LỜI MỞ ĐẦU
Từ khi nền kinh tế nước ta đang chuyển biến từ cơ chế quản lý kế hoạch hoá tập chung
sang cơ chế thị trường theo định hướng XHCN, với sự điều tiết vĩ mô của nhà nước. Đây là
bước ngoặt quyết định đối với sự phát triển của đất nước. Chế độ tự chủ về tài chính được
xác lập, mỗi doanh nghiệp là một đơn vị hoạch toán kinh tế độc lập và chịu trách nhiệm về
kết quả hoạt động kinh doanh của mình. Trong bối cảnh chung đó, ngành ngân hàng được
xác định là “huyết mạch” của nền kinh tế đã có những chuyển biến và những tiến bộ rõ nét
cả về tổ chức hoạt động và trình độ nghiệp vụ đóng góp đáng kể vào sự phát triển chung
của đất nước.
Nền kinh tế thị trường hiện nay, mức độ cạnh tranh ngày càng trở nên gay gắt, ngành
ngân hàng cũng không tránh khỏi những qui luật đó, không những cạnh tranh giữa các ngân
hàng thương mại quốc doanh với nhau mà còn cạnh tranh với ngân hàng liên doanh nước
ngoài và các tổ chức tín dụng ngoài quốc doanh khác. Các ngân hàng lấy hiệu quả kinh tế
làm thước đo, làm mục tiêu để phấn đấu. Lợi nhuận luôn là mục tiêu đưa lên hàng đầu,
được coi là chỉ tiêu chất lượng tổng hợp đánh giá hiệu quả hoạt động kinh doanh. Muốn
xác định được lợi nhuận các nhà quản trị ngân hàng phải tính toán và phân tích được mọi
khoản thu nhập, chi phí phát sinh trong quá trình hoạt động nhằm phát hiện ra các “mảnh
đất màu mỡ” có khả năng mang lại lợi nhuận cao, hạn chế chi phí bất hợp lý và thực hiện
tốt chế độ hoạch toán kinh tế.
Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam là doanh nghiệp nhà nước
giữ vai trò chủ đạo trong cung ứng vốn cho nông nghiệp và nông thôn đáp ứng sự nghiệp
công nghiệp hoá và hiện đại hoá đất nước. Với tư cách là một đơn vị hoạch toán độc lập,
kết quả kinh doanh được xác định trong toàn hệ thống, NHNo&PTNT Việt Nam cần xác
định được một cơ chế tài chính rõ ràng để khai thác nguồn thu, giảm chi phí, nâng cao hiệu
quả hoạt động kinh doanh. Có như vậy NHNo&PTNT Việt Nam mới phát huy và trở thành
hệ thống ngân hàng có đủ sức cạnh tranh, thắng trong cạnh tranh.
Vì vậy, trong thời gian tới làm thế nào tìm ra giải pháp để giảm bớt thời gian, nâng cao
tính chính xác trong việc phân tích tài chính và hoạt động kinh doanh của NHNo&PTNT là
một vấn đề rất quan trọng. Nhận thức được điều đó, qua thời gian thực tập và làm việc tại
1
Chi nhánh NHNo&PTNT Thăng Long đồng thời được sự giúp đỡ, hướng dẫn tận tình của
Có thể phân chia quá trình đó thành 3 thời kỳ:
* Thời kỳ trước 1988, NHNo là một bộ phận trong NHNN hoạt động hoàn toàn
mang tính hành chính bao cấp.
* Thời kỳ 1988-1990, với Nghị định 53/HĐBT ngày 26 tháng 3 năm 1988 của Hội
đồng bộ trưởng đã tách hệ thống ngân hàng từ một cấp thành ngân hàng 2 cấp là Ngân
hàng Nhà nước và các Ngân hàng chuyên doanh. Trên 80% vốn vay của NHNo là vốn
vay của NHNN. Đối tượng cho vay là những doanh nghiệp kinh tế quốc doanh cấp
huyện tỉnh và một số hợp tác xã nông nghiệp theo mô hình cũ.
