kinh nghiệm của các nớc đang phát triển cho thấy:
Nguồn vốn trong nớc vẫn là nguồn vốn có tính chất quyết định, ngời dân
trong nớc vẫn cha dám bỏ vốn ra đầu t thì ngời nớc ngoài cũng cha mạnh
dạn bỏ vốn dầu t vào Việt nam.
Vấn đề đặt ra là không phải tìm mọi cách để huy động cho đợc các
nguồn vốn, mà phải coi trọng việc quản lý và sử dụng nguồn vốn ấy cho
đầu t phát triển sao cho có hiệu quả để nguồn vốn ấy sinh sôi nảy nở và đạt
đợc chiến lợc hiệu quả kinh tế - xã hội đề ra.
Đầu t phát triển phải đảm bảo đợc các yêu cầu sau:
Phải đợc tính bền vững trong đầu t phát triển, tức là tự bản thân nó phải
có mầm mống cho tăng trởng trong tơng lai, nhằm sử dụng tài nguyên một

Là bộ phận quan trọng trong toàn bộ khối lợng đầu t, nó có vị trí rất
quan trọng trong việc tạo ra môi trờng đầu t thuận lợi nhằm thúc đẩy mạnh
đầu t của mọi thành phần kinh tế theo định hớng chung của kế hoạch. Chính
sách và pháp luật đồng thời trực tiếp tạo ra năng lực sản xuất của một số lĩnh
vực quan trọng của nền kinh tế đảm bảo theo đúng định hớng của chiến lợc
và quy hoạch phát triển kinh tế- xã hội.
Nguồn ngân sách bao gồm: Nguồn thu trong nớc và nguồn thu bổ sung
từ bên ngoài, chủ yếu thông qua nguồn vốn ODA và một số ít là vay nợ của t
nhân nớc ngoài. Để nâng cao hiệu quả nguồn vốn từ ngân sách nhà nớc cần
có những sửa đổi trong chính sách đầu t.
Nguồn thu từ hoạt động sản xuất kinh doanh trong nớc:là các nguồn tàI chính
có khả nămg tạo lập nên quỹ ngân sách nhà nớc do kết quả hoạt động sản
xuất kinh doanh trong nớc mang lại.
-Nguồn thu đợc hình thành và thực hiện trong khâu sản xuất.
-Nguồn thu đợc thực hiện trong khâu lu thông-phân phối.
-Nguồn thu từ các hoạt động dịch vụ.
Thu ngân sách nhà nớc bao gồm các khoản:
-Thuế ,phí và lệ phí.
-Thu về bán và cho thuê các tài sản thuộc sở hữu của Nhà nớc.
-Thu lợi tức cổ phần của Nhà nớc.
-Các khoản thu khác theo luật định.
Trong các khoản thu trên, thuế là khoản thu quan trọng nhất. Thuế không chỉ
chiếm một tỷ trọng lớn trong tổng thu ngân sách Nhà nớc hàng năm mà còn
là công cụ của Nhà nớc để quản lý vĩ mô nền kinh tế quốc dân.
Tỷ lệ động viên GDP vào ngân sách nhà nớc không ngừng tăng lên qua
các năm, bình quân từ 13,1% GDP (thời kỳ1986- 1990) lên 20,5% ( thời kỳ
1991- 1995) ngân sách nhà nớc từ chỗ thu không đủ chi đến nay đã có một
phần tích luỹ dành cho đầu t phát triển từ 2,3% GDP năm 1991 tăng lên 6,1%
GDP vào năm 1996 ( nếu cả do khấu hao cơ bản).
Nguyên nhân chủ yếu của nó là:

