PHẦN MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu
Tín dụng doanh nghịêp (DN) nói chung, tín dụng doanh nghiệp nhỏ và
vừa (DNNVV) nói riêng, trong những năm qua có vai trò đặc biệt quan
trọng. Là kênh dẫn vốn chủ yếu đối với nền kinh quốc dân, góp phần nâng
cao hiệu quả sử dụng vốn trong toàn xã hội, thúc đẩy quá trình đổi mới và
phát triển kinh tế, đưa nền kinh tế nước ta nhanh chóng hội nhập với nền
kinh tế khu vực và thế giới.
Trong giai đoạn hiện nay tín dụng DNNVV là một trong những cơ sở
nền tảng đưa hoạt động của ngân hàng thương mại (NHTM) nước ta từ quy
mô nhỏ bé, công nghệ lạc hậu, năng lực tài chính thấp kém, trở thành những
ngân hàng có quy mô lớn, công nghệ hiện đại và có khả năng tài chính vững
mạnh. Bởi vì với số lướng lớn chiếm trên 96% tổng số DN trên cả nước,
các DNNVV đã và đang tạo ra một thị trường rộng lớn, mang lại nhiều tiềm
năng về doanh thu cho các NHTM từ hoạt động cấp tín dụng và cung ứng
các dịch vụ ngân hàng.
Tín dụng DNNVV đã có những tác động tích cực vào thay đổi tư duy
kinh tế của các DNNVV đó là: Phát triển năng động, sáng tạo, tự chủ, tự
chịu trách nhiệm và chủ động hội nhập kinh tế quốc tế. Góp phần khơi dậy
tiềm năng, khai thác hiệu quả những lợi thế và nguồn lực của Đất nước về;
Tài nguyên, thiên nhiên cũng như về nguồn vốn và lao động…Góp phần
thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế, củng cố và mở rộng làng nghề truyền
thống, hình thành và phát triển thêm các ngành nghề mới, tạo công ăn việc
làm, thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội.
Trong những năm gần đây, nhất là từ khi luật DN có hiệu lực và đi vào
cuộc sống. Cùng với tiến trình cổ phân hoá, xắp xếp, đổi mới hoạt động của
DN Nhà nước và các chính sách trợ giúp phát triển DNNVV của Chính phủ,
các Bộ, Ngành và Địa phương. Trên địa bàn huyện Trực Ninh - Nam Định
đã có nhiều tổ chức, cá nhân tổ chức thành lập các DN, Hợp tác xã và các cơ
sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, hoạt động trên mọi lĩnh vực với những
quy mô khác nhau, các DNNVV đều đang rất cần đến nguồn vốn tín dụng.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu.
Đối tượng nghiên cứu: Lý luận và thực trạng về tín dụng của ngân hàng
thương mại đối với DNNVV.
Phạm vi nghiên cứu: Theo hình thức cấp tín dụng, thì tín dụng NHTM
đối với DNNVV bao gồm; Cho vay; Cho thuê; Bảo lãnh; Thấu chi và các
hình thức tín dụng khác. Trong phạm vi luận văn này tác giả chỉ nghiên cứu
về hoạt động cho vay đối với DNNVV tại Chi nhánh No&PTNT huyện
Trực Ninh - Nam Định, từ năm 2004 đến năm 2007. Thuật ngữ tín dụng đối
với DNNVV trong luận văn được hiểu là cho vay đối với DNNVV.
5. Kết cấu của luận văn:
3
Ngoài phần mở đầu, kết luận, mục lục, danh mục các từ viết tắt, bảng
biểu, tài liệu tham khảo, luận văn được trình bày trong 03 chương:
Chương 1: Một số vấn đề cơ bản về tín dụng đối với DNNVV của NHTM.
Chương 2: Thực trạng mở rộng tín dụng đối với DNNVV tại Chi nhánh
ngân hàng No&PTNT huyện Trực Ninh – Nam Định.
Chương 3: Giải pháp mở rộng tín dụng đối với DNNVV tại Chi nhánh ngân
hàng No&PTNT huyện Trực Ninh – Nam Định.
CHƯƠNG I
MỘT SỐ VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ TÍN DỤNG
ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA CỦA NGÂN HÀNG
THƯƠNG MẠI
1.1: Tín dụng đối với DNNVV của ngân hàng thương mại.
