Mở rộng cho vay tiêu dùng tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Chi nhánh Trực Ninh - Pdf 10

Chuyên đề thực tập tốt nghiệp GVHD: PGS.TS. Hoàng Xuân Quế
MỤC LỤC
1.3.2.Quản trị rủi ro trong hoạt động cho vay tiêu dùng ................................................. 10
Vũ Văn Tuấn Lớp Tài chính doanh nghiệp 48B

Chuyên đề thực tập tốt nghiệp GVHD: PGS.TS. Hoàng Xuân Quế
LỜI MỞ ĐẦU
Sau 20 năm đổi mới kể từ Đại hội Đảng VI năm 1986,đất nước ta đã đạt được
nhiều thành tựu to lớn,đặc biệt là trong lĩnh vực kinh tế. Nền kinh tế nước ta không
ngừng phát triển và lớn mạnh, chính vì thế đời sống người dân ngày càng nâng cao
hơn nên nhu cầu sinh hoạt,mua sắm và tiêu dùng vì thế cũng tăng lên nhanh
chóng.Nắm bắt được xu hướng đó, các ngân hàng Việt Nam đã tích cực phát triển
hoạt động cho vay tiêu dùng nhằm đạt được mục tiêu kinh doanh cũng như góp phần
vào sự phát triển chung của nền kinh tế.Ngoài ra do sự đa dạng hóa của nền kinh tế
đã tạo nên sự cạnh tranh và hội nhập của nền kinh tế nên ngành ngân hàng phải
không ngừng phát triển và tìm kiếm những hướng đi mới phù hợp để vừa có thể đáp
ứng ngày càng tốt hơn nhu cầu của khách hàng vừa đứng vững trong cơ chế thị
trường.Chính vì thế phương thức mở rộng cho vay tiêu dùng mang tính chiến lược để
phát triển nền kinh tế.vì lợi ích mà nó mang lại cho ngân hàng là rất lớn và thuận tiện
cho người tiêu dùng.Vì thế phương thức mở rộng cho vay tiêu dùng có ý nghĩa rất
quan trọng trong ngân hàng
Trong thời gian thực tập tại Chi nhánh Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển
nông thôn Trực Ninh, em nhận thấy hoạt động cho vay tiêu dùng ở chi nhánh vẫn còn
nhỏ bé và đơn giản, chưa phát huy hết tầm quan trọng của phương thức này và chưa
có giải pháp mở rộng khắc phục mặt yếu kém của phương thức này. Do đó em lựa
chọn đề tài “Mở rộng cho vay tiêu dùng tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển
nông thôn Chi nhánh Trực Ninh” để nghiên cứu trong chuyên đề báo cáo thực tập.
Vũ Văn Tuấn Lớp Tài chính doanh nghiệp 48B
1
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp GVHD: PGS.TS. Hoàng Xuân Quế
CHƯƠNG I

2
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp GVHD: PGS.TS. Hoàng Xuân Quế
tới nhu cầu vay tiêu dùng của khách hàng.
Năm là: chất lượng các thông tin tài chính của khách hàng vay thường không cao.
Sáu là: nguồn trả nợ chủ yếu của người đi vay có thể biến động lớn, phụ thuộc vào
quá trình làm việc, kỹ năng và kinh nghiệm đối với công việc của những người này.
Bảy là: tư cách của khách hàng là yếu tố khó xác định song lại rất quan trọng,
quyết định sự hoàn trả của khoản vay.
1.1.2. Lợi ích của hoạt động cho vay tiêu dùng
Một hình thức cho vay muốn tồn tại và phát triển trong hoạt động của ngân
hàng thì bản thân nó phải đem lại những lợi ích thiết thực cho những người đã tạo ra
và sử dụng nó. Hình thức cho vay tiêu dùng đã xuất hiện từ lâu và cho đến nay hoạt
động của nó vẫn không ngừng được các ngân hàng quan tâm phát triển, khách hàng
sử dụng, chính phủ các nước đồng tình ủng hộ.
Đối với ngân hàng, ngoài hai nhược điểm chính là rủi ro và chi phí cao, cho
vay tiêu dùng có những lợi ích quan trọng như:
Thứ nhất, cho vay tiêu dùng giúp tăng khả năng cạnh tranh của ngân hàng với
các ngân hàng và các tổ chức tín dụng khác, thu hút được đối tượng khách hàng mới,
từ đó mà mở rộng quan hệ với khách hàng. Bằng cách nâng cao và mở rộng mạng
lưới, đa dạng hoá sản phẩm, nâng cao chất lượng dịch vụ cho vay tiêu dùng, số lượng
khách hàng đến với ngân hàng sẽ ngày càng nhiều hơn và hình ảnh của ngân hàng sẽ
càng đẹp hơn trong con mắt khách hàng. Trong ý nghĩ của công chúng, ngân hàng
không chỉ là tổ chức chỉ biết quan tâm đến các công ty và doanh nghiệp mà ngân
hàng còn rất quan tâm tới những nhu cầu nhỏ bé, cần thiết của người tiêu dùng, đáp
ứng nguyện vọng cải thiện đời sống của người tiêu dùng. Từ đó mà uy tín của ngân
hàng ngày càng được nâng cao hơn.
Thứ hai, cho vay tiêu dùng cũng là một công cụ marketing rất hiệu quả, nhiều
người sẽ biết tới ngân hàng hơn. Từ đó mà ngân hàng cũng sẽ huy động được nhiều
nguồn tiền gửi của dân cư.
Thứ ba, cho vay tiêu dùng tạo điều kiện mở rộng và đa dạng hoá kinh doanh từ