xuất đơn giản hoá. Kết quả là: giảm đợc tỷ lệ trốn lậu thuế, tăng nguồn thu
cho ngân sách, đáp ứng đợc nhu cầu chi thờng xuyên và chi cho đầu t phát
triển, đồng thời tránh đợc các khoản lạm thu, gây khó khăn phiền hà đến sinh
hoạt và các hoạt động khác của đời sống dân c.
+ Quản lý tốt vấn đề nợ, đảm bảo đúng đối tợng trả nợ và tính kỹ các điều
kiện trả trớc khi ký hợp định khung vay vốn, và hiệp định vay cho từng công
trình, chơng trình dự án đầu t.
Các chính sách về ngân sách nhằm huy động vốn dàI hạn cho phát triển kinh
tế -xã hội cần thờng xuyên đổi mới cảI tiến các hình thức huy động, đặc biệt
là hệ thống thuế.
- Phân bổ và sử dụng tốt các nguồn vốn đầu t từ ngân sách nhà nớc
+ Tăng quy mô đầu t từ ngân sách nhà nớc và sử dụng đúng hớng nguồn
vốn này với biện pháp bao chùm là chống thất thu và tiết kiệm chi thờng
xuyên để tăng quy mô nguồn đầu t từ ngân sách nhà nớc.
+ Từng bớc xoá bỏ triệt để cơ chế bao cấp trong lĩnh vực cấp phát quản lý
đầu t xây dựng cơ bản bằng nguồn vốn của nhà nớc.
+ Tăng cờng công tác quản lý sau dự án. Những dự án này dùng nguồn
vốn nhà nớc thờng có quy mô vốn rất lớn, hiện nay việc thẩm định các dự án
là tơng đối chặt chẽ thì trái lại việc quản lý sau dự án lại bị buông lỏng dẫn
đến tình trạng chi tiết trên danh nghĩa nhng lại lãng phí trên thực tế. Sử dụng
nhiều cơ chế khác nhau để quản lý vốn, với nguồn vốn nhà nớc đợc thông
qua vay nớc ngoài với điều kiện u đãi thì tiến hành cho vay lại để tạo điều
kiện bình đẳng trong sản xuất kinh doanh và tái tạo nguồn vốn. Tiết kiệm
trong chi tiêu ngân sách hiện vẫn là một khả năng rất lớn cần tận dụng, bởi lẽ
so với các nớc tỷ lệ động viên thu nhập quốc dân vào ngân sách nhà nớc là t-
ơng đối cao. Tỷ lệ thuế ở các nớc so với GDP là tơng đối cao ( thờng đạt mức
dới 20% ).
2/ Nguồn vốn huy động từ doanh nghiệp nhà nớc.
Trong chiến lợc ổn định kinh tế Việt nam đến năm 2000, Đảng ta đã chỉ
rõ chính sách tài chính quốc gia hớng vào việc huy động vốn và sử dụng

đòi hỏi nhà nớc phải tiến hành sửa đổi và ban hành các chính sách để khuyến
khích doanh nghiệp làm ăn có hiệu , để có thể đầu t phát triên sản xuất.
- Trong giai đoan 1996- 2000 vốn của doanh nghiệp nhà nớc tự đầu t
khoảng14-15% tổng số của toàn xã hội. Mở rộng quyến tự chủ của các doanh
nghiệp theo hớng cơ cấu lại vốn sản xuất và tài sản của doanh nghiệp một
cách hợp lý, tính đầy đủ giá trị quyền sử đất vào vốn vào tài sản tại doanh
nghiệp.
3/ Nguồn vốn huy động từ trong dân c:
Theo ớc tính của các chuyên gia về kinh tế tài chính nguồn vốn trong
dân c có khoảng 6 tỷ USD đợc sử dụng qua điều tra của bộ kế hoach kế
hoạch đầu t và tổng cục thống kê nh sau:
- 44% để dành của dân là dùng để mua vàng và ngoại tệ
- 20% để dành của dân đợc dùng để mua nhà đất và cải thiện đời sống
sinh hoạt.
- Tuy nhà nớc cho phép các doanh nghiệp nhà nớc huy động vốn từ
trong dân với nhiều chính sách khác nhau, khi thực tế áp dụng còn nhiều ràng
buộc. Để tăng cờng sử dụng nguồn vốn của nhân dân hay vốn ngoài vùng
ngân sách thì cần phải có chính sách khuyến khích phát triển sản xuất, thực
hành tiết kiệm, làm giàu chính đáng tạo lòng tin cho nhân dân yên tâm bỏ
vốn ra đầu t, tiềm lực trong nhân dân còn rất rất lớn, muốn vậy nhà nớc phải
ổn dịnh tiền tệ.
Vốn đầu t của t nhân và dân c có vai trò đặc biệt quan trọng trong việc
phát triển nông nghiệp, mở mang ngành nghề ở nông thôn phát triển công
nghiệp thủ công, thơng mại , dịch vụ, vận tải Vì vậy chúng ta cần phải thực
hiện các chính sách sau:
- Đa dạng hoá các công cụ, huy động vốn để cho mọi ngờ dân ở bất cứ
nơI nào cũng có đIều kiện sản xuất kinh doanh.
- Tăng lãi xuất tiết kiệm đảm bảo lãi xuất dơng.
- Khuyến khích sử dụng tài sản cá nhân, thực hiện chế độ thanh toán
tiền gửi ở một nơi và rút ra bất cứ lúc nào, có vậy chúng ta mới đa đợc nguồn

