Mở rộng tín dụng đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ tại Chi nhánh Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Láng Hạ - Pdf 27

Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
Danh mục các ký hiệu viết tắt:
- Doanh nghiệp vừa và nhỏ- DNVVN
- Tài sản cố định- TSCĐ
- Tài sản lưu động- TSLĐ
- Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển Nông thôn- NHNo&PTNT
- Tổ chức tín dụng- TCTD
- Ngân hàng thương mại- NHTM
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
MỤC LỤC
Trang
Lời mở đầu 4
CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TÍN DỤNG NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
6
1- Tổng quan về ngân hàng thương mại 6
1.1 Các hoạt động chủ yếu của ngân hàng thương mại 6
1.2. Các hình thức cho vay của ngân hàng thương mại 10
1.3. Vai trò của tín dụng ngân hàng đối với DNVVN 18
1.4.. Các nhân tố ảnh hưởng đến cho vay các doanh nghiệp vừa
và nhỏ
23
CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG CHO VAY DOANH NGHIỆP VỪA VÀ NHỎ
TẠI CHI NHÁNH NGÂN HÀNG NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG
THÔN LÁNG HẠ.
31
I. Tổng quan về Chi nhánh 31
1. Lịch sử hình thành 31
2. Cơ cấu tổ chức, chức năng, nhiệm vụ của chi nhánh 34
II- Thực trạng hoạt động Cho vay các doanh nghiệp vừa và nhỏ tại
Chi nhánh Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Láng Hạ

của chi nhánh.
71
5. Nâng cao chất lượng cán bộ tín dụng tại chi nhánh. 72
C. Kiến nghị 72
1. Kiến nghị đối với Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thông
Việt Nam
73
2. Kiến nghị Đối với Ngân hàng Nhà nước 73
3. Kiến nghị đối với nhà nước 74
Kết luận 75
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
LỜI MỞ ĐẦU
Hiện nay nền kinh tế thế giớ nói chung và nền kinh tế nước ta nói riêng
đang phát triển rất mạnh mẽ đặc biệt chúng ta đã gia nhập vào tổ chức thương
mại thế giơi WTO. Để đạt được những sự phát triển đó có sự đóng góp của
các DNVVN. Các DNVVN không những đã tạo thu nhập cho nền kinh tế
đóng góp vào sự tăng trưởng kinh tế mà còn giải quyết được việc làm cho
hàng nghìn lao động. Hơn nữa khu vực kinh tế này là một thành phần rất năng
động của nền kinh tế và sự phát triển của thành này cũng là đúng theo định
hướng phát triển kinh tế của Đảng ta. Tuy nhiên do số lượng nhiều và do nhu
cầu của nền kinh tế nên hiện nay các DNVVN đang cần nhu cầu về vốn rất
lớn do vậy đây là một thị trường rất tiềm năng đối với các ngân hàng thương
mại nhưng do những đặc điểm hạn chế của các DNVVN hiện nay các ngân
hàng thương mại vẫn chưa quan tâm đúng mức tới thị trường này. Xuất phát
từ những lý do đó em đã quyết định lựa chọn đề tài: “ Mở rộng tín dụng đối
với doanh nghiệp vừa và nhỏ tại Chi nhánh Ngân hàng Nông nghiệp và Phát
triển Nông thôn Láng Hạ” làm chuyên đề tốt nghiệp.
Mục đích nghiên cứu của chuyên đề là tìm hiểu về hoạt động cho vay đối
với các DNVVN tại Chi nhánh cũng như đánh giá những kết quả đã đạt được