* Thời kỳ 1990 đến nay, cùng với việc ban hành pháp lệnh Ngân hàng, Hợp tác xã
tín dụng, công ty Tài chính (24/5/1990) và hàng loạt các nghị định, quyết định của
Chính phủ được ban hành trong đó có quyết định công nhận NHNo&PTNT Việt Nam
là doanh nghiệp Nhà nước được xếp hạng đặc biệt. Đây là bước ngoặt quan trọng nhất
để NHNo thực sự trở thành ngân hàng thương mại có tư cách pháp nhân, hạch toán
độc lập, tự chịu trách nhiệm về tài chính. Năm 1990, khi bắt đầu hạch toán độc lập,
với 52 chi nhánh ngân hàng tỉnh và thành phố, 447 chi nhánh huyện, thị xã, 193 phòng
3
giao dịch và hơn 7000 đại lý làm uỷ nhiệm huy động vốn tiết kiệm ở nông thôn, 78
cửa hàng kinh doanh vàng bạc và hơn 32000 nhân viên quản lý, với 1.561 tỷ đồng vốn
nhận từ thời kỳ bao cấp bàn giao, trong đó có dư nợ của doanh nghiệp Nhà nước
chiếm 92%, các hợp tác xã nông nghiệp chỉ có 6%, cá thể 2%. Nợ bị khê đọng khó đòi
lên tới trên 800 tỷ đồng, chiếm trên 51% tổng số vốn. Vì vậy lúc ấy nhiều người gọi
Ngân hàng nông nghiệp là Ngân hàng 10 nhất: Thiếu vốn nhất, đông người nhất, chi
phí kinh doanh cao nhất, dư nợ thấp nhất, nợ quá hạn nhiều nhất, cơ sở hạ tầng lạc hậu
nhất, tổn thất rủi ro cao nhất, trình độ nghiệp vụ yếu kém nhất, kinh doanh thua lỗ
nhất, đời sống khó khăn nhất, tín nhiệm khách hàng thấp nhất.
Trải qua những năm tháng vật lộn trong cơ chế thị trường vượt qua bao khó khăn
chồng chất, phấn đấu không ngừng đổi mới, NHNo VN đã trở thành một ngân hàng
thương mại quốc doanh đa năng có quy mô vào loại lớn nhất Việt Nam, là hệ thống
ngân hàng duy nhất có mạng lưới tổ chức rộng khắp trong phạm vi toàn quốc. Dư nợ
đạt 24.730 tỷ đồng năm 1997 (gấp hơn 16 lần năm 1990). Khách hàng của NHNo VN
2008 Agribank vẫn tiếp tục tuyển dụng thêm 3.000 cán bộ vừa đóng góp giải quyết
công ăn việc làm cho xã hội vừa bổ sung cho Agribank một nguồn nhân lực trẻ, tài
năng, đầy nhiệt huyết.
Cùng với các hoạt động trong nước, Agribank chú trọng mở rộng và khai thác
hiệu quả các mối quan hệ quốc tế: thu hút và triển khai hàng trăm dự án đầu tư nước
ngoài cho nông nghiệp, nông thôn với tổng số vốn gần 4 tỷ USD được các tổ chức tài
chính quốc tế như WB, ADB, AFD, .. đánh giá cao. Kinh doanh ngoại hối, Thanh toán
quốc tế liên tục phát triển mạnh, doanh số thanh toán quốc tế đạt 10,7 tỷ USD, doanh
số kinh doanh ngoại tệ đạt 26,1 tỷ USD. Nhiều đại sứ, lãnh đạo cấp cao của các ngân
hàng lớn trên thế giới, các tổ chức phi Chính phủ đến thăm và làm việc, ký kết hợp tác
với Agribank. Agribank có quan hệ đại lý với 979 ngân hàng tại 113 quốc gia. Tổng
nguồn vốn cho đến nay đạt 280.372 tỷ đồng. Agribank đã tham gia đồng tài trựo các
dự án lớn của quốc gia thuộc các ngành kinh tế mũi nhọn như: Bưu chính viễn thông,
Điện lực, Hàng hải, Hàng Không, Dầu khí và xây dựng,…
Xác định trách nhiệm trước cộng đồng, xã hội, Agribank làm tốt công tác từ thiện
như : Xây dựng quỹ đền ơn đáp nghĩa; Quỹ vì người nghèo; ủng hộ đồng bào gặp
thiên tai, lũ lụt; tài trợ các chương trình từ thiện; xây dựng nhà tình nghĩa, nuôi dưỡng
bà mẹ Việt Nam anh hùng;…Đến cuối năm 2008, tổng quỹ đóng góp từ thiện xã hội
của cán bộ toàn hệ thống đã lên tới 95 tỷ đồng. Năm 2008, Agribank đã được Chính
phủ tặng Bằng khen về những thành tích trong việc thực hiện kiềm chế lạm phát và
nhiều phần thưởng cao quý, lọt vào Top 10 thương hiệu Việt Nam uy tín nhất của giải
Sao vàng Đất Việt, Doanh nhân Việt Nam tiêu biểu, Top 5 Ngân hàng giao dịch tiện
5
ích nhất, là Thương hiệu nổi tiếng theo tín nhiệm của người tiêu dùng, Doanh nghiệp
bền vững trong thời kỳ hội nhập.
