LỜI NÓI ĐẦU
Trong những năm qua nền kinh tế nước ta không ngừng tăng trưởng
với tốc độ tăng trưởng bình quân 7% một năm. Hoà cùng không khí hội nhập
kinh tế quốc tế, nước ta không ngừng đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại
hoá, phát triển kinh tế định hướng xã hội chủ nghĩa. Trong quá trình đổi mới
Đảng và Nhà nước ta luôn coi trọng đổi mới hoạt động ngân hàng là khâu đột
phá, góp phần phát triển kinh tế, phù hợp với nền kinh tế thị trường.
Những năm qua Ngân hàng đã hoạt động thật sự năng động, tự chủ,
sáng tạo và hiệu quả. Song song với quá trình đổi mới toàn diện về cơ chế và
bộ máy ngân hàng là hoạt động TTKDTM tại Ngân hàng cũng có nhiều đổi
mới tích cực và phát triển.
Hoạt động TTKDTM thực sự là một lĩnh vực quan trọng không thể
thiếu được trong nền kinh tế nói chung và ngành ngân hàng nói riêng. Với vai
trò là trung gian thanh toán thì ngân hàng thật sự là cầu nối giữa các thành
phần kinh tế. Nó đã tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp, các thành
phần kinh tế và cá nhân trong thanh toán, đồng thời tập trung các nguồn vốn
nhàn rỗi của xã hội.
Hiện nay hoạt động TTKDTM tại các Ngân hàng thương mại là loại
hình dịch vụ có nguồn thu, không chứa đựng rủi ro như các hình thức đầu tư
và cho vay khác, tuy nhiên đối với các Ngân hàng thương mại Việt Nam
nguồn thu này rất thấp. Cần phải cải thiện hoạt động TTKDTM từ đó làm
tăng nguồn thu cho mình là việc làm cần thiết đối với hệ thống NHTM nói
chung và đối với chi nhánh NHNo&PTNT Nam Hà Nội nói riêng.
Xuất phát từ tầm quan trọng của hoạt động TTKDTM, trong mấy năm
qua ngành Ngân hàng đã thật sự quan tâm đến nghiệp vụ thanh toán nên cũng
đã đạt được những kết quả nhất định. Các hình thức TTKDTM hiện nay rất
phong phú và phức tạp và việc ứng dụng công nghệ hiện đại vào thanh toán ở
nước ta còn yếu kém. Bởi vậy mà hoạt động TTKDTM ở các NHNTM hiện
nay còn nhiều khó khăn, vướng mắc cần được tháo gỡ.
Từ thực tế trên và trước yêu cầu đổi mới của hệ thống ngân hàng
giá chung. Sau một thời gian thì tiền tệ được cố định là tiền vàng do có nhiều
tính ưu việt hơn các loại hàng hoá khác. Trình độ sản xuất hàng hoá ngày
càng phát triển, khối lượng hàng hoá tăng theo cấp số nhân, còn trữ lượng
vàng thì khai thác không kịp làm cho giá trị danh nghĩa của tiền tê tách rời giá
trị thực tế. Tiền giấy ra đời khắc phục hạn chế của tiền vàng do việc in ấn
không hạn chế và có nhiều mệnh giá khác nhau, nó đảm bảo cho quá trình lưu
thông hàng hoá phát triển nhịp nhàng hơn đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế.
Trong quá trình lưu thông luôn xuất hiện hai dòng luân chuyển: dòng luân
chuyển hàng hoá và dòng luân chuyển tiền tệ được thực hiện bởi các chủ thể
kinh tế.
Bất kỳ một chủ thể nào muốn tiến hành sãn xuất kinh doanh đều phải
có hai quá trình trao đổi: quá trình mua hàng hoá dịch vụ đầu vào để tiến hành
sản xuất kinh doanh và quá trình bán sản phẩm đầu ra nhằm thu lợi nhuận. Và
trong quá trình sản xuất kinh doanh đó thì thanh toán là khâu đầu tiên và cũng
là khâu cuối cùng của quá trình sản xuất kinh doanh đó. Thanh toán là điều
kiện quan trọng đảm bảo sự tuần hoàn bình thường của lưu thông hàng hóa
của quá trình chu chuyển vốn được liên tục trong từng đơn vị sản xuất nói
riêng cũng như trong nền kinh tế nói chung.