1.2.1. Căn cứ vào mục đích vay
Cho vay tiêu dùng được chia làm hai loại:
a. Cho vay tiêu dùng cư trú
Cho vay tiêu dùng cư trú là các khoản cho vay nhằm tài trợ cho nhu cầu mua
sắm, xây dựng hoặc cải tạo nhà ở của khách hàng là cá nhân hoặc hộ gia đình.
b. Cho vay tiêu dùng phi cư trú
Cho vay tiêu dùng phi cư trú là các khoản cho vay tài trợ cho việc trang trải các
chi phí mua sắm xe cộ, đồ dùng gia đình, chi phí học hành, giải trí và du lịch...
Vũ Văn Tuấn Lớp Tài chính doanh nghiệp 48B
4
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp GVHD: PGS.TS. Hoàng Xuân Quế
1.2.2.Căn cứ vào phương thức hoàn trả
Cho vay tiêu dùng được chia làm ba loại:
1.2.2.1. Cho vay tiêu dùng trả góp
Cho vay tiêu dùng trả góp là hình thức cho vay tiêu dùng trong đó người đi vay
trả nợ (gồm số tiền gốc và lãi) cho ngân hàng nhiều lần, theo những kỳ hạn nhất định
trong thời hạn cho vay. Phương thức này thường được áp dụng cho các khoản vay có
giá trị lớn hoặc thu nhập từng định kỳ của người đi vay không đủ khả năng thanh
toán hết một lần số nợ vay.
Đối với loại cho vay tiêu dùng này, các ngân hàng thường chú ý tới một số vấn
đề cơ bản, có tính nguyên tắc sau:
- Loại tài sản được tài trợ: Thiện chí trả nợ của người đi vay sẽ tốt hơn nếu tài
sản hình thành từ tiền vay đáp ứng nhu cầu thiết yếu đối với họ lâu dài trong tương
lai. Khi lựa chọn tài sản để tài trợ, ngân hàng thường chú ý đến điều kiện này, nên
thường chỉ muốn tài trợ nhu cầu mua sắm những tài sản có thời hạn sử dụng lâu bền
hoặc có giá trị lớn. Vì rằng với những loại tài sản như vậy, người tiêu dùng sẽ được
hưởng những tiện ích từ chúng trong một thời gian dài.
- Số tiền phải trả trước: Thông thường, ngân hàng yêu cầu người đi vay phải
thanh toán trước một phần giá trị tài sản cần mua sắm – số tiền này được gọi là số
tiền trả trước – phần còn lại, ngân hàng sẽ cho vay. Số tiền trả trước cần phải đủ lớn