kế hoạch tài chính, họ thường tìm đến ngân hàng để nhận được lời tư vấn.
Ngân hàng là tổ chức thu hút tiết kiệm lớn nhất trong hầu hết mọi nền kinh tế.
Hàng triệu cá nhân, hộ gia đình và các doanh nghiệp, các tổ chức kinh tế- xã
hội đều gửi tiền tại ngân hàng. Ngân hàng đóng vai trò thủ quỹ cho toàn xã
hội. Thu nhập từ ngân hàng là nguồn thu quan trọng của nhiều hộ gia đình.
Ngân hàng là một trong những tổ chức trung gian tài chính quan trọng
nhất. Ngân hàng thực hiện các chính sách kinh té, đặc biệt là chính sách tiền
tệ, vì vậy là một kênh quan trọng trong chính sách kinh tế của chính phủ
nhằm ổn định kinh tế. Vậy nói một cách ngắn gọn ngân hàng là gì?
Ngân hàng thương mại là tổ chức tín dụng vay tiền của người gửi và
cho các công ty và cá nhân vay lại. Tiền huy động được của người gửi gọi là
tài sản nợ của ngân hàng. Tiền cho công ty và cá nhân vay lại cũng như tiền
gửi ở các ngân các ngân hàng khác và số trái phiếu ngân hàng sở hữu gọi là
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
tài sản có của ngân hàng. Phần chênh lệch giữa số tiền huy động và được và
số tiền đem cho vay, gửi ngân hàng và mua trái phiếu gọi là vốn tự có của
ngân hàng thương mại. Phần tài sản có tính thanh khoản được giữ để đề
phòng trường hợp tiền gửi vào ngân hàng bị rút ra đột ngột gọi là tỷ lệ dự trữ
của ngân hàng. Toàn bộ số vốn của ngân hàng được chia làm hai loại: Vốn
cấp 1 và vốn cấp 2. Vốn cấp 1 còn gọi là vốn nòng cốt, về cơ bản bao gồm
vốn điều lệ cộng với lợi nhuận không chia cộng với các quỹ dự trữ được lập
trên cơ sở trích lập từ lợi nhuận của ngân hàng như quỹ dự trữ bổ sung vốn
điều lệ, quỹ dự phòng tài chính và quỹ đầu tư phát triển. Vốn cấp 2 về cơ bản
bao gồm: Phần giá trị tăng thêm do định giá lại tài sản của Ngân hàng, nguồn
vốn gia tăng hoặc bổ sung từ bên ngoài và dự phòng chung cho rủi ro tín
dụng. Trên đây chỉ là định nghĩa cơ bản nhất về ngân hàng bởi trên thực tế
hiện nay rất nhiều tổ chức tài chính bao gồm cả các công ty kinh doanh chứng
khoán, công ty môi giớ chứng khoán, quỹ tương hỗ và công ty bảo hiểm hàng
đầu đang cố gắng cung cấp các dịch vụ của ngân hàng. Ngược lại ngân hàng

c- Chiết khấu thương phiếu và cho vay thương mại
Chiết khấu thương phiếu và cho vay thưong mại là một trong những hoạt
động truyền thống của ngân hàng thương mại. Ngay ở thời kỳ đầu, các ngân
hàng đã chiết khấu thương phiếu mà thực tế là cho vay đối với những người
bán. Người bán bán các khoản nợ( khoản phải thu ) của khách hàng cho ngân
hàng để lấy tiền mặt. Đó là bước chuyển tiếp từ chiết khấu thương phiếu sang
cho vay trực tiếp đối với các khách hàng, giúp họ có vốn để mua hàng dự trữ
xây dựng văn phòng và thiết bị sản xuất nhằm mở rộng sản xuất kinh doanh.
d- Bảo quản vật có giá
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
Vật có giá như vàng bạc đá quý … và ngay từ thời trung cổ các ngân
hàng đã thực hiện việc lưu giữ vật có giá cho khách hàng. Khi lưu giữ các vật
có giá ngân hàng sẽ ký phát cho khách hàng một loại giấy biên nhận và giấy
biên nhận này sẽ được lưu hành như tiền và đó chính là hình thức đầu tiên của
séc và thẻ tín dụng. Ngày nay, nghiệp vụ bảo quản vậy có giá cho khách hàng
thường do phòng bảo quản của ngân hàng thực hiện.
e- Tài trợ các hoạt động của chính phủ
Chính phủ các nước vẫn thường có tình trạng có những thời điểm thu
không đủ chi tức lá thâm hụt ngân sách và chính phủ phải tìm cách cân bằng
ngân sách mà một trong những cách đó là tìm đến các ngân hàng. Nếu ngân
hàng nào đó không muốn cho chính phủ vay vì rủi ro lớn thì chính phủ có thể
dùng một số đặc quyền của mình để buộc các ngân hàng phải cho vay
f- Cung cấp các tài khoản giao dịch
Cuộc cách mạng công nghiệp ở châu Âu và châu Mỹ đã làm cho nền
kinh tế thế giới thay đổi một cách mạnh mẽ và cùng với sự phát triển đó trong
lĩnh vực ngân hàng cũng đánh dấu một bước phát triển mới bằng sự ra đời
những hoạt động và dịch vụ ngân hàng mới. Một dịch vụ mới, quan trọng
nhất được phát triển trong thời kỳ này là tài khoản tiền gửi giao dịch một tài
khoản cho phép người gửi tiền viết séc thanh toán cho việc mua hàng hoá và