Khâu thanh toán bị ách tắc thì quá trình sản xuất sẽ bị gián đoạn, các
mối quan hệ kinh tế bị phá vỡ ảnh hưởng đến sự phát triển của nền kinh tế.
Thanh toán bằng tiền mặt có nghĩa là việc chi trả được thực hiện trực tiếp
bằng tiền mặt trong các quan hệ kinh tế giữa người mua và người bán, hay sự
vận động của hàng hoá gắn liền với một khối lượng tiền tệ nhất định. Khi sản
xuất hàng hoá chỉ ở trong một phạm vi hẹp, nền kinh tế ở trình độ thấp, khối
lượng thanh toán nhỏ thì thanh toán bằng tiền mặt tỏ ra linh hoạt diễn ra ở
mọi lúc mọi nơi tuỳ thuộc vào ý muốn chủ quan của người mua và người bán.
Khi sản xuất hàng hóa phát triển ở trình độ cao, trao đổi hàng hóa
không còn bó hẹp trong phạm vi một vùng nữa mà nó đã mở rộng ra phạm vi
toàn quốc và trên thế giới. Khối lượng sản phẩm sản xuất ra và tiêu thụ với
đơn vị kinh tế đều phải có một khối lượng tiền tệ nhất định để mua nguyên
vật liệu, chi trả các khoản phí phát sinh trong quá trình sản xuất của mình.
Các đơn vị kinh doanh thương mại có quá trình mua hàng hoá vào và bán
hàng ra, tất yếu phải có hoạt động thanh toán tiền hàng. Nếu như mỗi đơn vị
này phải vận chuyển tiền lượng tiền mang đi hay thu về bằng phương tiện
giao thông vận tải thì chi phí lớn, không an toàn và mất thời gian. Chính vì
vậy mỗi đơn vị cần một trung gian đáng tin cậy để đóng vai trò lưu trữ, bảo
quản và thực hiện chi trả hộ. Trung gian đó chính là Ngân hàng. Việc thanh
toán sẽ được diễn ra trong nội bộ hệ thống ngân hàng với sự trợ giúp của các
phương tiện thông tin liên lạc hiện đại khiến cho hoạt động thanh toán được
nhanh chóng, tiết kiệm và an toàn.
NHTM là đơn vị thực hiện hoạt động TTKDTM. Với vai trò là trung
gian thanh toán trong nền kinh tế, Ngân hàng đưa ra các công cụ thanh toán
hữu ích đa dạng nhằm đáp ứng được nhu cầu thanh toán ngày càng lớn của
các chủ thể trong nền kinh tế. Ngân hàng thực hiện tốt hoạt động TTKDTM là
thúc đẩy nhanh quá trình chu chuyển vốn trong nền kinh tế, thúc đẩy nhanh
quá trình tái sản xuất. Với sự trợ giúp của hệ thống ngân hàng, quan hệ thanh
toán trở nên đơn giản hơn rất nhiều đối với các đơn vị kinh doanh, họ sẽ
không tốn nhiều thời gian và chi phí cho sản xuất, không gian sản xuất được
mở rộng. Các đơn vị kinh doanh ở xa vẫn có thể tiến hành hoạt động sản xuất
kinh doanh một cách dễ dàng mà không phải tốn nhiều thời gian và chi phí
cho hoạt động thanh toán của mình. Bằng việc áp dụng công nghệ hiện đại
với các mối quan hệ đa dạng của mình ngân hàng thực hiện thanh toán cho
một doanh nghiệp một cách nhanh chóng và an toàn. Các hoạt động thanh
toán như vận chuyển tiền, kiểm tra tiền để thanh toán nay không còn nữa mà
thay vào đó các đơn vị kinh doanh chỉ cần mở một tài khoản tại ngân hàng và
ký lệnh thanh toán khi cần thiết là mọi hoạt động thanh toán coi như đã hoàn
tất. Hơn nữa khoản tiền gửi của các đơn vị kinh tế, cá nhân tại ngân hàng
được an toàn và được hưởng lãi từ khoản tiền gửi đối với lãi suất tiền gửi
khách hàng.
