LỜI MỞ ĐẦU
Nghiên cứu về Ngân hàng và hoạt động ngân hàng là rất cần thiết. Đa
dạng hoá là một xu hướng tất yếu của sự phát triển trong hoạt động kinh
doanh nói chung và hoạt động ngân hàng nói riêng. Đặc biệt trước những
yêu cầu mới của cạnh tranh và hội nhập kinh tế, ngành ngân hàng phải
không ngừng phát triển và tìm kiếm những hướng đi mới phù hợp để vừa có
thể đáp ứng ngày càng tốt hơn nhu cầu của khách hàng vừa đứng vững trong
cơ chế thị trường. Mở rộng cho vay tiêu dùng là một hướng đi như vậy. Đây
là một hướng đi không mới ở các nước phát triển nhưng khá mới mẻ ở Việt
Nam, bởi người dân Việt Nam vẫn có thói quen suy nghĩ rằng ngân hàng là
nơi phục vụ cho các doanh nghiệp, là một kênh đầu tư tiền nhàn rỗi. Do vậy,
thị trường cho vay tiêu dùng còn khá sơ khai và chưa được nhiều ngân hàng
khai thác.
Với thời gian thực tập không dài tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát
triển nông thôn chi nhánh Nam Hà Nội, em nhận thấy hoạt động cho vay
tiêu dùng ở chi nhánh vẫn còn chưa thỏa đáng với năng lực của chính mình.
Em thấy rõ được tầm quan trọng và tiềm năng của hoạt động này. Việc thực
hiện và mở rộng hoạt động cho vay tiêu dùng có ý nghĩa quan trọng đối với
sự phát triển lâu dài của chi nhánh. Vì vậy em lựa chọn đề tài “ Giải pháp
mở rộng hoạt động cho vay tiêu dùng tại chi nhánh NHNo&PTNT Nam Hà
Nội ” làm khóa luận tốt nghiệp.
Em xin chân thành cảm ơn giáo viên hướng dẫn Th.S Đinh Thanh
Long và các cán bộ tín dụng ở chi nhánh NHNo&PTNT Nam Hà Nội đã
đóng góp những ý kiến quý báu giúp em hoàn thành chuyên đề này.
1
Kết cấu chính của chuyên đề gồm có 3 chương:
-Chương 1: Cơ sở lý thuyết về cho vay tiêu dùng của ngân hàng thương mại
-Chương2: Thực trạng hoạt động cho vay tiêu dùng ở chi nhánh Ngân hàng
nông nghiệp và phát triển nông thôn Nam Hà Nội
-Chương 3: Một số giải pháp và kiến nghị về việc mở rộng hoạt động cho
vay tiêu dùng tại chi nhánh Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn
dễ có sự nhầm lẫn giữa loại hình ngân hàng thương mại và các trung gian tài
chính khác.
Giáo trình ngân hàng thương mại định nghĩa về ngân hàng thương mại
như sau: "Ngân hàng thương mại là các tổ chức tài chính cung cấp một danh
mục các dịch vụ tài chính đa dạng nhất - đặc biệt là tín dụng, tiết kiệm, dịch
vụ thanh toán - và thực hiện nhiều chức năng tài chính nhất so với bất kỳ một
tổ chức kinh doanh nào trong nền kinh tế ”. Theo cá nhân em thì ngân hàng
thương mại là một tổ chức kinh doanh tiền tệ, mà họat động chủ yếu
của nó là huy dộng tiền gửi, sử dụng số tiền đó để cho vay và cung cấp
các phương tiện thanh toán trong lĩnh vực tài chính.
Ngân hàng thương mại khác với các trung gian tài chính khác ở chỗ
ngân hàng thương mại là tổ chức kinh tế duy nhất được phép mở tài khoản
tiền gửi thanh toán và làm trung gian thanh toán trong nền kinh tế quốc dân.