thường theo tháng. Vì lẽ, thông thường, nguồn trả nợ chính của người vay tiêu dùng là
lương được nhận hàng tháng;
(iv) Thời hạn tài trợ không nên quá dài. Thời hạn tài trợ bị giới hạn bởi thời hạn
hoạt động của tài sản tài trợ. Thời hạn tài trợ quá dài dễ làm giá trị tài sản tài trợ bị
giảm mạnh. Hơn nữa, khi thời hạn tài trợ quá dài thì thiện chí trả nợ của người đi vay
cũng như việc thu hồi nợ thường gặp nhiều rắc rối.
Số tiền khách hàng phải thanh toán cho ngân hàng mỗi định kỳ có thể được tính
bằng một số các phương pháp sau:
- Phương pháp gộp: Đây là phương pháp được áp dụng trong cho vay trả góp,
do tính chất đơn giản và dễ hiểu của nó. Theo phương pháp này, trước hết lãi được
tính bằng cách lấy vốn gốc nhân với lãi suất và thời hạn vay, sau đó cộng gộp vào
vốn gốc rồi chia cho số kỳ hạn phải thanh toán để tìm số tiền phải thanh toán ở mỗi
định kỳ. Công thức tính toán như sau:
T = (V + L) / n
Trong đó: T là số tiền phải thanh toán cho ngân hàng mỗi kỳ hạn
V là vốn gốc
L là chi phí tài trợ bao gồm lãi vay phải thanh toán và các chi phí
Vũ Văn Tuấn Lớp Tài chính doanh nghiệp 48B
6
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp GVHD: PGS.TS. Hoàng Xuân Quế
khác có liên quan
n là số kỳ hạn
Theo phương pháp gộp, lãi được tính trên cơ sở vốn gốc ban đầu cho toàn bộ
thời hạn vay. Trong khi đó, vào mỗi định kỳ, người đi vay phải thanh toán một phần
vốn gốc cho nên vốn gốc ban đầu được giảm dần trong thời hạn vay. Với cách tính
như vậy, lãi suất được dùng để tính lãi không phải là lãi suất thực sự được áp dụng
đối với người đi vay. Để bảo vệ quyền lợi của người vay, khi tính toàn theo phương
pháp này, pháp luật các nước thường yêu cầu ngân hàng phải quy đổi từ lãi suất tính
toán sang lãi suất hiệu dụng và niêm yết để người vay dễ dàng cân nhắc chi phí vay
mượn mà mình sẽ phải trả cho ngân hàng, từ đó có quyết định lựa chọn hợp lý.

1.2.2.2. Cho vay tín dụng phi trả góp
Theo phương thức này tiền vay được khách hàng thanh toán cho ngân hàng chỉ
một lần khi đến hạn. Thường thì các khoản cho vay tiêu dùng phi trả góp chỉ được
cấp cho các khoản vay có giá trị nhỏ với thời hạn không dài.
1.2.2.3. Cho vay tín dụng tuần hoàn
Là các khoản cho vay tiêu dùng trong đó ngân hàng cho phép khách hàng sử
dụng thẻ tín dụng hoặc phát hành loại séc được phép thấu chi dựa trên tài khoản vãng
lai. Theo phương thức này, trong thời hạn tín dụng được thỏa thuận trước, căn cứ vào
nhu cầu chi tiêu và thu nhập kiếm được từng kỳ, khách hàng được ngân hàng cho phép
thực hiện việc vay và trả nợ nhiều kỳ một cách tuần hoàn, theo một hạn mức tín dụng.
Lãi phải trả mỗi kỳ có thể tính dựa trên một trong ba cách sau:
- Lãi được tính dựa trên số dư nợ đã được điều chỉnh: Theo phương pháp này số
dư nợ được dùng để tính lãi là số dư nợ cuối cùng của mỗi kỳ sau khi khách hàng đã
thanh toán nợ cho ngân hàng.
- Lãi được tính dựa trên số dư nợ trước khi được điều chỉnh: Theo phương pháp
này số dư nợ dùng để tính lãi là số dư nợ cuối mỗi kỳ có trước khi khoản nợ được
thanh toán.
- Lãi được tính dựa trên cơ sở dư nợ bình quân.
1.2.3. Căn cứ vào nguồn gốc của khoản nợ:
Cho vay tiêu dùng gồm:
1.2.3.1.Cho vay tiêu dùng gián tiếp
Cho vay tiêu dùng gián tiếp là hình thức cho vay trong đó ngân hàng mua các
khoản nợ phát sinh do những công ty bán lẻ đã bán chịu hàng hóa hay dịch vụ cho
người tiêu dùng. Hình thức có những ưu nhược điểm như sau:
* Ưu điểm:
Cho phép ngân hàng dễ dàng tăng doanh số cho vay tiêu dùng; cho phép ngân
Vũ Văn Tuấn Lớp Tài chính doanh nghiệp 48B
8
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp GVHD: PGS.TS. Hoàng Xuân Quế
hàng tiết giảm được chi phí trong cho vay; là nguồn gốc của việc mở rộng quan hệ