Khi thực hiện hoạt động thanh toán thì các chứng từ là do khách
hàng lập đòi hỏi cơ chế thanh toán phải quy định những nguyên tắc thống
nhất, nghiêm ngặt có tính chuẩn mực cao, hình thức thanh toán nào được
áp dụng thì sẽ sử dụng bộ chứng từ đó, trong các chứng từ số liên cũng
phải đủ, đúng chữ ký, lập theo mẫu quy định của Ngân hàng Nhà nước
giúp cho việc thanh toán thuận lợi, chính xác, đồng thời hạn chế việc lập
các chứng từ giả.
Hệ thống ngân hàng hoạt động với mạng lưới rộng khắp, số lượng
nghiệp vụ lớn, để kiểm soát theo dõi ngân hàng và khách hàng dễ dàng
trong quá trình thanh toán phải có sự thống nhất về quy trình thanh toán,
loại hình chứng từ, mẫu chứng từ,…giữa các ngân hàng. Khi khách hàng
gửi chứng từ thanh toán đến, kế toán giao dịch sẽ nhận biết đó là loại
chứng từ nào, của ngân hàng nào, việc thanh toán trở nên nhanh chóng
hơn.
Hoạt động thanh toán được kết thúc trên các tài khoản tại ngân
hàng. Nhưng nhiều lý do khác nhau mà việc kết thúc này không được trọn
vẹn, tức là sau khi ghi chép trên tài khoản còn có nhiều khách hàng từ chối
thanh toán. Sự từ chối gây ra nhiều rắc rối, gây ảnh hưởng đến khả năng
tài chính, kế hoạch sản xuất kinh doanh của nhiều doanh nghiệp, các tổ
chức kinh tế cá nhân trong xã hội.
1.1.3. Vai trò của hoạt động TTKDTM trong nền kinh tế.
Hiện nay TTKDTM có vai trò rất quan trọng đối với các thành phần kinh tế.
Với xu thế hội nhập kinh tế quốc tế, mối quan hệ thương mại giữa các nước
ngày càng mở rộng, phát triển cả về khối lượng và chủng loại hàng hoá.
Chính vì vậy mà hoạt động TTKDTM là một hoạt động không thể tách rời với
hoạt động kinh tế, đóng vai trò quan trọng cho sự phát triển của một quốc gia.
Vai trò của hoạt động TTKDTM thể hiện như sau:
1.1.3.1. Đố i v ớ i Ngân h à ng
bị lợi dụng. Khi có hoạt động thanh toán thì ngân hàng trích từ tài khoản này
sang tài khoản khác nên tiết kiệm được chi phí bảo quản, vận chuyển.
TTKDTM tạo điều kiện quay nhanh vòng vốn, thúc đẩy quá trình sản xuất kinh
doanh nhanh chóng và hiệu quả. TTKDTM đảm bảo chính xác, rút ngắn thời
gian thanh toán với chi phí thấp, giúp các khách hàng an tâm, tập trung vào
hoạt động sản xuất kinh doanh làm tăng hiệu quả sản xuất của xã hội.
1.1.3.3. Trên ph ươ ng di ệ n qu ả n lý v ĩ mô c ủ a Nh à n ướ c
Đố với nền kinh tế, việc tăng tỷ trọng TTKDTM sẽ làm giảm khối
lượng tiền mặt trong lưu thông, tiết kiệm được chi phí lưu thông, chi phí in
ấn, phát hành, kiểm đếm, bảo quản,… đồng thời giúp Ngân hàng Trung Ương
điều tiết lượng tiền cung ứng phù hợp với nhu cầu của nền kinh tế thông qua
chính sách tiền tệ thắt chặt hay mở rộng tuỳ thuộc vào từng giai đoạn phát
triển của nền kinh tế. NHTW làm trung tâm thanh toán của toàn bộ nền kinh
tế, nhưng không chỉ thực hiện nghiệp vụ thanh toán một cách đơn thuần mà
ngân hàng còn thực hiện kiểm soát quan hệ mua bán, quy trình sử dụng vốn,
việc chấp hành chế độ, nguyên tắc quản lý kinh tế của từng ngân hàng.