thương phiếu và thực hiện chiết khấu. Do tối thiểu có hai người cam kết trả
tiền cho ngân hàng nên độ an toàn của thương phiếu tương đối cao (trừ trường
hợp ngân hàng ký miễn truy đòi đối với khách hàng). Hơn nữa, ngân hàng
thương mại có thể tái chiết khấu thương phiếu tại ngân hàng Nhà nước để đáp
ứng nhu cầu thanh khoản với chi phí thấp (vì vậy thương phiếu còn được coi
là loại tài sản có khả năng chuyển nhượng- có tính thanh khoản cao)
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
1.2.1.2 Cho vay
a. Thấu chi
Thấu chi là nghiệp vụ cho vay trong đó ngân hàng cho phép người vay
được chi trội (vượt) trên số dư tiền gửi thanh toán của mình đến một giới hạn
nhất định và trong khoảng thời gian xác định. Giới hạn này được gọi là hạn
mức thấu chi. Thấu chi dựa trên cơ sở thu và chi của khách hàng không phù
hợp về thời gian và quy mô. Thời gian và số lượng thiếu có thể dự đoán dựa
vào dự đoán ngân quỹ song không chính xác Thấu chi là hình thức tín dụng
ngắn hạn, linh hoạt, thủ tục đơn giản, phần lớn là không có đảm bảo, có thể
cấp cho cả doanh nghiệp lẫn cá nhân vài ngày trong tháng vài tháng trong
năm. Do vậy, hình thức cho vay này tạo điều kiện thuận lợi cho khách hàng
trong quá trình thanh toán: chủ động, nhanh, kịp thời. ví dụ như những người
đi du lịch trước khi đi du lịch họ có thể xin thấu chi để trong chuyến đi đề
phòng những khoản chi bất thường hoặc khi họ muốn đi tiếp đến một địa
điểm du lịch khác mà chưa xác đ ịnh trước
Trong quá trình hoạt động, khách hàng có thể ký séc, lập uỷ nhiệm
chi, mua thẻ… vượt quá số dư tiền gửi để chi trả (song trong hạn mức thấu
chi). Khi khách hàng có tiền nhập về tài khoản tiền gửi, ngân hàng sẽ thu nợ
gốc và lãi. Số lãi mà khách hàng phải trả:
Số lãi phải trả= lãi suất thấu chi * thời gian thấu chi* Số tiền thấu chi
Các khoản chi quá hạn mức thấu chi sẽ chịu lãi suất phạt và bị đình chỉ
sử dụng hình thức này.