9
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp GVHD: PGS.TS. Hoàng Xuân Quế
1.3. Quản trị rủi ro trong hoạt động cho vay tiêu dùng tại các NHTM
1.3.1.Rủi ro trong hoạt động cho vay tiêu dùng
Hầu hết các khoản cho vay tiêu dùng là các khoản vay trung và dài hạn, với
thời hạn từ 10 đến 20 năm, thậm chí 30 năm, nên có thể có rất nhiều rủi ro có thể phát
sinh.
- Rủi ro mất khả năng thanh toán của người đi vay:
Do các khoản cho vay tiêu dùng có thời hạn dài nên khả năng trả nợ phụ thuộc
rất nhiều vào tình trạng sức khoẻ, gia đình và công việc của người đi vay. Những rủi
ro có thể xảy ra trong trường hợp này bao gồm:
+ Người đi vay bị chết hoặc bị tai nạn dẫn đến mất khả năng lao động, hoàn
toàn không có khả năng trả món nợ còn lại cho ngân hàng;
+ Người vay bị tai nạn, giảm khả năng lao động hoặc thay đổi vị trí công tác
dẫn đến giảm sút thu nhập không thực hiện được đầy đủ nghĩa vụ trả nợ.
- Rủi ro do khách hàng gian lận: Do khách hàng vay tiêu dùng là các cá nhân
nên các ngân hàng gặp rất nhiều khó khăn trong việc nắm bắt thông tin về khách
hàng. Lợi dụng điều này khách hàng có thể cố tình gian lận để chiếm đoạt tiền vay
dẫn đến rủi ro không thu hồi được vốn cho ngân hàng.
Ngoài ra, giống như những khoản cho vay thương mại khác, các khoản cho
vay tiêu dùng cũng phải chịu những rủi ro về lãi suất và tỉ giá. Do thời hạn cho vay
dài nên lãi suất trên thị trường có thể có những biến động lớn trong suốt quá trình cho
vay vốn. Nếu áp dụng một mức lãi suất cố định trong suốt thời hạn cho vay thì khi lãi
suất trên thị trường tăng, ngân hàng có thể sẽ phải chịu rủi ro vì cho vay với lãi suất
quá thấp. Ngược lại, nếu lãi suất trên thị trường giảm, những khoản cho vay của ngân
hàng với lãi suất cao hơn sẽ không còn hấp dẫn được người đi vay, ảnh hưởng đến
khả năng cạnh tranh của các ngân hàng.
Trong trường hợp khoản vay được thực hiện bằng ngoài tệ thì các ngân hàng
có thể gặp phải rủi ro khi tỉ giá hối đoái thay đổi hoặc người đi vay sẽ gặp khó khăn
trong việc trả nợ gốc và lãi trong trường hợp tỉ giá thay đổi trong khi nguồn thu nhập

liệu của ngân hàng về những khách hàng có những đặc điểm tương tự và về việc
thanh toán các khoản vay trước đây đối với ngân hàng của người xin vay đó.
Cho điểm tín dụng thường ít được sử dụng như một tiêu chí duy nhất đẻ thực
hiện các khoản tín dụng tiêu dùng. Những yếu tố khác như khả năng thanh toán nợ,
điều kiện kinh tế hiện tại và những yêu cầu về thế chấp, phải đáp ứng được những
tiêu chuẩn về bảo đảm an toàn của ngân hàng. Những thông tin khách quan - như về
cá nhân và hình thức bề ngoài của khách hàng, tiềm năng về một mối quan hệ có lợi
trong tương lai, và những yếu tố không thể định lượng khác - sẽ giúp cho quá trình
phân tích tín dụng có giá trị thực tế hơn. Phân tích tín dụng là một quá trình nhờ đó
cả những yếu tố chủ quan như những yếu tố có thể định lượng được đánh giá đồng
Vũ Văn Tuấn Lớp Tài chính doanh nghiệp 48B
11
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp GVHD: PGS.TS. Hoàng Xuân Quế
thời. Mục đích của quá trình này là giảm thiểu rủi ro, tổn thất cho vay và những
khoản cho vay khó đòi. Các bước trong quá trình phân tích tín dụng tiêu dùng được
liệt kê trong bảng dưới đây
Biểu 1: Các bước trong quá trình phân tích tín dụng
1. Xác định mục đích sử dụng khoản vay
và số tiền vay
3. Kiểm tra và xác minh thông tin
2. Thu thập thông tin:
a. Tín dụng tiêu dùng
b. Báo cáo tài chính cá nhân
c. Thu nhập tính thuế
Báo cáo tài chính hoạt động kinh doanh
4. Phân tích
a. Báo cáo tài chính
b. Lưu chuyển tiền mặt
5. Đánh giá tài sản bảo đảm, nếu cần thiết
6. Đánh giá và cơ cấu khoản tín dụng