trung của Nhà nớc và vốn doanh nghiệp (có đợc từ mọi nguồn )theo một định
hớng đầu t đúng đắn trong một cơ chế hoạt động tài chính thích hợp với tong
giai đoạn phát triển kinh tế hàng hoá nhiều thành phần ở nớc ta là yếu tố có ý
nghĩa quyết định đối với việc củng cố và làm lành mạnh nền tài chính quốc
gia, đồng thời cũng là nhân tố tạo nên bớc chuyển biến có ý nghĩa cơ bản của
công cuộc đổi mới cơ chế kinh tế.
II/ Vai trò của vốn trong nớc với phát triển kinh tế và ý nghĩa của vấn
đề huy động vốn trong nớc.
1/ Vốn trong nớc với vấn đề đáp ứng nhu cầu của đẩu t cho phát triển
kinh tế.
- Chủ trơng phát triển nền kinh tế hàng hoá có tính kế hoạch nhiều
thành phần , định hớng XHCX nhằm giải phóng mọi năng lực sản xuất của
xã hội, khai thác và sử dụng có tiềm năng vốn của đất nớc đã đặt nền kinh tế
nớc ta đến một loạt các mâu thuẫn lớn cần giải quyết cấp bách. Trong đó có
mâu thuẫn giữa nhu cầu đầu t và nguồn vốn đáp ứng cho nhu cầu ấy. Việc
đánh giá đúng nguồn vốn và việc sử dụng nó trong thời gan vừa qua nó cho
chúng ta những cơ sở để tạo ra chiến lợc tạo vốn nhằm khai thác mọi tiềm
năng về vốn và định hớng chính sách sử dụng nguồn vốn có hiệu
- Đối với việc huy động vồn trong nớc thì đây chính là nguồn vốn đóng
vai trò quan trọng, quyết định. Trong khi đất nớc nghèo nàn, khả năng tích
luỹ còn thấp thì tiết kiệm những phần chi tiêu không mang lạI hiệu quả thì nó
không những là quốc sách mà chúng ta cần có các giảI pháp để hoàn thiện
dần; Nhà nớc , các doanh nghiệp, hộ gia dình, các tổ chứ tài chính Phải
gắn tiết kiệm với tích luỹ trong sự tác động của các các nhân tố kích thích về
lợi ích kinh tế đã huy động tối đa các nguồn vốn trong nớc.
- Vốn đầu t trong nớc đợc hình thành từ các nguồn vốn trong các khu
vực: Nh ngân sách nhà nớc, tín dụng nhà nớc, doanh nghiệp nhà nớc và các
tổ chức tín dụng t nhân.
- Vốn đầu t từ khu vực nhà giữ vai trò quan trọng trong việc đầu t vào
khu vực doanh nghiệp nhà nớc để phát triển cơ sở hạ tầng, kinh tế xã hội, các