Có thể thấy thông qua hoạt động TTKDTM Chính phủ, NHTW thực
hiện tốt hơn chức năng quản lý kinh tế vĩ mô, điều tiết được lượng tiền lưu
thông trong nền kinh tế. Từ đó góp phần hạn chế lạm phát, thúc đẩy sản xuất
kinh doanh phát triển, định hướng phát triển nền kinh tế theo sự quản lý của
Nhà nước.
Tóm lại hoạt động TTKDTM có vai trò quan trọng trong nền kinh tế
thị trường, được thể hiện dưới mấy điểm sau:
− Một là TTKDTM tiết kiệm chi phí lưu thông cho xã hội.
− Hai là TTKDTM đáp ứng kịp thời nhu cầu vốn kinh doanh, đảm bảo sản
xuất lưu thông liên tục.
− Ba là TTKDTM tạo điều kiện tập trung nguồn vốn trong nền kinh tế làm
tăng nguồn vốn cho ngân hàng.
- Thư tín dụng
- Phiếu thanh toán
- Thẻ thanh toán
Riêng về séc thanh toán ngày 09/05/1996 Chính phủ đã ban hành Nghị
định số 30/CP về quy định sử dụng séc, NHNN đã ban hành thông tư hướng
dẫn quy chế phát hành và sử dụng cho các ngân hàng và tổ chức tín dụng,
thông tư hướng dẫn có hiệu lực từ ngày 04/04/1997.
Trong các hình thức TTKDTM được quyết định ở số 22/QĐ-NH của
Thống đốc NHNN, ngân phiếu được coi là một hình thức TTKDTM. Tuy
nhiên theo quyết định số 425 ngày 17/12/1998 của Thống đốc NHNN thì
ngân phiếu thanh toán được xếp vào tài khoản loại 1, loại hoạt động ngân quỹ.
Mặt khác do đặc điểm của ngân phiếu thanh toán là do NHNN phát hành, có
thời hạn thanh toán và mệnh giá in sẵn trên từng tờ, vô danh, được chuyển
nhượng. Với đặc điểm này thì ngân phiếu thanh toán được sử dụng như tiền
mặt có thời hạn. Hơn nữa đối với bất kỳ hình thức TTKDTM nào người sử
dụng hình thức thanh toán đó phải có tài khoản tại ngân hàng. Có những
trường hợp khách hàng đến ngân hàng xin lĩnh ra bằng ngân phiếu thanh toán
thì nhân viên ngân hàng có thể trả lời: “Hiện nay chưa có ngân phiếu thanh
toán, xin khách hàng vui lòng lĩnh tiền mặt”. Sự từ chối này tương tự với việc
không có tiền mệnh giá lớn, đề nghị khách hàng vui lòng nhận tiền mệnh giá
bé. Như vậy thì hình thức thanh toán bằng ngân phiếu không phải là một hình
thức TTKDTM. Vì thế mà hiện nay các hình thức TTKDTM phổ biến bao
gồm 5 hình thức: Séc, UNT, UNC, thư tín dụng, thẻ.
1.2.1. Thanh toán bằng Séc
1.2.1.1. Khái ni ệ m v à quy đị nh chung v ề s ử d ụ ng séc .
1) Khái niệm.
Séc là một lệnh trả tiền vô điều kiện của chủ tài khoản được lập trên
mẫu in sẵn đặc biệt của ngân hàng, ra lệnh cho ngân hàng trích tiền trên tài
khoản của mình để thanh toán cho người được hưởng.
và ký tên.
- Được nộp trong thời hạn hiệu lực thanh toán.
- Không có lệnh đình chỉ thanh toán.
- Chữ ký và dấu (nếu có) của người phát hành séc phải khớp đúng với mẫu
đăng ký tại ngân hàng.
- Không ký phát hành séc vượt quá thẩm quyền quy định tại văn bản uỷ
quyền.