1.1.1: Vai trò của DNNVV.
1.1.1.1: Quan niệm về DNNVV và tiêu chí xác định DNNVV.
Doanh nghiệp nói chung, DNNVV nói riêng là một lực lượng không thể
thiếu trong nền kinh tế của tất cả các quốc gia.
Ở Việt Nam theo Luật doanh nghiệp: “Doanh nghiệp là tổ chức kinh tế
có tên riêng, có trụ sở giao dịch ổn định, được đăng ký kinh doanh theo quy
định của pháp luật, nhằm mục đích thực hiện các hoạt động sản xuất kinh
doanh nghiệp
Số lao động
( Người)
Doanh thu
hàng năm
(triệu USD)
Tổng tài sản
( triệuUSD)
Doanh nghiệp siêu nhỏ 1- 9 < 0,1 < 0,1
Doanh nghiệp nhỏ 10- 49 < 3,0 < 3,0
Doanh nghiệp vừa 50- 300 < 15,0 < 15,0
“Nguồn: http:// World bank. Org”
Đây là cách phân loại chung đáng tin cậy được ngân hàng thế giới đưa ra
sau khi đã thu thập số liệu về các DNNVV của hầu hết các quốc gia trên thế
giới. Tuy nhiên do có sự chênh lệch về tiềm năng và trình độ phát triển giữa
các nền kinh tế trên thế giới, nên cách phân loại này chỉ mang tính chất tham
khảo đối với các quốc gia.
Ở nước ta từ trước năm 1998 chưa có một văn bản pháp luật chính thức
nào quy định tiêu chí cụ thể của DNNVV, do đó mỗi tổ chức đưa ra một
quan niệm về DNNVV, nhằm định hướng mục tiêu phát triển và chính sách
hỗ trợ của tổ chức mình.
Tổ chức UNDIO ( Tổ chức phát triển công nghiệp của Liên hợp quốc tại
Việt Nam) đưa ra tiêu thức xác định DN nhỏ là DN ít hơn 50 lao động, tổng
vốn và doanh thu dưới 1 tỷ đồng, DN vừa là các DN có số lao động từ 50
đến 200 người, có tổng vốn và doanh thu từ 1 tỷ đến dưới 5 tỷ đồng.
Thời kỳ 1998 - 2001 tại công văn số 681/CV- CP ngày 20/06/1998 của
Thủ tướng Chính Phủ, quy định tạm thời về tiêu chí xác định DNNVV như
sau: Các DN có vốn điều lệ dưới 5 tỷ và có số lao động bình quân dưới 200
người được xếp vào loại DNNVV.
Các hộ kinh doanh cá thể đăng ký kinh doanh theo nghị định số 02NĐ-
CP ngày 03/02/2000 của Chính phủ về đăng ký kinh doanh, Nghị định
109/NĐ -CP ngày 02/04/2004, và nghị định 88 ngày 29/08/2006 của
Chính Phủ sửa đổi nghị định 02/NĐ - CP về đăng ký kinh doanh.
Phân theo ngành nghề
Doanh nghiệp hoạt động ngành công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp
Doanh nghiệp hoạt động ngành thương mại và dịch vụ
Doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực nông, lâm, ngư, diêm nghiệp
Doanh nghiệp hoạt động ngành vận tải, xây dựng
Doanh nghiệp hoạt động khác
Phân theo quy mô
Doanh nghiệp vừa
Doanh nghiệp nhỏ
Doanh nghiệp siêu nhỏ
1.1.1.3. Đặc điểm của DNNVV
Các DNNVV là một thực thể kinh tế, với những đặc điểm riêng biệt đó là
quy mô hoạt động nhỏ, sử dụng nhiều lao động, vốn tự có thấp, khả năng
tiếp cận các nguồn vốn thương mại khó khăn... nhưng cũng chính từ những
đặc điểm này đã mang lại cho DNNVV những lợi thế và khó khăn sau:
Lợi thế:
8
* Quy mô nhỏ so với các DN lớn, giúp cho các DNNVV phát triển năng
động, linh hoạt, thích ứng kịp thời với những biến động của thị trường, có
khả năng tiếp cận và đáp ứng những nhu cầu nhỏ lẻ mang tính khu vực, đa
dạng hoá về mặt hàng phù hợp nhu cầu của thị trường.