vốn cho sản
xuất kinh
doanh
= Nhu cầu vốn đầu tư
cho TSLĐ và TSCĐ
- Giá trị tài sản và chi
phí không thuộc đối
tượng tài trợ của NH
Nếu cho vay dựa trên giá trị tài sản đảm bảo:
Số lượng
cho vay
= Giá trị tài
sản đảm bảo
x Tỷ lệ cho vay trên
giá trị tài sản đảm bảo
Theo từng kỳ hạn nợ trong hợp đồng, ngân hàng sẽ thu gốc và lãi.
Trong quá trình khách hàng sử dụng tiền vay, ngân hàng sẽ kiểm soát mục
đích và hiệu quả sử dụng, nếu thấy có dấu hiệu vi phạm hợp đồng, ngân hàng
sẽ thu nợ trước hạn, hoặc chuyển nợ quá hạn. Lãi suất có thể cố định hoặc thả
nổi theo thời điểm tính lãi.
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
Nghiệp vụ cho vay từng lần tương đối đơn giản. Ngân hàng có thể kiểm
soát từng món vay tách biệt. Tiền cho vay dựa vào giá trị của tài sản đảm bảo.
c. Cho vay theo hạn mức
Cho vay theo hạn mức tín dụng là hình thức tín dụng của ngân hàng
theo đó ngân hàng sẽ thoả thuận cấp cho khách hàng hạn mức tín dụng. Hạn
mức tín dụng có thể tính cho cả kỳ hoặc cuối kỳ. Có nghĩa là khách hàng có
thể vay, trả đối với ngân hàng nhiều lần trong kỳ nhưng không được vay quá
hạn mức mà ngân hàng đã cấp cho khách hàng.

nữa hay không tuỳ mối quan hệ giữa ngân hàng và khách hàng cũng như tình
hình tài chính của khách hàng.
Việc cho vay dựa trên luân chuyển của hàng hoá nên cả ngân hàng lẫn
doanh nghiệp đều phải nghiên cứu kế hoạch lưu chuyển hàng hoá để dự đoán
dòng ngân quỹ trong thời gian tới.
Người vay cam kết các khoản vay sẽ được trả cho người bán và mọi
khoản thu bán hàng đều dùng để trả vào tài khoản tiền vay trước khi được
trích trả lại tài khoản tiền gửi thanh toán của khách hàng.
Khi vay, khách hàng chỉ cần gửi đến ngân hàng các chứng từ hoá đơn
nhập hàng và số tiền cần vay. Ngân hàng cho vay và trả tiền cho người bán.
Theo hình thức này, giá trị hàng hoá mua vào (có hoá đơn, hợp pháp, hợp lệ,
đúng đối tượng) đều là đối tượng được ngân hàng cho vay; thu nhập bán hàng
đều là nguồn để chi trả cho ngân hàng. Ngân hàng sẽ cho vay theo tỷ lệ nhất
định tuỳ theo khối lượng và chất lượng quan hệ nợ nần của người vay. Các
khoản phải thu và cả hàng hoá trong kho trở thành vật đảm bảo cho khoản cho
vay. Cho vay luân chuyển thường áp dụng đối với các doanh nghiệp thương
nghiệp hoặc doanh nghiệp sản xuất có chu kỳ tiêu thụ ngắn ngày, có quan hệ
vay trả thường xuyên với ngân hàng.
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
Cho vay luân chuyển rất thuận tiện cho các khách hàng. Thủ tục vay
chỉ cần thực hiện một lần cho nhiều lần vay. Khách hàng được đáp ứng nhu
cầu vốn kịp thời, vì vậy việc thanh toán cho người cung cấp sẽ nhanh gọn.
Nếu doanh nghiệp gặp khó khăn trong tiêu thụ (hàng hoá tồn đọng…)
thì ngân hàng sẽ gặp khó khăn trong việc thu hồi vốn do thời hạn của khoản
vay không được quy định rõ ràng.
e. Cho vay trả góp
Cho vay trả góp là hình thức tín dụng, theo đó ngân hàng cho phép
khách hàng trả gốc làm nhiều lần trong thời hạn tín dụng đã thoả thuận. Cho
vay trả góp thường được áp dụng đối với các khoản vay trung và dài hạn, tài