Vừa qua, UNDP đã công nhận Agribank doanh nghiệp số 1 nằm trong Top 200
doanh nghiệp lớn nhất Việt Nam và vinh dự được Chủ tịch nước phong tặng danh hiệu
“Anh hùng lao động thời kỳ đổi mới”. Mục tiêu đến 2010 của Agribank là phấn đấu
nguồn vốn tăng trưởng bình quân đạt 20-22%/năm, thực hiện cổ phần hóa, tiến tới xây
dựng thành Tập đoàn tài chính.
đồng Quản trị NHNo&PTNT Việt nam về việc chuyển và đổi tên Sở giao dịch
NHNo&PTNT I thành Chi nhánh NHNo&PTNT Thăng Long;
Để nhanh chóng xây dựng thương hiệu kinh doanh mới, đồng thời phát huy lợi thế của
Chi nhánh cấp I, Ban Giám đốc đã có nhiều giải pháp năng động, sáng tạo. Qua các năm
hoạt động, Chi nhánh NHNo&PTNT Thăng Long đã trưởng thành và phát triển về nhiều
mặt.
Về mặt Nhân sự: Tổng số lao động của Chi nhánh NHNo&PTNT Thăng Long, tính đến
thời điểm 31/12/2005 là 254 người, mạng lưới gồm 01 trụ sở chính; 09 Chi nhánh Ngân
hàng cấp 2; 02 Phòng Giao dịch trực thuộc Chi nhánh NHNo&PTNT Thăng Long và 06
Phòng giao dịch trực thuộc Chi nhánh chi nhánh cấp 2. Hiện tại, Chi nhánh NHNo&PTNT
Thăng Long đang tiếp tục mở rộng thị phần của mình trên toàn địa bàn Thành phố Hà Nội,
đặc biệt là các khu vực đông dân cư, các quận mới thành lập nhằm thu hút nguồn khách
hàng tiềm năng và để thực hiện tốt nhiệm vụ kinh doanh mà Ngân hàng Nông nghiệp và
Phát triển Nông thôn Việt Nam giao. Đến thời điểm 31/12/2007, Chi nhánh
NHNo&PTNT Thăng Long có 285 cán bộ biên chế.
2.1- Cơ cấu tổ chức của Chi nhánh NHNo&PTNT Thăng Long.
Để tạo điều kiện phù hợp với hoạt động kinh doanh của mình. Thực hiện tốt nhiệm vụ
mà NHNo&PTNT Việt nam giao phó, Chi nhánh NHNo&PTNT Thăng Long đã xắp xếp tổ
chức bộ máy gọn nhẹ bao gồm một Giám đốc, ba phó Giám đốc và 11 phòng (tổ) chuyên
môn nghiệp vụ. Có 09 Chi nhánh ngân hàng cấp 2 và 02 Phòng giao dịch trực thuộc Chi
nhánh NHNo&PTNT Thăng Long và 06 Phòng giao dịch trực thuộc Chi nhánh chi nhánh
cấp 2. Gồm có 285 cán bộ, nhân viên .