xuất kinh doanh. Trớc yêu cầu mới, vấn đề huy động và sử dụng vốn vẫn
đang gặp nhiều khó khăn phức tạp cần phải khắc phục. Ngân sách nhà nớc
luôn ở trong tình trạng căng thẳng, không thể đáp ứng đủ cho nhu cầu đầu t
phát triển. Đầu t của nhà nớc bị phân tán do phải đáp ứng nhiều nhiệm vụ,
các nguồn thu từ thuế, các khoản lệ phí, dịch vụ công cộng còn nhiều thất
thoát và lãng phí. Số vốn huy động đợc thông qua tín dụng chủ yếu là vốn
vay ngắn hạn không đáp ứng đợc nhu cầu đầu t phát triển và chuyển đổi cơ
cấu sản xuất. Vốn đầu t trực tiếp từ khu vực t nhân hãy còn chiếm tỷ lệ nhỏ
tập trung chủ yếu (80%) vào các lĩnh vực thơng mại dịch vụ, phục vụ tiêu
dùng. Một bộ phận không nhỏ nguồn vốn huy động ở trong nớc còn đang
nằm ở ngân hàng thơng mại đang bị ứ đọng không trở thành nguồn vốn đầu t
đợc.
Theo các ý kiến dự báo thì khoảng 50- 70 nghìn tỷ đồng của nhân dân
đang cất giữ dới dạng tiền mặt, ngoạI tệ, tàI sản có giá trị cao Ch a chuyển
đợc thành nguồn vốn đầu t và kinh doanh. Khoản tiền kiều hối hàng năm gửi
về nớc khoảng từ 0,6- 1 tỷ USD cha đợc khai thác và sử dụng hợp lý.
Nguyên nhân của các yếu kém trên là do:
- Trình độ phát triển kinh tế của nớc ta vẫn còn thấp, mức độ tiền tệ hoá
nền kinh tế và các quan hệ tài chính tiền tệ mới ở giai đoạn đầu của sự phát
triển, mức độ phân tán ở trong nớc vừa nhỏ vừa phân tán.
- Cơ cấu sản xuất nói chung kém hiệu quả, sau hơn 10 năm đổi mới cầu
về những sản phẩm truyền thống gần nh đã bão hoà cần phải thay bằng
những sản phẩm mới có chất lợng và hình thức cao hơn.
- Chính sách quản lý vĩ mô cha hoàn thiện và đồng bộ, cha khuyến
khích mọi ngời bỏ vốn ra mở rộng sản xuất, môi trờng đầu t cha ổn định còn
nhiều rủi ro cho các nhà đâù t.
- Khả năng kinh doanh sinh lợi cao hơn lãi trả ngân hàng của nhiều
doanh nghiệp còn hạn chế. Điều đó cũng kéo theo các ngân hàng cũng gặp
rủi ro khi cho vay, khó thu hồi vốn, phải sử dụng thế chấp nh một công cụ
chủ yếu. Đây chính là yếu tố hạn chế phân bổ có hiệu quả nguồn vốn

đạt 21%, năm 1995 đạt 26,3%, năm 1996 đạt 26,9% , nawm 1997 đạt 27,5%
và năm 1998 đạt28,2%.
Nguồn vốn đầu t toàn xã hội ngày càng đa dạng hoá, hình thức huy
động đợc huy động qua nhiều kênh nh vốn ngân sách nhà nớc, phát hành tráI
phiếu công trình. Hiện nay hình thức cổ phần hoá các doanh nghiệp nhà nớc
để tái đầu t hoặc đầu t xây dựng mới đang đợc mở rộng. Hình thức doanh
nghiệp tự vay vốn của nớc ngoào để đầu t có sự bảo lãnh của nhà nớc cũng đã
đợc mở rộng và hoàn thiện dần. Những năm gần đay đã triển khai nhiều dự
án đầu t theo hình thức BOT ( xây dựng- chuyển giao- kinh doanh), BTO
( xây dựng kinh doanh- chuyển giao). Đối tợng sử dụng vốn đầu t đã có sự
thay đổi căn bản, theo hớng xoá bỏ dần bao cấp.
Vốn đầu t từ nguồn ngoài quốc doanh cos tốc độ tăng trởng rõ rệt và
ngày càng chiếm tỷ trọng quan trọng trong tổng vốn đầu t toàn xã hội. Nguồn
vốn này chủi yếu tập trung trong lĩnh vực thơng mại, dịch vụ, nhà đất, khách
sạn nhà hàng...
Vốn đầu t thực hiện toàn xã hội 1996- 1998
Nguồn vốn huy
động
1996 1997 1998 1996- 1998
Tỷ
đồng
% Tỷ
đồng
% Tỷ
đồng
% Tỷ đồng %
Tổng vốn đầu t.
Vốn nhà nớc
Vốn ngoài QD
Vốn dân c

26000
-
100
45,9
23,5
15,9
30,6
3,6
253614
107614
63733
43843
83200
-
100
42,43
25,19
17,28
32,80
-
Để đảm bảo đầu t đúng định hớng, phù hợp với quy hoạch phát triển
kinh tế của vùng, lãnh thổ, nâng cao sử dụng vốn tín dụng đầu t u đãi, cần đổi
mới cơ chế quản lý và chính sách đầu t theo chơng trình dự án. Tất cả các
công trình dự án đều phải tân thủ một cách nghiêm ngặt các trình tự đầu t xây
dựng cơ bản.
IV/ Kinh nghiệm của một số nớc về huy động vốn đầu t trong nớc.
Nguồn vốn luôn là một vấn đề đặt ra hàng đầu cho mọi nền kinh tế công
nghiệp hoá. Tuy nhiên do lợi thế của mỗi một quốc gia là khác nhau và do sự
khác nhau về lợi thế so sánh nên con đờng để kiến tạo nguồn vốn sản xuất là
hết sức đa dạng.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status