- Các chữ ký chuyển nhượng (đối với séc ký danh) phải liên tục.
- Tài khoản tiền gửi của chủ tài khoản đủ số dư để thanh toán.
Séc được hạch toán theo nguyên tắc “Nợ trước, có sau”. Các tờ séc
sau khi kiểm tra tính hợp lệ, có đủ tiền trên tài khoản tiền gửi thì ngân hàng
phải ghi nợ vào tài khoản người phát hành trước, ghi có vào tài khoản người
thụ hưởng sau.
3) Trách nhiệm của các bên tham gia sử dụng séc.
Tham gia sử dụng séc gồm 3 bên: người phát hành séc, ngân hàng
thanh toán séc, người thụ hưởng.
Đối với người phát hàng séc: Phải có tài khoản tiền gửi thanh toán tại
ngân hàng (nơi thanh toán hộ mình). Người phát hành không được ký khống
trên tờ séc và chỉ được phát hành trong số dư tài khoản tiển gửi của mình hoặc
số dư của sổ séc định mức đã lưu ký tại ngân hàng. Nếu phát hành séc quá số
dư lần một thì nhắc nhở và phạt tiền, lần hai thì phạt tiền đình chỉ phát hành
séc trong vòng 6 tháng, lần ba thì sẽ tước quyền phát hành séc.
Mức phạt tiền như sau:
Người phát hành séc phải phạt tiền bằng 30% số tiền phát hành quá số
dư. Số tiền phạt chậm trả (kể từ ngày tờ séc quay về ngân hàng phục vụ người
phát hành séc cho đến ngày có đủ tiền thanh toán) bằng số tiền quá số dư lãi
suất nợ quá hạn loại cho vay cao nhất tại ngân hàng phục vụ người phát hành
nhân với số ngày chậm trả.
Tiền phạt chậm trả được chuyển cho người thụ hưởng, tiển phạt séc
− Hai khách hàng có tiền gửi thanh toán tại cùng một chi nhánh
ngân hàng thương mại.
− Hai khách hàng có tài khoản tiền gửi tại hai chi nhánh NHTM
cùng địa bàn có tham gia thanh toán bù trừ trực tiếp.
− Hai khách hàng có tài khoản tiền gửi tại 2 chi nhánh NHTM cùng
hệ thống, khác địa bàn.
• Quy trình thanh toán.
Tuỳ thuộc vào phạm vi thanh toán giữa các ngân hàng mà việc thanh toán
sẽ được thực hiện theo những quy trình nhất định.
Sơ đồ thanh toán séc bảo chi
- Trường hợp thanh toán séc bảo chi giữa các khách hàng có tài khoản
trong cùng một chi nhánh ngân hàng.
(1) Để có tờ séc bảo chi đi mua hàng, người mua (người ký phát) phải đến
ngân hàng xin bảo chi séc.
(2) Người bán giao hàng hoá, dịch vụ cho người mua.
(3) Người mua giao tờ séc đã được bảo chi cho người bán.
(4) Người bán lập bảng kê nộp Séc (BKNS) kèm tờ séc bảo chi đến tổ chức
cung ứng dịch vụ thanh toán phục vụ mình (đồng thời là đơn vị thanh
toán) xin thụ hưởng số tiền trên tờ Séc.
(5) Sau khi kiểm soát chứng từ và hạch toán, tổ chức cung ứng dịch vụ thanh
toán ghi nợ cho người ký phát séc.
(6) Báo có cho người thụ hưởng.
- Trường hợp thanh toán séc bảo chi tại các chi nhánh NHTM cùng địa
bàn có tham gia thanh toán bù trừ.
(1), (2), (3) tương tự như trên.
(4) Người bán lập Bảng kê nộp Séc kèm tờ séc bảo chi đến tổ chức cung ứng
dịch vụ thanh toán phục vụ mình nhờ thu hộ số tiền trên tờ séc.
