Bài 2: Sự thích nghi của sinh vật đối
với môi trường sống
I. Sự thích nghi với as
1) Ở thực vật
a) Các đặc điểm thích nghi của các loài thực vật đối với điều kiện chiếu sáng
*Dựa vào sự ra hoa theo as người ta chia thực vật thành các nhóm:
Cây ngày ngắn bắt buộc: ngô, túc…
Cây ngày ngắn không bắt buộc: lúa, bông…
Cây ngày dài bắt buộc
Cây ngày dài không bắt buộc: xà lách, lúa mì…
*Dựa trên nhu cầu as của các loài thực vật người ta chia thực vật làm các nhóm:
Cây ưa sáng: mọc nơi quang đãng hay ở trên tầng ưa sáng của rừng ẩm thường xanh
nhiệt đới nó còn phân thành 3-5 tàng cây vượt tán với những than cao 40-50m hay cao
hơn nữa , có các đặc điểm chịu được as mạnh như lá có phiến dày, màu xanh nhạt, xếp
nghiêng so với mặt đất, mô dậu phát triển…
Cây ưa bóng tiếp nhận as khuếch tán thường sống dưới tán cây khác, có phiến lá
mỏng màu xanh đậm, ít hoặc không có mô giậu, lá nằm ngang…
Cây chịu bóng là những loài phát triển được cả ở những nơi giàu as và những nơi ít
as, tạo nên những tấm thảm xanh ở đáy rừng.
b) Sự thích nghi của cá thể thực vật đối với as trong giới hạn sinh thái của loài
*Sự thích nghi biểu hiện ở giải phẫu-hình thái
Lá ở ngọn thường nhỏ dày cứng có tầng cutin dày nhiều gân, là có màu nhạt. Lá ở
phía trong thì ngược lại.
*Sự thích nghi biểu hiện ở hoạt động sinh lí
As xanh đỏ bị lá hấp thụ cung cấp năng lượng cho quang hợp. Tia sáng đỏ thuận lợi
cho sự tổng hợp đường, as xanh tím thuận lợi cho sự tổng hợp protein. Một số cây có rễ
mọc trong không khí cũng có khả năng quang hợp.
Sự nảy mầm của hạt phụ thuộc vào as: nhiều loại hạt nảy mầm trong đất bị ức chế nếu
bị đưa ra sáng. Một số hạt lại không thể nảy mầm thiếu as. Sự hô hấp của hạt có cảm ứng
với các loại as khác nhau, một số loài tùy điều kiện khác nhau mà có cảm ứng với as hay
không (VD: hoa mộc)
sinh vật không tách biệt rõ với các đặc điểm thích nghi của loài. Chúng chỉ thể hiện qua
một số mặt sau:
Dựa trên as và nhịp điệu sinh học chung của loài, mỗi cá thể động vật lại hình thành
lên một đồng hồ sinh học của riêng mình.
3) Nhịp điệu sinh học
Nhịp điệu sinh học là khả năng phản ứng của sinh vật một cách nhịp nhàng đối với
những biến đổi mang tính chu kì của MT sống. Nhịp điệu sinh học mang tính di truyền và
có các dạng thường gặp là nhịp điệu ngày đêm, nhịp điệu theo mùa, nhịp điệu tuần trăng.
Tính chu kì của những yếu tố khí hậu biến đổi đã quyết định đến mọi quá trình sinh lí
sinh thái diễn ra trong cá thể của mỗi loài, tạo cho sinh vật hoạt động theo những nhịp
điệu chuẩn xác như những chiếc đồng hồ sinh học.
II. Sự thích nghi với nhiệt độ
1) Những nhận xét chung về sinh vật trong phương diện thích nghi với nhiệt độ
*Nhiệt độ trao đổi năng lượng giữa cơ thể và môi trường qua quá trình hấp thu, dẫn
nhiệt, đối lưu, bức xạ nhiệt.
*Nhiệt độ là nhân tố giới hạn và điều chỉnh đối với sinh vật. Sự sống chỉ tồn tại ở giới
hạn từ -200 đến 100°C nhưng đa số sống ở 0 đến 50°C hay còn hẹp hơn. Dựa vào giới
hạn sinh thái của các loài sinh vật đối với nhân tố nhiệt độ, người ta phân chia ra: Loài
rộng nhiệt (sống ở vùng ôn đới) và loài hẹp nhiệt (ở vunhf nhiệt đới hoặc hàn đới).
*Dựa vào thân nhiệt người ta chia sinh vật thành hai nhóm:
Sinh vật biến nhiệt: Thân nhiệt biến đổi theo nhiệt độ môi trường, chúng điều chỉnh
thân nhiệt thông qua sự trao đổi nhiệt trực tiếp với môi trường. Ở những loài biến nhiệt
thì nhiệt được tích lũy trong một giai đoạn hay cả đời sốnggần như một hằng số và tuân
theo công thức: T = ( X – K).n
Sinh vật hằng nhiệt có thân nhiệt ổn định, độc lập với biến đổi của nhiệt độ môi
trường thông qua điều hòa sinh nhiêt, điều hòa tỏa nhiệt (lớp cách nhiệt, điều hòa dãn nở
mao mạch dưới da, điều tiết mồ hôi), hình thành tập tính điều hòa cân bằng nhiệt vì vậy
chúng có khả năng phân bố rộng.
*Nhiệt độ tác động mạnh tới hình thái, cấu trúc cơ thể tuổi thọ, các quá trình sin lí sinh
thái và tập tính của sinh vật. Khi nhiệt độ vượt qua giới hạn chịu đựng của sinh vật nó sẽ
Động vật ngủ hè, ngủ đông, di cư, hình thành bào tử để tránh nhiệt độ khắc nhiệt.