1.1.2 Hoạt động chủ yếu của ngân hàng thương mại
1.1.2.1 Hoạt động huy động vốn
Các ngân hàng cũng giống như bất kỳ một doanh nghiệp nào trong
nền kinh tế để duy trì hoạt động và phát triển đều cần vốn. Nguồn vốn của
ngân hàng gồm có vốn tiền gửi, vốn tiền vay, vốn chủ sở hữu và vốn uỷ thác
đầu tư. Để thực hiện hoạt động này ngân hàng nhận tiền gửi, phát hành các
giấy nợ hoặc cổ phiếu với cam kết sẽ hoàn trả khách hàng đúng hạn kèm
4
theo một khoản tiền gọi là tiền lãi. Việc huy động được càng nhiều vốn sẽ
càng tạo điều kiện cho ngân hàng mở rộng kinh doanh do đó các ngân hàng
luôn tìm kiếm các nguồn vốn với chi phí thấp và ổn định, đa dạng hoá các
hình thức và lãi suất tiền gửi, giấy nợ nhằm thu hút được nhiều vốn trong
nền kinh tế.
1.1.2.2 Hoạt động sử dụng vốn
Đây là các hoạt động ngân hàng sử dụng nguồn vốn huy động được để
đầu tư hoặc cấp tín dụng. Hoạt động tín dụng chiếm tỷ trọng lớn trong tổng
tài sản của ngân hàng và là hoạt động mang lại nhiều lợi nhuận cho ngân
trung và dài hạn, cung cấp dịch vụ uỷ thác và tư vấn, cung cấp dịch vụ môi
giới đầu tư chứng khoán, bảo hiểm, dịch vụ đại lý... Các hoạt động này
mang lại nguồn thu nhập cho ngân hàng thông qua việc thu phí và chứa
đựng ít rủi ro. Do vậy các ngân hàng hiện đại ngày nay đang ra sức mở rộng
hoạt động dịch vụ nhằm tăng nguồn thu và giảm bớt rủi ro.
1.2 Cho vay tiêu dùng của ngân hàng thương mại
1.2.1 Khái niệm cho vay tiêu dùng
Tín dụng là loại tài sản chiếm tỷ trọng lớn nhất ở phần lớn các ngân
hàng thương mại, phản ánh hoạt động đặc trưng của ngân hàng. Tín dụng
ngân hàng được hiểu là quan hệ kinh tế trong đó ngân hàng chuyển cho chủ
thể khác trong nền kinh tế quyền sử dụng một lượng giá trị ( tiền hoặc tài
sản) với những điều kiện nhất định được thoả thuận trong hợp đồng.
6
Theo hình thức tài trợ, tín dụng được chia thành cho vay, bảo lãnh,
cho thuê, chiết khấu. Đây là cách phân loại phổ biến ở các ngân hàng thương
mại. Trong hoạt động tín dụng thì cho vay chiếm tỷ trọng lớn nhất và cũng
là tài sản mang lại thu nhập lớn nhất. Đây là một trong những nghiệp vụ
kinh doanh đầu tiên của ngân hàng thương mại và đến nay nó vẫn giữ được
vai trò quan trọng hàng đầu của mình. Tuy nhiên hoạt động này luôn gắn
liền với rủi ro. Vì thế cần thiết phải phân loại cho vay để có thể quản lý tốt
và hạn chế rủi ro.
Có thể phân loại theo thời gian, thì cho vay gồm có cho vay ngắn hạn, cho
vay trung hạn và cho vay dài hạn.
Có thể phân loại theo đảm bảo, thì cho vay gồm có cho vay có đảm bảo và
cho vay không đảm bảo.
Có thể phân loại theo mục đích sử dụng tiền vay, thì cho vay gồm có cho
vay sản xuất kinh doanh và cho vay tiêu dùng. Do đối tượng nghiên cứu của
đề tài là hoạt động cho vay tiêu dùng của ngân hàng thương mại nên chúng
ta sẽ chỉ xem xét về hoạt động này.