* Bộ máy quản lý đơn giản gọn nhẹ, có tính tự chủ cao trong sản xuất
kinh doanh.
* Vốn đầu tư ít, thời gian thu hồi vốn nhanh, vì vậy đẩy nhanh tốc độ
vòng quay vốn, giảm chi phí, nâng cao hiệu quả hoạt động, giúp DNNVV
nhanh chóng đổi mới thiết bị, công nghệ phù hợp.
DNNVV của Việt Nam cung cấp cho thị trường một khối lượng lớn hàng
hoá, dịch vụ đáp ứng nhu cầu của sản xuất và tiêu dùng trong nước cũng
như xuất khẩu.
DNNVV rất phù hợp trong việc hỗ trợ các DN lớn, như làm đầu mối tiêu
thụ sản phẩm, cung cấp nguyên nhiên liệu đầu vào…
DNNVV nhờ hoạt động với quy mô nhỏ lên rất linh hoạt trong việc
trong việc chuyển hướng kinh doanh từ những ngành nghề kém hiệu quả
sang ngành nghề hiệu quả hơn.
* Thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế và tăng cường phát triển các mối
quan hệ kinh tế, đặc biết là mở rộng quan hệ kinh tế với nước ngoài thông
qua các DN xuất, nhập khẩu hàng hoá.
10
Phát triển DNNVV sẽ dẫn đến sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo tất cả
các khía cạnh vùng kinh tế, ngành kinh tế, thành phần kinh tế.
Các doanh nghiệp hình thành và phát triển trong những ngành nghề khác
nhau, nhưng có mối quan hệ mật thiết và liên kết với nhau, chia sẻ rủi ro
làm tăng hiệu quả nền kinh tế.
* Thu hút vốn và khai thác các nguồn lực sẵn có trong dân cư, tạo cơ sở
để hình thành nên các DN lớn.
Vốn là yếu tố cơ bản của quá trình xản xuất, kinh doanh có vai trò quyết
định đến việc đầu tư trang thiết bị, cải tiến công nghệ, đào tạo nâng cao tay
nghề cho công nhân cũng như nâng cao trình độ quản lý của chủ DN. Các
DNNVV đã huy động được vốn trong dân cư bằng cách tiếp xúc trực tiếp
người dân để huy động vốn, hoặc chính bản thân những người có vốn đã
đứng ra thành lập DNNVV để thực hiện sản xuất kinh doanh. Khi các
DNNVV tích luỹ đủ vốn và kinh nghiệm họ sẽ mở rộng và phát triển thành
các DN lớn.
* Vai trò của DNNVV đối với xã hội
* Tạo nhiều việc làm cho người lao động, góp phần giảm tỷ lệ thất
nghiệp trong xã hội.
Vốn là một trong những nhân tố quan trọng và quyết định hoạt động của
DN nói chung và DNNVV nói riêng. Các DNNVV nếu chỉ dựa vào nguồn
12
vốn chủ sở hữu thì không thể đáp ứng được nhu cầu mở rộng sản xuất kinh
doanh, vì vậy các DNNVV phải tìm tài trợ từ các nguồn khác nhau gồm:
* Vốn chủ sở hữu:
Vốn chủ sở hữu là do đóng góp của Cổ đông đối với Công ty cổ phần;
Thành viên đối với Công ty trách nhiệm hữu hạn và Công ty hợp danh; Xã
viên đối với Hợp tác xã; Chủ DN đối với DN tư nhân; Cá nhân đối với Hộ
kinh doanh. Tăng nguồn vốn này là biện pháp đơn giản, không tạo ra chi phí
đối với chủ sở hữu, tuy nhiên nguồn vốn này bị hạn chế bởi khả năng tài
chính của các chủ sở hữu có hạn.
*Vốn vay ngân hàng:
Đây là nguồn vốn bổ xung chủ yếu và đóng vai trò quan trọng cho hoạt
động sản xuất kinh doanh của DNNVV, vay ngân hàng là biện pháp tài trợ
truyền thống. Tuy nhiên hiện nay các DNNVV đang gặp phải khó khăn
trong việc vay vốn NHTM, xuất phát từ đặc thù hoạt động của DNNVV,
chưa đủ tín nhiệm và điều kiện vay vốn .