Chi nhánh NHNo&PTNT Thăng Long là ngân hàng thương mại quốc doanh. Hoạt động
kinh doanh trên lĩnh vực tiền tệ tín dụng, dịch vụ ngân hàng đối với cá nhân và doanh
nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế trong và ngoài nước. Để thực hiện nhiệm vụ mà ngân
hàng TW giao phó đến nay cơ cấu tổ chức đã được biên chế một cách phù hợp với cơ cấu
tổ chức như sau:
7
2.1.1. Ban Giám đốc.
- Giám đốc người đại diện trực tiếp của Tổng Giám đốc NHNo&PTNT Việt Nam tại
b.2. Phòng Tín dụng.
9
- Nghiên cứu xây dựng chiến lược khách hàng tín dụng, phân loại khách hàng và đề
xuất các chính sách ưu đãi đối với từng loại khách hàng nhằm mở rộng theo hướng đầu tư
tín dụng khép kín: sản xuất, chế biến tiêu thụ, xuất khẩu và gắn tín dụng sản xuất, lưu thông
và tiêu dùng.
- Phân tích kinh tế theo nghành, nghề kỹ thuật, danh mục khách hàng lựa chọn biện
pháp cho vay an toàn và đạt hiệu quả cao.
- Tiếp nhận và thực hiện các chương trình dự án thuộc nguồn vốn trong nước, nước
ngoài. Trực tiếp làm dịch vụ ủy thác nguồn vốn thuộc Chính phủ, Bộ, ngành khác và các tổ
chức kinh tế, cá nhân trong và ngoài nước.
- Xây dựng và thực hiện các mô hình tín dụng thí điểm, thử nghiệm trong địa bàn đồng
thời theo dõi, đánh giá, sơ kết, tổng kết, đề xuất Giám đốc.
- Thường xuyên phân loại dư nợ, phân tích nợ quá hạn, tìm nguyên nhân và đề xuất
hướng giải quyết.
- Giúp Giám đốc chỉ đạo, kiểm tra hoạt động tín dụng của các chi nhánh trực thuộc trên
địa bàn.
- Tổng hợp báo cáo và kiểm tra chuyên đề theo quy định.
- Thực hiện các nhiệm vụ khác do Giám đốc Chi nhánh NHNo&PTNT Thăng Long
giao.
b.3. Phòng Kế toán.
- Trực tiếp hạch toán kế toán, hạch toán thống kê và thanh toán theo quy định của
NHNo&PTNT Việt Nam, Ngân hàng Nhà nước.
- Xây dựng chỉ tiêu kế hoạch tài chính, quyết toán kế hoạch thu, chi tài chính, quỹ tiền
lương của Chi nhánh NHNo&PTNT Thăng Long trình Ngân hàng Nông nghiệp & phát
triển Nông thôn Việt Nam phê duyệt.
- Quản lý và sử dụng các quỹ chuyên dùng theo quy định của Ngân hàng Nông nghiệp
trên địa bàn.
- Tổng hợp, lưu trữ hồ sơ tài liệu về hạch toán, kế toán, quyết toán và các báo cáo theo
quy định.
- Trực tiếp quản lý con dấu của chi nhánh; thực hiện công tác hành chính văn thư, lễ
tân, phương tiện giao thông, bảo vệ, y tế của Chi nhánh NHNo&PTNT Thăng Long.
- Thực hiện công tác cơ bản, sửa chữa, TSCĐ, mua sắm công cụ lao động, quản lý nhà
tập thể, nhà khách nhà nghỉ của cơ quan.
- Thực hiện công tác thông tin, tuyên truyền quảng cáo tiếp thị theo chỉ đạo của ban
lãnh đạo Chi nhánh NHNo&PTNT Thăng Long.
- Đầu mối trong việc chăm lo đời sống vật chất, văn hoá tinh thần và thăm hỏi ốm đau,
hiếu, hỷ cán bộ, nhân viên.
11
- Thực hiện nhiệm vụ khác khi được Giám đốc Chi nhánh NHNo&PTNT Thăng Long
giao.
b.6. Phòng Tổ chức Cán bộ và Đào tạo.
- Xây dựng quy dịnh lề lối làm việc trong đơn vị và mối quan hệ với tổ chức Đảng,
Công đoàn, Chi nhánh trực thuộc trên địa bàn.