vay sử dụng tiền sai mục đích.
Cho vay gián tiếp thường được áp dụng đối với thị trường có nhiều
món vay nhỏ, nhiều người phân tán, cách xa ngân hàng. Trong trường hợp
như vậy, cho vay qua trung gian có thể tiết kiệm chi phí cho vay (phân tích,
giám sát, thu nợ…).
Cho vay qua trung gian đều nhằm giảm bớt rủi ro, chi phí của ngân
hàng. Tuy nhiên nó cũng bộc lộ các khiếm khuyết. Nhiều trung gian đã lợi
dụng vị thế của mình, để tăng lãi suất cho vay lại, hoặc giữ lấy số tiền của các
thành viên khác cho riêng mình. Các nhà bán lẻ có thể lợi dụng để bán hàng
kém chất lượng hoặc với giá đắt cho người vay vốn.
g- Cho thêu tài sản: do tài sản cho thêu thường có giá trị lớn khách
thường không đủ khả năng mua hoặc nhu cầu sử dụng tài sản của khách hàng
không lâu dài nên ngân hàng đi mua tài sản theo nhu cầu của khách hàng và
cho thêu lại
h - Bảo lãnh ( tái bảo lãnh): Là hình thức cam kết của ngân hàng dưới
hình thức thư bảo lãnh về việc thực hiện nghĩa vụ tài chính thay cho khách
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
hàng của ngân hàng khi khách hàng không thực hiện đúng nghĩa vụ như cam
kết.
1.2.2 Các hình thức cho vay phân theo thời gian
1.2.2.1. Tín dụng ngắn hạn
- Tín dụng ngắn hạn: Là tín dụng có thời hạn từ 12 tháng trở xuống. Tín
dụng ngắn hạn nhằm tài trợ cho tài sản lưu động hoặc nhu cầu sử dụng vốn
ngắn hạn của khách hàng. Ngân hàng có thể cho vay dưới hình thức cho vay
trực tiếp hoặc cho vay gián tiếp, cho vay theo món hoặc theo hạn mức, có
hoặc không có đảm bảo, dưới hình thức chiết khấu, thấu chi hoặc luân chuyển
1.2.2.2. Tín dụng trung hạn
- Tín dụng trung hạn: là tín dụng có thời gian từ 1 năm đến 5 năm. Tín
dụng trung hạn nhằm đáp ứng nhu cầu về đối với các doanh nghiệp có nhu

doanh nghiệp thì chia ra làm hai loại hình doanh nghiệp: Doanh nghiệp lớn và
doanh nghiệp vừa và nhỏ (DNVVN). Các tiêu chuẩn để xác định quy mô
doanh nghiệp thường được các nước sử dụng đó là: (1) số lượng lao động, (2)
tổng nguồn vốn hay tổng tài sản và (3) doanh thu trung bình hàng năm.
Tuy nhiên, để có thể đưa ra một khái niệm chính xác về DNVVN là rất
khó bởi vì quy mô doanh nghiệp lớn hay nhỏ ở mỗi quốc gia phụ thuộc vào
mức độ phát triển kinh tế ở quốc gia đó cũng như mục đích phân loại trong
từng thời điểm nhất định. Hơn nữa, cách xác định các doanh nghiệp vừa và
nhỏ trong từng ngành nghề kinh doanh là khác nhau. Ví dụ như doanh nghiệp
công nghiệp có thể coi là nhỏ trong khi một doanh nghiệp thương mại cùng
cỡ lại là doanh nghiệp vừa hoặc lớn bởi vì doanh nghiệp công nghiệp cần
nhiều lao động hơn.
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
Hiện nay, theo tiểu chuẩn của Ngân hàng Thể giới- WB (World Bank)
các doanh nghiệp vừa và nhỏ được chia theo quy mô như sau:
Bảng 1: Tiêu chí xác định DNVVN của Ngân hàng Thế giới
Loại hình
DN
Số lao động
(người)
Doanh thu
hàng năm
(USD)
Tổng tài sản
(USD)
DN siêu nhỏ 1- 9 <0,1 triệu <0,1 triệu
DN nhỏ 10- 49 <3 triệu <3 triệu
DN vừa 50- 300 <15 triệu <15 triệu
Nguồn: http:// www. Worldbank. org