Sinh viên 5
Lao động không có tay nghề 4
Lao động bán thời gian 2
2. Tình trạng cư trú
Có nhà riêng 6
Có nhà thuê hoặc chung cư 4
ở với người bạn thân hoặc bạn bè 2
3. Hạng tín dụng
Tốt 10
Trung bình 5
Không có 2
Xấu 0
4. Thời gian làm việc đối với nghề nghiệp hiện tại
Hơn một năm 5
Một năm hoặc ít hơn 2
5. Thời gian đã cư ngụ tại địa chỉ hiện tại
Hơn một năm 2
Một năm hoặc ít hơn 1
6. Có điện thoại tại chỗ ở
Có 2
Không 0
7. Số người sống dựa vào người vay
Không 3
Một 3
Hai 4
Ba 4
Nhiều hơn ba 2
8. Loại tài khoản có tại ngân hàng
Cả tài khoản séc lẫn tài khoản tiết kiệm 4
Chỉ có tài khoản tiết kiệm 3

những trung tâm thông tin tín dụng trong đó lưu giữ thông tin về cả những khách
hàng cũ và những khách hàng tiềm năng của các ngân hàng. Các thông tin về khách
hàng được chia theo nhiều loại, nhóm khách hàng. Các ngân hàng có thể sử dụng
thông tin từ các trung tâm này hoặc có thể kết hợp những thông tin này với những dữ
liệu và kinh nghiêm của riêng của ngân hàng mình để đánh giá về độ tín nhiệm của
khách hàng. Trên thị trường cũng sẵn có rất nhiều mô hình tính điểm tín dụng thường
xuyên được cập nhật theo những thay đổi về đặc tính của người tiêu dùng. Các ngân
hàng có thể lựa chọn mô hình phù hợp trong số những mô hình sẵn có này để áp dụng
trong việc tính điểm tín dụng cho các khách hàng của mình. Tuy nhiên, thách thức
lớn nhất hiện nay, ngay cả đối với những ngân hàng đi đầu tư trong lĩnh vực cho vay
tiêu dùng, là lựa chọn và xây dựng những mô hình tính điểm tín dụng như thế nào để
Vũ Văn Tuấn Lớp Tài chính doanh nghiệp 48B
14
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp GVHD: PGS.TS. Hoàng Xuân Quế
áp dụng đối với những nhóm khách hàng mới.
Phương pháp hệ thống điểm số thường được sử dụng bổ sung với phương pháp
phán đoán dưới đây:
Phân tích tín dụng theo phương pháp phán đoán là một quá trình trong đó ngân
hàng tiến hành phân tích và đánh giá tất cả các thông tin định tính và định lượng về
khách hàng nhằm mục tiêu hạn chế các khoản cho vay có rủi ro cao. Do phương pháp
hệ thống điểm số trong cho vay tiêu dùng không phải là phương pháp duy nhất được
các ngân hàng sử dụng vì có rất nhiều vấn đề khác mà ngân hàng cũng rất quan tâm.
Những vấn đề đó bao gồm khả năng trả nợ, điều kiện kinh tế hiện tại, bảo đảm nào
cần phải có, phải tuân thủ nội dung của chính sách cho vay của ngân hàng. Các thông
tin có tính chủ quan về khách hàng như thái độ, diện mạo của khách hàng, khả năng
quan hệ với ngân hàng trong tương lai có tác dụng rất quan trọng trong việc ra quyết
định của ngân hàng.
Tùy ngân hàng mà hệ thống các yếu tố được phân tích có thể khác nhau, phổ
biến nhất là hệ thống 5C ( Character - tư cách của người đi vay; Capacity - khả năng
vay mượn của người đi vay; Cash - khả năng tạo ra tiền để trả nợ ngân hàng;