*Thuê tài chính:
Thuê tài chính là phương thức thường được các DNNVV áp dụng chủ
yếu để tài trợ cho tài sản cố định như máy móc thiết bị, phương tiện vận tải ,
dây truyền công nghệ.
* Vốn huy động khác:
Là nguồn vốn được huy động từ thị trường tài chính như phát hành trái
phiếu công ty hoặc huy động từ anh em, bạn bè, những người thân trong gia
đình và cộng đồng dân cư.
1.1.2. Tín dụng ngân hàng đối với DNNVV.
13
1.1.2.1. Khái niệm và các hình thức tín dụng DNNVV.
* Khái niệm về tín dụng ngân hàng:
Tín dụng ngắn hạn: Là loại tín dụng có thời hạn cho vay đến 12 tháng. Tín
dụng ngắn hạn để cho vay bổ sung vốn lưu động cho các DN, cũng như nhu
cầu sản xuất, chi tiêu ngắn hạn của các tổ chức, hộ gia đình và cá nhân.
Tín dụng trung hạn: Là loại tín dụng có thời hạn cho vay trên 12 tháng
đến 60 tháng. Tín dụng trung hạn chủ yếu được sử dụng để đầu tư mua sắm
tài sản cố định, cải tiến hoặc đổi mới thiết bị công nghệ, mở rộng sản xuất
kinh doanh, xây dựng các dự án mới có quy mô nhỏ và thời gian thu vốn
nhanh. Bên cạnh đầu tư cho tài sản cố định, tín dụng trung hạn còn là nguồn
hình thành vốn lưu động thường xuyên của các doanh nghiệp, đặc biệt là
những doanh nghiệp mới thành lập.
Tín dụng dài hạn: Là loại tín dụng có thời hạn cho vay trên 60 tháng. Tín
dụng dài hạn được cung cấp để đáp ứng các nhu cầu dài hạn như xây dựng
nhà xưởng các thiết bị, phương tiện vận tải có quy mô lớn, xây dựng các xí
nghiệp mới.
Nghiệp vụ truyền thống của các NHTM là cho vay ngắn hạn, nhưng
ngày nay trong nền kinh tế thị trường, nhiều thành phần kinh tế cùng tồn tại
và phát triển, nhu cầu vốn trung dài hạn tăng lên, dẫn tới nghiệp vụ tín dụng
trung dài hạn phát triển theo. Nâng cao tỷ trọng cho vay trung, dài hạn trong
15
tổng số dư nợ của ngân hàng đã góp phần quan trọng vào việc đổi mới, hiện
đại hoá tài sản cố định tạo ra năng lực sản xuất cho nền kinh tế.
Căn cứ và hình thức cấp tín dụng, tín dụng được chia là 4 loại.
Cho vay: Là hình thức cấp tín dụng theo đó các tổ chức tín dụng giao
cho khách hàng sử dụng một khoản tiền dùng vào mục đích riêng của khách
hàng trong một thời hạn nhất định theo thoả thuận với nguyên tắc hoàn trả
cả gốc cả lãi. Đây là hình thức truyền thống chiếm tỷ trọng lớn nhất trong
các hình thức cấp tín dụng.
Chiết khấu: Là việc tổ chức tín dụng mua lại giấy tờ có giá chưa đến
hạn thanh toán của khách hàng.
Thuê tài chính: Là thuê tài sản mà bên cho thuê có sự chuyển giao
DNNVV thường nhỏ, tài sản thế chấp ít, chưa đủ điều kiện, uy tín của DN
còn thấp nên quy mô tín dụng còn nhỏ bé.
* Hoạt động theo nguyên tắc thương mại và thị trường
NHTM trong nền kinh tế thị trường có quan hệ và tác động với rất
nhiều các chủ thể của nền kinh tế và tham gia vào hầu hết các lĩnh vực,
ngành nghề vì vậy hoạt động tín dụng DNNVV phải tuân theo nguyên tắc
thương mại và thị trường.
17
* Hoạt động luôn hướng tới hiệu quả và tuân thủ nguyên tắc hoàn trả.