động thường xuyên hàng năm không qua 300 người. Vì vậy không có một
khái niệm chính xác đối với các DNVVN mà theo tiêu chí đánh giá của từng
quốc gia.
b. Đặc điểm của các doanh nghiệp vừa và nhỏ
Có thể nói các DNVVN là một thành phần kinh tế không thể thiếu
trong nền kinh tế của bất kỳ một quốc gia nào bởi nó giúp cho những doanh
nghiệp không có vốn lớn vẫn có thể hoạt động kinh doanh tồn tại và phát triển
trong nền kinh tế. Giải thích điều đó là DNVVN là một thực thể kinh tế mang
những đặc điểm riêng không giống bất kỳ một doanh nghiệp nào trong nền
kinh tế. Chúng ta có thể dễ dàng nhận ra một số đặc điểm nổ bật của các
DNVVN mang lại cho các doanh nghiệp này những ưu thế nhất định như sau:
* Về quy mô nhỏ so với các doanh nghiệp lớn nhưng chính đặc điểm
này giúp cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ năng động, linh hoạt, thích ứng kịp
thời với những biến động của thị trường, có khả năng tiếp cận và đáp ứng
những nhu cầu nhỏ lẻ mang tính khu vực tốt hơn các doanh nghiệp lớn, có thể
tận dụng công nghệ kỹ thuật mới kết hợp với sự đa dạng hoá về mặt hàng tạo
điều kiện sản xuất kinh doanh phù hợp với nhu cầu của thị trường để tăng khả
năng cạnh tranh.
* Bộ máy tổ chức sản xuất và quản lý không cồng kềnh, phức tạp như
trong các doanh nghiệp lớn mà khá đơn giản, gọn nhẹ nên tiết kiệm phần lớn
chi phí, góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động trong doanh nghiệp.
* Vốn đầu tư vào khu vực DNVVN thương ít nhưng khả năng thu vốn
đầu tư nhanh, tốc độ tăng trưởng lợi nhuận hàng năm cao. Điều này đã thu hút
một số lượng vốn đầu tư đáng kể để hỗ trợ và phát triển các DNVVN.
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
* Do quy mô nhỏ, điều kiện làm việc không tốt bằng ở các doanh
nghiệp lớn nên trình độ lao động trong khu vực DNVVN nói chung thấp hơn
so với các doanh nghiệp lớn nhưng tạo điều kiện thu hút số lượng lớn lao
động nhàn rỗi trong xã hội đến với các DNVVN, giải quyết tình trạng thất