khách hàng có độ rủi ro cao. Các kỹ thuật mô hình dự đoán thường được áp dụng ở
đây.
Trong những năm gần đây, các công cụ để cải thiện việc quản trị rủi ro trong
hoạt động tín dụng tiêu dùng đã có những bước tiến bộ đáng kể nhờ các ngân hàng đi
đầu tư rong lĩnh vực này đã tập trung vào việc phát triển những công cụ phân tích
phức tạp. Những tiến bộ trong công nghệ lưu trữ dữ liệu và hiệu quả của việc sử dụng
máy tính cũng đóng một vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy sự phát triển của các
công cụ quản lý rủi ro trong tín dụng tiêu dùng. Đồng thời cũng có rất nhiều công ty
và nhiều công đoạn trong lĩnh vực tín dụng tiêu dùng áp dụng những công nghệ mới
này, đặc biệt là các công ty và các ngân hàng phát hành thẻ tín dụng. Nhìn chung, so
với những năm đầu tư hập kỷ 90, việc quản lý rủi ro trong hoạt động tín dụng tiêu
dùng đã phát triển hơn nhiều và hoạt động tín dụng tiêu dùng đã có một vị trí đáng kể
trong hoạt động tín dụng nói chung.
1.4. Các nhân tố ảnh hưởng đến việc mở rộng cho vay tiêu dùng của
ngân hàng thương mại
1.4.1.Nhóm nhân tố thuộc về bản thân ngân hàng
(1) Định hướng phát triển của ngân hàng
Định hướng phát triển của ngân hàng là điều kiện tiên quyết để phát triển hoạt
động cho vay tiêu dùng. Nếu trong kế hoạch phát triển của mình các ngân hàng
không quan tâm đến hoạt động này thì các khách hàng có nhu cầu về cho vay tiêu
dùng cũng sẽ không được quan tâm. Ngược lại, nếu ngân hàng muốn phát triển hoạt
động cho vay tiêu dùng thì họ sẽ đưa ra những chiến lược cụ thể để thu hút những
người có nhu cầu đến với mình. Và khi đó cung cầu sẽ có điều kiện thuận lợi để gặp
nhau cũng có nghĩa là cho vay tiêu dùng sẽ có nhiều cơ hội phát triển.
(2) Năng lực tài chính của ngân hàng
Vũ Văn Tuấn Lớp Tài chính doanh nghiệp 48B
16
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp GVHD: PGS.TS. Hoàng Xuân Quế
Năng lực tài chính của ngân hàng là một trong những yếu tố được các nhà lãnh
đạo ngân hàng xem xét khi đưa ra các quyết định trong đó có các quyết định về hoạt

với từng loại khách hàng, từng kỳ hạn cho vay và cách xử lý đúng đắn các khoản nợ
của khách hàng, có chính sách sản phẩm hấp dẫn thì càng thu hút được khách hàng
Vũ Văn Tuấn Lớp Tài chính doanh nghiệp 48B
17
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp GVHD: PGS.TS. Hoàng Xuân Quế
đến với ngân hàng, từ đó thực hiện thành công việc mở rộng cho vay tiêu dùng.
(4) Số lượng, trình độ cũng như đạo đức nghề nghiệp của các cán bộ tín dụng
Số lượng, trình độ cũng như đạo đức nghề nghiệp của các cán bộ tín dụng cũng
ảnh hưởng không nhỏ tới hoạt động cho vay tiêu dùng của các ngân hàng thương
mại. Hoạt động cho vay tiêu dùng có thực hiện được hay không là do người điều
hành, đó chính là các cán bộ nhân viên của ngân hàng. Bởi vậy, trước tiên muốn hoạt
động cho vay tiêu dùng phát triển thì cần phải quan tâm đến đời sống của các cán bộ
nhân viên. Nếu như đạo đức người vay được xếp vào vị trí hàng đầu tư trong các
nhân tố khách quan thì đạo đức cán bộ tín dụng được xếp vào vị trí hàng đầu tư
trong các nhân tố chủ quan. Nếu các cán bộ tín dụng không có đạo đức nghề nghiệp
thì dù giỏi đến mấy cũng vô giá trị vì lợi ích cá nhân họ sẵn sàng làm tổn hại đến lợi
ích của tập thể ngân hàng. Tuy nhiên, đạo đức không thôi chưa đủ, cán bộ tín dụng
phải có trình độ chuyên môn cao, trình độ hiểu biết rộng thì mới thẩm định chính xác
khách hàng và dự án vay vốn, từ đó đưa ra các quyết định đúng đắn. Một cán bộ tín
dụng có trình độ nghiệp vụ cao, khả năng giao tiếp, marketing tốt, trình độ ngoại
ngữ, vi tính thành thạo, nhiệt tình trong công việc, có đạo đức nghề nghiệp sẽ tạo
được ấn tượng đẹp trong khách hàng về ngân hàng, bởi dưới con mắt của khách
hàng thì cán bộ ngân hàng chính là hình ảnh của ngân hàng. Nếu khách hàng giao
tiếp với cán bộ ngân hàng mà họ cảm thấy an tâm về trình độ nghiệp vụ, hài lòng với
phong cách giao tiếp của cán bộ ngân hàng, an toàn trong quan hệ với ngân hàng thì
họ chắc chắn sẽ còn tìm tới ngân hàng. Hơn nữa, các cán bộ tín dụng có mối quan hệ
rộng trong xã hội cũng có thể thu hút được nhiều khách hàng hơn. Và một ngân hàng
phải có số lượng cán bộ tín dụng hợp lý, phân công công việc cụ thể thì ngân hàng
đó mới có thể phát triển không chỉ mình hoạt động cho vay tiêu dùng mà tất cả các
hoạt động khác nữa.