Cho vay tiêu dùng của ngân hàng thương mại là một hình thức tài trợ
năng trả nợ của cá nhân và hộ gia đình cũng khó khăn khăn hơn. Bởi đối
với các hãng kinh doanh, ngân hàng có thể thẩm định khả năng trả nợ thông
qua các báo cáo tài chính đã được kiểm toán, còn đối với người tiêu dùng
ngân hàng chỉ có thể dựa vào tài sản cá nhân, lương và các khoản thu nhập
8
khác. Để có được khoản vay, khách hàng có thể giấu các thông tin về tình
hình sức khoẻ và công việc trong tương lai của mình nên các ngân hàng rất
khó xác định được rủi ro khi cho vay tiêu dùng.
Vì các khoản cho vay tiêu dùng có rủi ro cao nhất nên các ngân hàng thường
yêu cầu phải có tài sản bảo đảm khi vay và yêu cầu người vay phải mua bảo
hiểm thất nghiệp, nhân thọ, bảo hiểm cho hàng hoá đã được mua.
Để bù đắp cho chi phí ( về thời gian và nhân lực để thẩm định, quản lý
các khoản vay với giá trị nhỏ nhưng số lượng lớn, chi phí trên một đơn vị
cho vay lớn ) và rủi ro cao mà ngân hàng có thể gặp phải khi cho vay tiêu
dùng, nên lãi suất cho vay tiêu dùng phần lớn đều cao hơn các khoản vay
khác của ngân hàng.
Việc cho vay tiêu dùng phụ thuộc vào sự tăng trưởng ổn định về thu
nhập và đảm bảo việc làm bởi nó cho phép người tiêu dùng mua được hàng
hoá và dịch vụ ngày hôm nay dựa trên thu nhập của ngày mai. Vì vậy khi
nền kinh tế có xu hướng mở rộng thì nhu cầu vay tiêu dùng tăng cao và
ngược lại khi nền kinh tế suy thoái nhu cầu vay tiêu dùng cũng bị giảm sút.
Thêm một đặc điểm khác của cho vay tiêu dùng là người vay thường
chỉ vay một lần, ít khi có nhu cầu vay lại; không giống như các khoản cho
vay thương mại: nhu cầu phát sinh theo chu kỳ sản xuất kinh doanh, lặp đi
lặp lại. Do đó nếu không có các giải pháp mở rộng cho vay tiêu dùng thì
ngân hàng sẽ dần mất đi nguồn khách hàng tiềm năng này.
1.2.3 Lợi ích của cho vay tiêu dùng trong ngân hàng thương mại
Cho vay tiêu dùng có từ rất sớm ngay từ những ngày đầu khi ngân
hàng mới hình thành, khi đó họ thực hiện cho vay với các cá nhân, chủ yếu
là những người giàu: quan lại, địa chủ, nhằm mục đích phục vụ tiêu dùng.