Trên đây là những đặc điểm nỗi bật của DNVVN và chính những đặc
điểm đó nó đã tạo ra những ưu điểm và nhược điểm cho các DNVVN.
1.3.2. Vai trò của tín dụng ngân hàng doanh nghiệp vừa và nhỏ.
Bất kỳ một doanh nghiệp nào muốn hoạt động và phát triển được thì họ
luôn cần phải có vốn. Có thể nguồn vốn đó là vốn chủ sở hữu hoặc là vốn vay
và hiện nay tín dụng ngân hàng ngày càng có vai trò quan trọng đối với hoạt
động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp nói chung và các doanh
nghiệp vừa và nhỏ nói riêng vai trò đó được biểu hiện cụ thể như sau:
- Tín dụng ngân hàng là một công cụ tích tụ và tập trung vốn để hỗ trợ
cho các doanh nghiệp.
Trong điều kiện nền kinh tế thị trường, việc mở rộng sản xuất theo
chiều rộng và theo chiều sâu là yêu cầu khách quan của việc tồn tại và phát
triển của các doanh nghiệp, nhất là đối với các doanh nghiệp vừa và nhỏ.
Với tư cách là một trung tâm tín dụng, các ngân hàng thương mại có
vai trò rất quan trọng trong việc tích tụ và tập trung mọi nguồn vốn tạm thời
nhàn rỗi trong các cơ sở sản xuất kinh doanh của các thành phần kinh tế,
trong các tổ chức văn hoá xã hội và trong các tầng lớp dân cư, trong nước và
ngoài nước để đáp ứng nhu cầu vốn cho các doanh nghiệp thực hiện tái sản
xuất mở rộng theo chiều rộng và tái sản xuất mở rộng theo chiều sâu, hoặc bù
đắp phần vốn thiếu hụt để cho số vốn tự có trong các doanh nghiệp vừa và
nhỏ chu chuyển bình thường. Ngoài ra tín dụng ngân hàng còn có các công
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
trình trọng điểm có ý nghĩa then chốt của nền kinh tế quốc dân, đẩy mạnh sự
nghiệp công nghiệp hoá và hiện đại hoá đất nước.
- Tín dụng ngân hàng hỗ trợ cho các doanh nghiệp trong việc tự do di
chuyển vốn từ ngành này sang ngành khác.
Như chúng ta đã biết, trong các ngành sản xuất khác nhau do điều kiện
kinh tế, kỹ thuật, tổ chức quản lý khác nhau, do đó cùng một lượng vốn đầu tư
vào các ngành như nhau, nhưng lợi nhuận thu được trong cùng một thời gian

và đảm bảo được tính cạnh tranh trên thị trường với nguyên tắc hoàn trả đúng
hạn và có lãi.
Trong các nhân tố thuộc về bản thân ngân hàng trước đến phải kể đến
những nhân tố như: Chính sách tín dụng, công tác tổ chức, chất lượng đội ngũ
cán bộ ngân hàng, quy mô vốn của ngân hàng, thông tin tín dụng, quy trình
nghiệp vụ tín dụng…
* Chính sách tín dụng:
Chính sách tín dụng là một hệ thống biện pháp có liên quan đến việc
khuyếch trương tín dụng hoặc hạn chế tín dụng để đạt được mục tiêu đã
hoạch định của ngân hàng thương mại đó.
Việc hoạch định chính sách tín dụng có ý nghĩa quyết định đến sự
thành công hay thất bại của mỗi ngân hàng. Một chính sách tín dụng đúng đắn
sẽ thu hút được nhiều khách hàng , đảm bảo khả năng sinh lời của hoạt động
tín dụng dựa trên cơ sở phân tán rủi ro, chấp hành đúng luật pháp và đường
lối của ngân hàng Nhà nước, đảm bảo công bằng xã hội. Bất kỳ một ngân
hàng nào muốn nâng cao hiệu quả hoạt động của mình thì phải có chính sách
tín dụng phù hợp với điều kiện cụ thể của ngân hàng.
Hoạt động tín dụng trong nền kinh tế thị trường chứa đựng nhiều rủi ro.
Khi ngân hàng gặp những rủi ro thì có thể đi đến phá sản hoặc bị thiệt hại lớn,
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
mất uy tín với khách hàng và cơ quan quản lý Nhà nước. Vì vậy khi hoạch
định chính sách tín dụng, các nhà hoạch định luôn coi trọng việc đảm bảo
mục tiêu phải đạt được do đó có thể nói rằng: Chất lượng tín dụng của ngân
hàng có hiệu quả hay không còn phụ thuộc vào việc xây dựng một chính sách
tín dụng ngân hàng có đúng đắn, phù hợp không.
*Công tác tổ chức ngân hàng
Để tạo điều kiện cho việc quản lý có hiệu quả các nguồn vốn tín dụng
thì cần có sự phối hợp nhịp nhàng giữa các phòng ban,có sự thống nhất đoàn
kết từ trên xuống, từ ban lãnh đạo đến cán bộ công nhân viên. Điều đó có


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status