Mục tiệu hoạt động của NHTM là lợi nhuận, thu nhập từ tín dụng
DNNVV chiếm một tỷ trọng đáng kể trong tổng thu, vì vậy luôn tìm những
cơ hội đầu tư hiệu quả và với chi phí thấp nhất. Nguồn vốn kinh doanh của
ngân hàng chủ yếu là vốn đi huy động từ nền kinh tế và dân cư, vì vậy tín
dụng DNNVV phải được hoàn trả đúng hạn .
* Hoạt động tuân thủ theo quy định nghiêm ngặt và quy chế riêng
Để bảo vệ người gửi tiền và đi vay ngân hàng trung ương áp dụng những
quy định nhằm đảm bảo an toàn trong kinh doanh như: Không được phép
cho một khách hàng vay vượt quá 15% so với vốn tự có, quy định về giám
sát, quản trị rủi ro …
1.1.2.3. Vai trò của tín dụng ngân hàng đối với DNNVV
Trong nền kinh tế thị trường để tồn tại và phát triển các DNNVV rất cần
đến nguồn vốn tín dụng, vì vậy tín dụng ngân hàng đóng vai trò quan trọng
thúc đẩy các DNNVV phát triển, thể hiện như sau:
* Tín dụng ngân hàng bổ xung vốn cho các DNNVV, đảm bảo hoạt động
của DNNVV phát triển ổn định và nâng cao năng lực cạnh tranh.
Cạnh tranh là một quy luật khách quan của nền kinh tế thị trường, để tồn
tại và phát triển chiếm lĩnh thị trường, thị phần, các DNNVV cần thiết phải
cải tiến kỹ thuật, đổi mới máy móc thiết bị, dây truyền công nghệ, nâng cao
chất lượng sản phẩm. Mặt khác để hoạt động sản xuất kinh doanh diễn ra
18
từng thời kỳ. qua đó nó cho thấy sự tăng trưởng của nền kinh tế cũng như
sự phát triển của ngân hàng.
Đối với ngân hàng thương mại:
Mở rộng tín dụng được quan niệm là gia tăng dư nợ cho vay bằng nhiều
cách như: Mở rộng thêm đối tượng, phạm vi cho vay nhiều ngành nghề, lĩnh
vực, vùng kinh tế; đa dạng hình thức, phương thức cho vay.
Mở rộng tín dụng mới chỉ đề cập đến tăng trưởng dư nợ thì chưa đủ mà
phải quan tâm đến thu nhập từ mở rộng tín dụng và chất lượng tín dụng,
tăng trưởng dư nợ phải gắn liền nâng cao chất lượng tín dụng và phải đặt
trong mối quan hệ với các chỉ tiêu kinh tế, tài chính khác.
* Sự cần thiết phải mở rộng tín dụng đối với DNNVV
Hoạt động tín dụng DN nói chung và tín dụng đối với DNNVV, đáp ứng
nhu cầu vốn cần thiết cho nền kinh tế, là kênh dẫn vốn gián tiếp, đóng vai
trò quan trọng trong việc chuyển dịch một khối lượng lớn các nguồn lực tài
chính trong xã hội, để đầu tư cho phát triển kinh tế xã hội và thực hiện mục
tiêu công nghiệp hoá, hiện đại hoá Đất nước.
Hiện nay tín dụng vẫn còn là nghiệp vụ chính, đem lại nguồn thu chủ yếu
cho các NHTM, trong đó doanh thu từ tín dụng DNNVV chiếm tỷ trọng lớn
20
trong tổng doanh thu của ngân hàng, nó mang tính quyết định sự tồn tại và
phát triển của các NHTM trong giai đoạn hiện nay.
Mở rộng tín dụng đối với DNNVV tạo tiền đề cho ngân hàng mở rộng và
phát triển các hoạt động dịch vụ khác, từng bước thay đổi cơ cấu doanh thu
theo hướng giảm dần tỷ trọng doanh thu từ hoạt động cấp tín dụng, tăng dần
tỷ trọng doanh thu từ các hoạt động dịch vụ, đây là một hướng đi mới mà
các NHTM đang lựa chọn.
1.2.2: Các căn cứ để mở rộng tín dụng đối với DNNVV.