Không chỉ vậy, trên thị trường đó, ngân hàng thường được cho là
nhà cung cấp có khả năng cung ứng tốt nhất so với các nhà cung cấp
khác.Bởi so với các nguồn cung ứng vốn khác thì ngân hàng có những ưu
điểm hơn hẳn. Khi cần tiền để mua sắm, sửa chữa mà số tiền tự tích luỹ
không đủ, kênh vay tiền người ta thường nghĩ đến đầu tiên là vay mượn
người thân, bạn bè. Nhưng những người thân, bạn bè thường chỉ đồng ý cho
vay món tiền nhỏ, do họ cũng không có năng lực tài chính lớn và họ không
chắc chắn về khả năng trả nợ của bạn. Vì thông thường người quen cho nhau
vay tiền thường không yêu cầu phải có tài sản đảm bảo cho món vay đó, và
cũng không có được hợp đồng vay nợ chặt chẽ nhằm đảm bảo thu hồi món
vay. Khi có nhu cầu vay số tiền lớn, khó có thể nhờ cậy vào những người
quen, bạn bè. So với các trung gian tài chính khác, ngân hàng thương mại có
khả năng thẩm định tín dụng tốt do có cán bộ thông thạo nghiệp vụ, có mạng
lưới thu thập thông tin rộng lớn, có khả năng tài chính vững mạnh có thể
đáp ứng mọi nhu cầu vay của khách hàng. Không chỉ vậy, đến với ngân
hàng các khách hàng có thể nhận được sự tư vấn của các nhân viên ngân
hàng, cùng khách hàng tháo gỡ khó khăn do họ là những người am hiểu về
thị trường và khách hàng còn được cung cấp nhiều dịch vụ tiện ích khác nữa
như là dịch vụ tiền gửi, thanh toán…
Cho vay tiêu dùng mang lại nhiều lợi ích cho ngân hàng. Mặc dù hoạt
động cho vay tiêu dùng chứa đựng nhiều rủi ro nhưng chính điều đó lại
mang lại lợi nhuận lớn cho ngân hàng. Ngân hàng có thể ngăn ngừa và hạn
chế rủi ro bằng cách đưa ra những quy chế cho vay chặt chẽ và thẩm định kỹ
càng. Mặt khác tài trợ cho tiêu dùng là ngân hàng gián tiếp tài trợ cho sản
11
xuất. Khi tiêu dùng được đẩy mạnh thì hoạt động sản xuất sẽ tăng lên do đó
gia tăng nhu cầu vay kinh doanh và hoạt động cho vay kinh doanh của ngân
hàng cũng được mở rộng. Như vậy, ngân hàng cung cấp sản phẩm cho vay
tiêu dùng không chỉ đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của khách hàng mà còn đáp
ứng chính nhu cầu đa dạng hóa sản phẩm của ngân hàng, thu thập nhiều
Theo
hình
thức
bảo
đảm
Cho
vay
tiêu
dùng
Có đảm bảo
Không đảm bảo
Trả một lần
Trả góp
Trả tuần hoàn
Trực tiếp
Gián tiếp
13
trung hạn.
Cho vay tiêu dùng thường yêu cầu có tài sản đảm bảo, do đó theo tiêu thức
này cho vay tiêu dùng được chia thành hai loại :
Loại 1: là các tài sản thuộc sở hữu hoặc sử dụng lâu bền của khách
hàng hoặc đảm bảo của bên thứ 3 cho khách hàng của ngân hàng. Những
đảm bảo này không được hình thành từ khoản tín dụng của chính ngân hàng.
Có thể chia các hình thức đảm bảo của loại này thành hai loại nhỏ sau.
Cho vay cầm cố. Đây là hình thức ngân hàng cho khách hàng vay tiền với
điều kiện là khách hàng phải chuyển quyền kiểm soát tài sản đảm bảo sang
cho ngân hàng trong thời gian đã cam kết. Danh mục và điều kiện của tài sản
cầm đồ được ngân hàng qui định cụ thể dựa trên quy định của pháp luật và
chính sách tín dụng của từng ngân hàng. Các tài sản cầm cố thường là các tài
sản mà ngân hàng có thể kiểm soát và bảo quản tương đối chắc chắn, đồng
Nếu phân theo cách thức hoàn trả, cho vay tiêu dùng có thể được phân
thành ba loại : cho vay tiêu dùng trả một lần, cho vay trả góp, và cho vay
tuần hoàn.
Cho vay tiêu dùng trả một lần. Theo cách này, khách hàng thanh toán cho
ngân hàng một lần khi đến hạn và thường áp dụng cho những món vay giá
trị nhỏ, thời hạn cho vay ngắn.