dùng và các quy định cho vay sẽ không quá khắt khe. Ngược lại nếu khách hàng trả
nợ không đều, nợ quá hạn nhiều thì tất yếu sẽ kìm hãm hoạt động cho vay tiêu dùng.
(2) Khả năng đáp ứng các điều kiện khi vay của khách hàng
Khả năng đáp ứng các điều kiện khi vay của khách hàng có nghĩa là khách hàng
liệu có đáp ứng được các điều kiện quy định của ngân hàng hay không. Các điều kiện
như là tài sản đảm bảo cũng như các giấy tờ chứng mình quyền sở hữu và sử dụng
hợp pháp tài sản …
Vũ Văn Tuấn Lớp Tài chính doanh nghiệp 48B
19
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp GVHD: PGS.TS. Hoàng Xuân Quế
1.4.3.Nhóm nhân tố thuộc về môi trường hoạt động của ngân hàng
1.4.3.1. Tình trạng kinh tế vĩ mô
Sự ổn định kinh tế vĩ mô sẽ tạo cơ hội mở rộng tín dụng tiêu dùng một cách
hiệu quả. Kinh tế vĩ mô ổn định, đặc biệt là ổn định tiền tệ với các chỉ tiêu giá cả, lãi
suất, tỷ giá, lạm phát sẽ làm yên tâm định chế tài chính cho vay vốn. Các đối tượng
vay vốn có thêm việc làm, tăng thu nhập, giúp họ yên tâm về sự ổn định trong thu
nhập cũng như sự ổn định của chi phí đi vay, chi phí mua sắm, sửa chữa nhà cửa, và
các hàng hóa, dịch vụ khác. Do đó, làm tăng các khoản vay của họ, đồng thời tạo
điều kiện duy trì và phát triển bền vững quan hệ hai chiều vay vốn và trả nợ.
Ngược lại, khi kinh tế khủng hoảng hoặc điều kiện phát triển chậm chạp, hay kinh
tế vĩ mô bất ổn định một mặt sẽ tác động gây hạn chế cấp tín dụng tiêu dùng của các
trung gian tài chính. Các khoản cho vay chịu tác động của những biến động trên thị
trường tài chính bất ổn có thể dẫn tới đổ vỡ tín dụng. Những thay đổi tích cực trong kinh
tế vĩ mô diễn ra quá nhanh cũng gây ra những xáo trộn nhất định. Chẳng hạn, tỷ lệ lạm
phát và lãi suất giảm quá nhanh cũng có thể dẫn tới tình trạng vỡ nợ đối với các món vay
với lãi suất dựa vào tỷ lệ lạm phát cao trước đó. Tỷ giá hối đoái kém linh hoạt, không
phản ánh được sự biến động của kinh tế vĩ mô, làm méo mó những tín hiệu giá cả bên
ngoài cũng ảnh hưởng trực tiếp đến thu nhập của khách hàng và tổ chức tín dụng. Mặt
khác, kinh tế vĩ mô phát triển chậm chạm hay bất ổn cũng khiến thu nhập trong tương lai
của người tiêu dùng trở nên bấp bênh, các chi phí biến động, khó kiểm soát, do đó người

dịch vụ mà ngân hàng cung cấp, trong đó có hoạt động cho vay tiêu dùng.
1.5. Kinh nghiệm cho vay tiêu dùng của các NHTM tại một số nước trên
thế giới và bài học đối với các NHTM Việt Nam
1.5.1. Hoạt động cho vay tiêu dùng tại một số nước
1.5.1.1. Hoạt động cho vay tiêu dùng tại Trung Quốc
Dịch vụ tín dụng tiêu dùng càng ngày càng trở nên phổ biến và được khuyến
khích phát triển tại các NHTM Trung Quốc. Các nhà quản lý ngân hàng Trung Quốc
đã nhận thấy cho vay tiêu dùng chính là “tương lai” của các NHTM và họ phải tập
trung các nguồn lực của mình nhiều hơn cho lĩnh vực này.
Ngay từ cuối những năm 1990, Ngân hàng Kiến thết Trung Quốc (CCB) đã dẫn
đầu về phát triển lĩnh vực này. Vào năm 1999, thời hạn cho vay có thế chấp được kéo
dài từ 20 năm lên 30 năm; giá trị của khoản vay cũng được nâng từ mức 70% lên
80% giá trị tài sản thế chấp. Đồng thời, từ cuối năm 1999, CCB bắt đầu chấp thuận
các khoản cho vay do các cá nhân đứng ra bảo lãnh, bãi bỏ yêu cầu người đi vay cần
phải được người chủ lao động của mình đứng ra bảo đảm cho khoản vay. CCB còn
có một kế hoạch đầy tham vọng là sử dụng các phương tiện kỹ thuật, công nghệ sẵn
có của mình để phát triển hình thức dịch vụ ngân hàng Internet và đưa ra một số sản
phẩm dịch vụ ngân hàng điện tử bán lẻ.
Ngân hàng phát triển Thượng Hải - Phú Đông: cũng là một trong số các ngân
hàng ở Trung Quốc sớm có dịch vụ tín dụng tiêu dùng phát triển mạnh. Ngân hàng
này đã hợp tác với các công ty chuyên kinh doanh bất động sản để đơn giản hóa các
Vũ Văn Tuấn Lớp Tài chính doanh nghiệp 48B
21
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp GVHD: PGS.TS. Hoàng Xuân Quế
thủ tục về tài sản thế chấp và giảm số lần mà người vay phải đến giao dịch với một
chi nhánh ngân hàng từ 20 lần xuống còn có 3 lần. Từ tháng 8/1999, Ngân hàng Phát
triển Thượng Hải - Phú Đông đã phối hợp với các công ty du lịch lữ hành để đưa ra
các khoản cho vay du lịch và kể từ thời điểm đó đã có 13 cặp vợ chồng nhận được
các khoản vay để đi du lịch tuần trăng mật. Ngân hàng này cũng đã kéo dài thời hạn
của các khoản vay dành cho đào tạo đại học từ 2 năm lên 4 năm và thành lập một quỹ