Định hướng mục tiêu hoạt động của ngân hàng nông nghiệp
Ngân hàng No&PTNT Việt Nam là NHTM hàng đầu của Việt Nam cả về
vốn và màng lưới hoạt động, có đầy đủ các các điều kiện thuận lợi để cấp tín
Năng lực hiện tại và khả năng phát triển trong tương lai của ngân hàng
Với những lợi thế sẵn có như; Nguồn vốn; Cơ sở vật chất; Hệ thống
màng lưới rộng lớn; Đội ngũ cán bộ có nhiều kinh nghiệm và đội ngũ khách
hàng truyền thống đã quan hệ nhiều năm gắn bó, tín nhiệm, các NHTM đưa
ra nhiều chính sách để giữ khách hàng truyền thống và thu hút khách hàng
tiềm năng để đạt mục tiêu mở rộng tín dụng.
22
1.2.3: Các chi tiêu chủ yếu phản ánh mở rộng tín dụng DNNVV.
Có nhiều chỉ tiêu phản ánh việc mở rộng tín dụng đối với DNNVV, dưới
đây là các chỉ tiêu chủ yếu thường được sử dụng để đánh giá;
1.2.3.1. Các chỉ tiêu định tính
* Một là: Sự thoả mãn của khách hàng về các sản phẩm tín dụng của
ngân hàng.
Trong nền kinh tế thị trường các NHTM, luôn tìm cách để tối đa hoá tài
sản của chủ sở hữu, thông qua chiến lược mở rộng thị trường, thị phần, nâng
cao chất lượng và hiệu quả hoạt động. Vì vậy để mở rộng tín dụng các
NHTM phải không ngừng nâng cao năng lực cạnh tranh, đưa ra các chính
sách tín dụng phù hợp, đa dạng hoá các sản phẩm tín dụng với mức độ linh
hoạt cao và có nhiều tiện ích, mới thoả mãn nhu cầu của khách hàng.
* Hai là: Sự hài lòng của khách hàng về công nghệ và trình độ của cán
bộ ngân hàng.
Trong xu thế toàn cầu hoá hiện nay, thì khoa học công nghệ là một trong
những yếu tố rất cần thiết và quan trọng đối với tất cả các lĩnh vực, đặc biệt
là lĩnh vực ngân hàng. Ngân hàng phải luôn đổi mới trang thiết bị và công
nghệ hiện đại, mới có thể đáp ứng các giao dịch với khách hàng được nhánh
chóng, thuận tiện, đảm bảo an toàn, chính xác. Để tiếp thu được khoa học
công nghệ mới cán bộ ngân hàng phải nâng cao trình độ và kỹ thuật nghiệp
vụ. Trình độ nghiệp vụ của cán bộ ngân hàng cùng với công nghệ hiện đại
sẽ ngày càng thoả mãn hơn những nhu cầu của khách hàng.
1.2.3.2: Các chỉ tiêu định lượng.
1
: là số DNNVV vay vốn năm nay
KH
0
: là số DNNVV vay vốn năm trước
Để tăng trưởng quy mô tín dụng ngoài việc tăng trưởng dư nợ, tăng
mức đầu tư vốn cho từng dự án, thì việc tăng thêm khách hàng là một trong
những chỉ tiêu quan trọng để mở rộng tín dụng.
TN
1
- TN
0
- Tăng trưởng thu nhập từ cho vay DNNVV = x 100%
TN
0
Trong đó : TN
1
: là thu nhập từ cho vay số DNNVV năm nay
TN
0
: là thu nhập từ cho vay DNNVV năm trước
Thu nhập từ hoạt động cho vay DNNVV chủ yếu là thu lãi cho vay sau khi
đã trừ đi chi phí về vốn và các chi phí khác cho hoạt động cho vay đối với
24
DNNVV. Tăng trưởng thu nhập từ hoạt động tín dụng DNNVV là thu nhập
từ hoạt động tín dụng đối với DNNVV năm sau cao hơn năm trước.
* Chỉ tiêu về mở rộng hình thức tín dụng DNNVV
Nói đến hình thức tín dụng là nói đến các loại hình tín dụng ngắn hạn,
trung hạn, dài hạn hoặc cho vay, bảo lãnh ngân hàng, thấu chi. cho thuê tài
chính. Các phương thức cấp tín dụng như từng lần, hạn mức, thấu chi, theo