Cho vay tiêu dùng trả góp. Đây là hình thức trong đó khách hàng sẽ trả nợ
cho ngân hàng thành hai hay nhiều lần liên tiếp theo những kỳ hạn nợ nhất
15
định trong thời hạn vay. Hình thức này được sử dụng phổ biến đối với
những khoản vay có giá trị lớn, thu nhập thường xuyên của người nhận tài
trợ không đủ để thanh toán hết một lần số tiền vay. Để được nhận tài trợ
khách hàng phải trả trước một phần giá trị tài sản mua sắm. Số tiền trả trước
phụ thuộc vào khả năng tài chính của người vay, loại tài sản, thị trường tiêu
thụ tài sản sau khi sử dụng. Phần còn thiếu ngân hàng sẽ cho vay. Điều này
có tác dụng làm cho khách hàng cảm thấy tài sản đó thuộc sở hữu của mình
do đó thúc đẩy họ bảo quản tài sản và nỗ lực trả nợ đồng thời giúp hạn chế
rủi ro tín dụng cho ngân hàng.
Tổng số tiền lãi mà khách hàng phải trả khi vay trả góp lớn hơn số tiền lãi
đối với món vay trả một lần. Sở dĩ như vậy vì vay trả góp chứa đựng nhiều
rủi ro hơn do có thời hạn dài hơn nên ngân hàng phải tính lãi cao hơn để có
lợi nhuận bù đắp được rủi ro.
Cho vay tiêu dùng tuần hoàn. Trong thời gian đã thoả thuận căn cứ vào
nhu cầu chi tiêu và thu nhập từng thời kỳ khách hàng thực hiện vay và trả nợ
nhiều kỳ một cách tuần hoàn. Dư nợ tại một thời kỳ hoặc tổng dư nợ trong
kỳ không được vượt quá giới hạn tối đa cho phép. Khách hàng rất thuận tiện
khi sử dụng hình thức này vì chỉ phải làm thủ tục vay một lần, nhưng có thể
vay nhiều lần nhằm tài trợ cho nhu cầu vay thường xuyên, không xác định
trước.
Cho vay theo thẻ tín dụng, cho vay thấu chi tuần hoàn là các hình thức
1
3
4
5
5-Người tiêu dùng thanh toán tiền trả góp cho Ngân hàng.
Cho vay tiêu dùng gián tiếp có một số ưu điểm sau:
Cho phép Ngân hàng dễ dàng tăng doanh số cho vay tiêu dùng, tiết kiệm,
giảm được chi phí trong cho vay. Giúp ngân hàng mở rộng quan hệ với
khách hàng và các hoạt động ngân hàng khác.
Bên cạnh những ưu điểm thì cho vay tiêu dùng gián tiếp cũng có
những nhược điểm như: ngân hàng không tiếp xúc trực tiếp với người tiêu
dùng đã được công ty bán lẻ bán chịu do đó ngân hàng không kiểm soát
được việc lựa chọn khách hàng của công ty bán lẻ nên rủi ro khách hàng
không trả được nợ cao. Nghiệp vụ cho vay tiêu dùng gián tiếp có tính phức
tạp đòi hỏi trình độ chuyên môn của cán bộ tín dụng cao. Do đó thường chỉ
có các ngân hàng lớn mới áp dụng hình thức này. Các ngân hàng nhỏ thường
ưa thích hình thức cho vay tiêu dùng trực tiếp.
Cho vay tiêu dùng trực tiếp là hình thức trong đó ngân hàng tiếp xúc
với khách hàng, cho khách hàng vay và thu nợ trực tiếp từ người vay. Quá
trình cho vay tiêu dùng trực tiếp có thể tóm tắt qua sơ đồ sau:
1- Ngân hàng và người tiêu dùng ký hợp đồng vay.
2- Người tiêu dùng trả trước một phần tiền mua hàng cho công ty
18
Ngân hàng
Người tiêu
dùng
Người
bán lẻ
1
3
tăng lên. Nhìn chung, lãi suất cho vay tiêu dùng được xác định sao cho ngân
hàng có thể bù đắp được tổn thất có thể xảy ra khi cho vay và mang lại lợi
nhuận cho ngân hàng.