Người ký phát séc
có sự khác biệt sau: séc bảo chi là loại séc được ngân hàng đảm bảo khả năng
chi trả cho từng tờ séc, còn séc địng mức (séc trong sổ định mức) là loại séc
được ngân hàng bảo đảm khả năng chi trả cho cả một quyển séc. Khi phát
hành séc định mức sẽ có thuận lợi hơn cho người phát séc là tiết kiệm được
thời gian và chi phí giao dịch séc, người phát séc có độ tín nhiệm cao hơn.
Tuy nhiên séc định mức có nhiều tờ séc nên ngân hàng không thể kiểm soát
chính xác về số dư trên cả quyển séc. Mặt khác sổ séc định mức chỉ được
thanh toán cho cùng một người bán, với những hạn chế này thì hiện nay hầu
hết các ngân hàng không phát hành séc định mức.
• Các quy định riêng của séc định mức khác với séc bảo chi:
- Mức tối thiểu để mở sổ séc định mức là 20 triệu đồng.
- Sổ séc định mức có thời hạn hiệu lực tối đa là 30 ngày kể từ ngày mở
sổ séc định mức. Thời hạn hiệu lực của từng tờ séc trong sổ séc định
mức phụ thuộc vào thời hạn chung của sổ séc định mức.
- Người thụ hưởng phải có trách nhiệm kiểm tra số dư của sổ séc định
mức mỗi lần nhận séc, nếu đảm bảo đủ tiền thanh toán cho tờ séc thì
mới thu nhận.
- Phạm vi thanh toán và quy trình thanh toán séc định mức tương tự
như séc bảo chi.
3) Séc chuyển khoản
Séc chuyển khoản là một chứng từ thanh toán do chủ tài khoản phát
hành để trả cho người thụ hưởng. Người phát hành séc trực tiếp giao tờ séc
cho người thụ hưởng. Người phát hành séc trực tiếp giao tờ séc cho người thụ
hưởng. Séc chuyển khoản được sử dụng rộng rãi, có giá trị thanh toán như
tiền, do đó trên tờ séc phải có đầy đủ những yếu tố theo quy định. Séc chuyển
khoản được in theo mẫu đặc biệt của ngân hàng, người phát hành séc chỉ phải
điền vào những chỗ quy định bằng loại mực không phai. Nguyên tắc hạch
toán séc là ghi nợ trước, ghi có sau. Các chứng từ kèm theo tờ séc để hạch
toán là bảng kê nộp séc.
Ngân hàng phục vụ
người bán
(2)
(6)
(4)
(5)
(3)
(2’)
Giao hh, dịch vụ
(1)
(5) Ngân hàng phục vụ người mua chuyển BKNS kèm bảng kê thanh toán
bù trừ cho ngân hàng người bán thông qua thanh toán bù trừ.
(6) Ngân hàng người báo chuyển giấy báo có cho người thụ hưởng.
(2’) Người bán có thể nộp trực tiếp séc vào ngân hàng phục vụ người mua.
4) Séc chuyển tiền.
Séc chuyển tiền hay séc chuyển tiền cầm tay là một loại séc do ngân
hàng phát hành theo yêu cầu của khách hàng. Bản chất của séc chuyển tiền là
bộ UNC. Séc chuyển tiền được sử dụng chủ yếu để chuyển tiền đi địa phương
khác, người thụ hưởng có thể có tài khoản tiển gửi tại ngân hàng nơi có tiền
chuyển đến. Việc chuyển tiền mặt giữa các tỉnh, thành phố qua ngân hàng
được thực hiện bằng phương thức chuyển tiền nhanh bằng điện đến địa chỉ
người lĩnh tiền, hoặc cấp séc chuyển tiền cho khách hàng.
Thời hạn hiệu lực tối đa của séc chuyển tiền là 30 ngày kể từ ngày phát
hành ghi trên tờ séc. Séc chuyển tiền được áp dụng giữa các ngân hàng cùng
hệ thống hoặc khác hệ thống do ngân hàng lập và trao cho khách hàng sau khi
lưu ý vào tài khoản.
• Quy trình thanh toán séc chuyển tiền.
- Trường hợp các khách hàng có tài khoản tại các ngân hàng trong cùng hệ
thống nhưng không tham gia thanh toán bù trừ trực tiếp.