- Đề xuất mở rộng mạng lưới kinh doanh trên địa bàn.
- Đề xuất định mức lao động, giao khoán quỹ tiền lương đến các chi nhánh trực thuộc
theo quy chế khoán tài chính của NHNo&PTNT Việt Nam.
- Thực hiện công tác quy hoạch cán bộ, đề xuất cử cán bộ, nhân viên đi công tác, học
tập trong và ngoài nước. Tổng hợp theo dõi thường xuyên cán bộ, nhân viên được quy
hoạch, đào tạo.
- Đề xuất, hoàn thiện và lưu trữ hồ sơ theo đúng quy định của Nhà nước, Đảng, ngành
Ngân hàng trong vịêc bổ nhiệm, miễn nhịêm, khen thưởng kỷ lụât cán bộ nhân viên trong
phạm vi phân cấp uỷ quyền của Tổng Giám đốc Ngân hàng Nông nghiệp & phát triển Nông
thôn Việt Nam.
- Trực tiếp quản lý hồ sơ cán bộ trực thuộc Chi nhánh NHNo&PTNT Thăng Long quản
lý và hoàn tất hồ sơ, chế độ đối với cán bộ nghỉ hưu, nghỉ chế độ theo quy định của Nhà
nước, của ngành Ngân hàng.
- Thực hiện công tác thi đua khen thưởng của Chi nhánh NHNo&PTNT Thăng Long.
- Chấp hành công tác báo cáo thống kê, kiểm tra chuyên đề.
- Thực hiện các nhiệm vụ khác do Giám đốc Chi nhánh NHNo&PTNT Thăng Long
Long giao.
b.9.Phòng Thanh toán Quốc tế.
- Tư vấn cho khách hàng, tham mưu cho lãnh đạo về nghiệp vụ Thanh toán Quốc tế.
- Xây dựng kế hoạch ngắn hạn và trung hạn, các phương án, đề án để quản lý, thực
hiện việc kinh doanh trong lĩnh vực Thanh toán Quốc tế hoặc những vấn đề về nghiệp vụ
Thanh toán Quốc tế theo đúng đường lối, chính sách, chủ trương của Đảng và Nhà nước.
- Nghiên cứu xây dựng chiến lược khách hàng, phân loại khách hàng và đề xuất các
chính sách ưu đãi đối với từng loại khách hàng nhằm mở rộng hoạt động giao dịch, thanh
toán ngoại tệ.
- Đầu mối thực hiện thông tin phòng ngừa rủi ro, xử lý rủi ro trong hoạt động kinh
doanh ngoại tệ.
- Thực hiện đúng quy định về quản lý lưu trữ hồ sơ tài liệu, thống kê số liệu; cung cấp
tài liệu, số liệu thanh toán theo yêu cầu của lãnh đạo.
- Tổng hợp báo cáo và kiểm tra chuyên đề theo định kỳ hoặc đột xuất do Giám đốc yêu
cầu.
13
- Giúp Giám đốc chỉ đạo, kiểm tra hoạt động Thanh toán Quốc tế của các chi nhánh trực
thuộc trên địa bàn.
- Thực hiện các nhiệm vụ khác do Giám đốc Chi nhánh NHNo&PTNT Thăng Long
giao.
b.10.Tổ Tiếp thị
- Đề xuất kế hoạch tiếp thị, thông tin, tuyên truyền, quảng bá, đặc biệt là các hoạt động
của chi nhánh các dịch vụ, sản phẩm cung ứng trên thị trường.
- Triển khai các phương án tiếp thị, thông tin, tuyên truyền theo chỉ đạo của
NHNo&PTNT Việt Nam và Giám đốc Chi nhánh.
- Xây dựng kế hoạch quảng bá thương hiệu, thực hiện văn hoá doanh nghiệp, lập
chương trình phối hợp với cơ quan báo chí truyền thông, quảng bá hoạt động của chi nhánh
và của NHNo&PTNT Việt Nam.
- Đầu mối trình Giám đốc chỉ đạo hoạt động tiếp thị, thông tin, tuyên truyền đối với các
đơn vị phụ thuộc.