Lãi suất cho vay= Lãi suất + chi phí + thuế + thu nhập + phần
tiêu dùng huy động hoạt động dự tính bù rủi ro
Thứ nhất, lãi suất huy động ở đây là lãi suất huy động bình quân mà
ngân hàng trả cho nguồn huy động bao gồm lãi suất tiền gửi giao dịch, lãi
suất tiết kiệm, lãi suất chiết khấu, lãi suất vay NHTW...
Thứ hai, ngân hàng phải tính đến các chi phí quản lý trên như lương,
tiền điện nước, khấu hao, chi phí giấy tờ. Các chi phí này được tính theo tỷ
lệ phần trăm trên quy mô của sản phẩm.
Thứ ba, các ngân hàng là các doanh nghiệp kinh doanh tiền tệ và phải
nộp các loại thuế theo quy định của pháp luật.
Thứ tư, ngân hàng dự tính thu nhập sau thuế để đảm bảo lợi ích kỳ
vọng của các chủ sở hữu.
Thứ năm, ngân hàng tổng hợp tổn thất có thể xảy ra đối với các sản
phẩm như khách hàng không trả được nợ, tiền giả, kinh doanh thua lỗ... dựa
trên thống kê kinh nghiệm của kỳ trước đó và dự đoán xu hướng sắp tới.
Phần bù rủi ro được dự đoán dựa trên tỷ lệ phần trăm quy mô của sản phẩm.
Phương pháp tính lãi phổ biến được các ngân hàng sử dụng trong hoạt động
tín dụng là phương pháp lãi đơn. Đây là là phương pháp tính lãi trong đó số
tiền lãi tỷ lệ thuận tuyến tính với thời gian vay vốn thực tế. Phương pháp lãi
đơn tính số tiền lãi khách hàng phải trả dựa trên số dư nợ thực tế tại từng
thời kỳ thanh toán của khách hàng.
20
Công thức tính lãi đơn như sau:
Lãi phải trả = dư nợ đầu kỳ x lãi suất x thời gian
Số tiền phải trả cuối kỳ ( nợ gốc và lãi ) sẽ được xác định tuỳ vào cách thức
khách hàng lựa chọn để trả nợ.
Nếu khách hàng trả một lần ( cả gốc và lãi ) vào cuối kỳ thì đến kỳ trả nợ
việc tiêu dùng của mình. Số tiền này được gọi là nhu cầu vốn của khách
hàng. Ngân hàng xẽ xem xét nhu cầu này có hợp lý hay không dựa trên giá
trị thị trường của tài sản cần mua hay tổng số tiền cần thiết để tài trợ cho
hoạt động tiêu dùng của khách hàng ( gọi là nhu cầu vốn hợp lý). Khách
hàng cung cấp cho ngân hàng biết thông tin chi tiết và chính xác về số vốn
tự có của mình hoặc số tiền đã trả trước cho công ty bán lẻ, số tiền còn thiếu
cần phải vay. Thông thường các ngân hàng thường yêu cầu người tiêu dùng
phải trả trước một phần giá trị của tài sản. Sau đó ngân hàng sẽ tính toán
nhu cầu vay hợp lý của khách hàng = nhu cầu vốn hợp lý- vốn tự có của
khách hàng- vốn khách hàng vay mượn từ nguồn khác.
Đối với các hình thức vay, các ngân hàng thường quy định các hạn
mức khác nhau dựa trên giá trị tài sản đảm bảo hoặc nhu cầu vay hợp lý.
Thông thường, cho vay cầm cố có hạn mức cao nhất. Chẳng hạn như khách
hàng vay cầm cố sổ tiết kiệm hay trái phiếu có thể được cấp một hạn mức
lên tới 90% giá trị của tài sản cầm cố. Để có thể xác định được hạn mức tín
dụng dựa trên tài sản đảm bảo của khách hàng thì ngân hàng cần phải định
giá chính xác giá trị các tài sản đó. Nếu định giá quá thấp sẽ làm giảm khả
năng vay của khách, nếu định giá quá cao sẽ dễ dẫn đến rủi ro cho ngân
hàng.