(1) Khách hàng nộp tiền hoặc trích tài khoản tiền gửi yêu cầu sử dụng séc
1.2.2. Thanh toán bằng UNC.
UNC là một lệnh yêu cầu của chủ tài khoản uỷ nhiệm cho ngân hàng
phục vụ mình trích tiền trên tài khoản tiền gửi của mình để thanh toán cho
người thụ hưởng.
UNC được sử dụng để thanh toán tiền hàng hoá, dịch vụ hoặc chuyển
tiền. Nó được áp dụng rộng rãi trong thanh toán, khi sử dụng hình thức thanh
toán bằng UNC, người bán hoàn toàn tín nhiệm người mua về thanh toán tiền
hàng. Người bán cho phép người mua nhận được hàng rồi sau đó mới thanh
toán cho người bán, sự tin tưởng được thể hiện ở cả số tiền và thời hạn thanh
(1) (2)
(3) (4)
(5)
Giao hh, dịch vụ
toán. Theo quy định, trong vòng một ngày làm việc, ngân hàng bên trả tiền
phải hoàn tất lệnh chi đó, hoặc từ chối thực hiện. Nếu tài khoản của khách
hàng không đủ tiền, hoặc lệnh chi không hợp lệ. Ngân hàng bên thụ hưởng
khi nhận được chứng từ hợp lệ phải ghi có ngay vào tài khoản và báo có cho
khách hàng biết.
• Phạm vi thanh toán của UNC.
+ Khách hàng có tài khoản tại cùng một chi nhánh NHTM.
+ Khách hàng có tài khoản ở 2 chi nhánh NHTM khác nhau, nhưng các
chi nhánh này có tham gia thanh toán.
+ Khách hàng có tài khoản tại 2 chi nhánh thuộc cùng hệ thống. Các chi
nhánh đó không tham gia thanh toán bù trừ trực tiếp.
+ Khách hàng có tài khoản tại 2 chi nhánh NHTM khác hệ thống, các
chi nhánh đó không tham gia thanh toán bù trừ trực tiếp.
• Quy trình thanh toán UNC.
Sơ đồ thanh toán
- Trường hợp khách hàng có tài khoản tại cùng một chi nhánh NHTM.
hàng phục vụ người mua áp dụng một trong hai trường hợp sau:
+ Lập chứng từ thanh toán bù trừ với ngân hàng phục vụ người bán có
tham gia thanh toán bù trừ trên địa bàn tỉnh, thành phố hoặc lập chứng từ
thanh toán liên hàng với ngân hàng trong cùng hệ thống để ngân hàng này
ghi có vào tài khoản người bán.
+ Lập chứng từ thanh toán qua tài khoản tại ngân hàng nhà nước.
(5) Ngân hàng phục vụ người bán ghi có cho tài khoản người bán và báo có.
1.2.3. Thanh toán bằng UNT.
UNT là giấy tờ thanh toán do người bán lập để uỷ thác cho tổ chức
cung ứng dịch vụ thanh toán thu hộ một số tiền ở người mua tương ứng với
giá trị hàng hoá, dịch vụ đã cung ứng.
UNT được áp dụng trong giao dịch thanh toán giữa những người sử
dụng dịch vụ thanh toán có mở tài khoản trong nội bộ tổ chức cung ứng dịch
vụ thanh toán hoặc giữa các tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán, trên cơ sở
có thoả thuận hoặc hợp đồng về điều kiện thu hộ giữa bên trả tiền và bên thụ
hưởng.
UNT được sử dụng trong trường hợp 2 bên bán và mua tin tưởng nhau
về quan hệ thanh toán. Sự tin tưởng này thể hiện người bán tín nhiệm người
mua: Khi người bán lập UNT mong muốn rằng người mua sẽ trả tiền cho
(1)
(2)
(3)
(4)
(5)
(6)
(7) (8)
người bán; người mua tín nhiệm người bán ở chỗ người bán sẽ trao đủ số
hàng và đúng thời gian giao hẹn. Mức độ tín nhiệm của khách hàng khi sử
dụng UNT thấp hơn trường hợp sử dụng UNC.
người bán