Chuyên đề thực tập tốt nghiệp GVHD: PGS.TS. Hoàng Xuân Quế
trong lĩnh vực kinh doanh thẻ tín dụng, mặc dù số lượng các đại lý của họ ở Trung
Quốc còn nhỏ. Nếu các ngân hàng này đưa ra những loại thẻ đáp ứng được nhu cầu
của các khách hàng giàu có, đưa ra các hạn mức tín dụng cao hơn cho sinh viên thì sẽ
vượt xa các ngân hàng Trung Quốc về dư nợ tín dụng. Bên cạnh thẻ tín dụng, họ còn
dự kiến tiến hành các hoạt động thuộc các lĩnh vực khác của tín dụng tiêu dùng như
triển khai các khoản cho vay mua nhà trả chậm. Các dịch vụ này có rất nhiều triển
vọng do lượng dân số khổng lồ của Trung Quốc. Theo đánh giá của các nhà phân
tích, các ngân hàng lớn của nước ngoài sẽ không xây dựng các chi nhánh trên toàn
quốc và cũng không nhằm vào thị trường cho vay mua nhà trả chậm đối với các
khách hàng trung lưu. Khi tiếp cận vào thị trường khách hàng bán lẻ, các ngân hàng
nước ngoài sẽ lôi kéo các khách hàng giàu có với các dịch vụ có mức phí cao nhưng
lại đáp ứng được các nhu cầu ở mức cao hơn, chẳng hạn như các sản phẩm đầu tư,
quản lý quỹ. Theo các nhà tư vấn, cách tốt nhất là lĩnh vực tiêu dùng cần phải được
tách riêng thành những bộ phận có thể tự kinh doanh, tự quản lý và hạch toán lỗ lãi
một cách độc lập với các hoạt động kinh doanh ngân hàng khác.
1.5.1.2. Hoạt động cho vay tiêu dùng tại các NHTM Châu Âu
Tại châu Âu, tín dụng tiêu dùng ra đời muộn hơn các loại hình tín dụng khác. Nó
đáp ứng nhu cầu tiêu dùng ngày một lớn của người dân tại các quốc gia phát triển.
Cho đến nay, tín dụng tiêu dùng đã trở thành một hình thức tín dụng phổ biến tại
châu Âu. Cùng với các loại tín dụng khác, tín dụng tiêu dùng làm hoàn thiện, làm
phong phú môi trường tín dụng, hướng tới “bảo vệ quyền lợi của người tiêu dùng”.
(1) Đối tượng, hình thức, giá trị và thời hạn của khoản cho vay tiêu dùng
Ra đời ngày 22/12/1986, Nghị định 87/102/CEF của Cộng đồng chung châu Âu
khởi thảo bước đầu tư iên có tính thống nhất về các điều luật, các quy tắc và quản lý
hành chính tín dụng tiêu dùng trong phạm vi toàn bộ cộng đồng. Nghị định này liên
tục được sửa đổi trong các giai đoạn tiếp theo: NĐ 90/08/CEE ngày 22/2/1990; NĐ
98/7/CEE ngày 16/2/1998.
Tất cả các cá nhân có đủ năng lực hành vi đều có khả năng được cấp tín dụng
tiêu dùng, với điều kiện: khoản tín dụng đó không sử dụng để phục vụ cho hoạt động


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status