Cuối cùng, ngân hàng sẽ so sánh nhu cầu vay hợp lý và hạn mức tín dụng, để
xác định số tiền có thể cho vay. Nếu nhu cầu vay hợp lý > hạn mức tín dụng
thì ngân hàng sẽ cho khách hàng vay theo hạn mức tín dụng. Nếu nhu cầu
vay hợp lý < hạn mức tín dụng thì ngân hàng sẽ cho khách hàng vay số tiền
22
theo nhu cầu vay hợp lý của khách. Như vậy vừa để thoả mãn nhu cầu vay
của khách hàng vừa để đảm bảo an toàn cho ngân hàng.
Để làm cho phần lý thuyết trên thêm sáng tỏ, chúng ta sẽ lấy 1 ví dụ sau.
Giả sử 1 khách hàng muốn mua một chiếc xe ô tô mới của hãng
Honda (chiếc Civic chẳng hạn) với giá là 450.000.000. Khách hàng có số
tiền là 150.000.000 và một sổ tiết kiệm trị giá 400.000.000 nhưng 6 tháng
có ý thức rõ ràng về trách nhiệm phải hoàn trả đầy đủ và đúng hạn các khoản
nợ.
Thẩm định mục đích sử dụng tiền vay. Đây là một trong những nguyên tắc
khi cho vay của ngân hàng, ngân hàng cho vay đúng mục đích. Khách hàng
được phép vay để tiêu dùng những tài sản, hàng hoá mà pháp luật không
cấm và phù hợp với chính sách tín dụng của từng ngân hàng.
Thẩm định tình hình tài chính và khả năng thanh toán. Nội dung này
bao gồm: Xác định mức thu nhập, việc làm, số dư các tài khoản tiền gửi và
nơi cư trú. Việc xác định nguồn thu nhập ổn định hàng tháng của khách hàng
có ý nghĩa rất quan trọng vì đây là nguồn trả nợ cho ngân hàng. Những
khách hàng có thu nhập ổn định và thu nhập còn lại sau khi trừ các khoản
chi phí sinh hoạt cần thiết cao sẽ được đánh giá cao. Cán bộ tín dụng cũng
đồng thời xác minh lại thông tin ở cơ quan nơi khách hàng làm việc để đánh
giá độ chính xác của mức thu nhập, độ dài thời gian làm việc, nơi cư trú và
số sổ bảo hiểm xã hội ghi trên đơn xin vay. Cán bộ tín dụng cũng kiểm tra số
24
dư các tài khoản tiền gửi của khách ( nếu có ) qua các ngân hàng có liên
quan. Thời gian sống tại nơi cư trú hiện tại cũng thường được coi trọng vì
nếu khoảng thời gian một người sống tại một nơi càng lâu thì có thể tin rằng
cuộc sống của người đó càng ổn định. Còn nếu một người thường xuyên
thay đổi chỗ ở thì sẽ là một yếu tốt bất lợi cho ngân hàng khi quyết định cho
vay.
Thẩm định tài sản đảm bảo. Trước hết, cán bộ tín dụng sẽ kiểm tra
quyền sở hữu hoặc sử dụng hợp pháp tài sản của khách hàng, khả năng
chuyển nhượng của tài sản. Đối với tài sản đảm bảo cán bộ tín dụng thường
chú ý triển vọng của thị trường bất động sản cũng như sự ổn định giá trị của
tài sản trong trường hợp phải phát mại tài sản đảm bảo. Định giá tài sản đảm
bảo cũng là một việc rất quan trọng trong khi thẩm định. Cuối cùng ngân
hàng xem xét khả năng bảo quản tài sản của người đi vay, hợp đồng bảo
hiểm trong trường hợp vay thế chấp. Nếu tài sản thế chấp không được duy