Giải pháp mở rộng tín dụng đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ tại NHNO&PTNT B ách Khoa - Pdf 26

MỤC LỤC
1
Lời mở đầu
1. Tính cấp thiết của đề tài:
Công nghiệp hoá là vấn đề mang tính quy luật đối với tất cả
các nước đang phát triển. Mấy thập kỷ qua, làn sóng công nghiệp
hoá đã diễn ra mạnh mẽ ở các nước đang phát triển và thực tế cho
thấy rằng, trong xu hướng khu vực hoá, toàn cầu hoá các quan hệ
kinh tế; trong xu hướng hội nhập, đan xen phát triển, thì việc tạo vốn
cho công nghiệp hoá bằng việc huy động, khai thác, nâng cấp nguồn
vốn đầu tư cho các thành phần kinh tế là hết sức cần thiết và ngày
càng có ý nghĩa quan trọng.
2
Từ năm 1986, sau Đại hội lần thứ 6 của Đảng Cộng Sản Việt
Nam, Chính phủ đã đưa ra chương trình đổi mới quản lý nền kinh tế,
chuyển đổi nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung sang nền kinh tế hàng
hoá nhiều thành phần vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý
của Nhà Nước. Kinh tế nước ta đang ngày càng phát triển với sự góp
mặt của nhiều thành phần kinh tế khác nhau, đặc biệt các doanh
nghiệp vừa và nhỏ được xem là những nguồn nhân lực mạnh nhất và
trong tương lai không xa chính họ sẽ tạo nên sự tăng trưởng mạnh
mẽ cho nền kinh tế nước nhà, là tiền đề để phát triển nền kinh tế mũi
nhọn, phát triển cơ chế công nghiệp hoá hiện đại hoá của toàn xã
hội. Tuy nhiên, để đảm bảo sự phát triển bền vững và hiệu quả nền
kinh tế quốc dân đã đề ra, đồng thời để hội nhập với xu hướng hội
nhập quốc tế, các thành phần kinh tế phải biết khai thác toàn diện và
hiệu quả mọi nguồn lực, nhất là phải tận dụng được sự hỗ trợ của hệ
thống NH. Muốn vậy, ngành NH phải giải quyết hàng loạt khó khăn
mà hiện nay doanh nghiệp đang gặp phải. Đây cũng đang là mỗi
quan tâm đặc biệt của các NHTM, bản thân các doanh nghiệp và các
tổ chức tín dụng nhằm tìm ra các giải pháp nâng cao chất lượng tín

4
Quá trình thực hiện đề tài đã vận dụng tổng hợp các phương
pháp: phương pháp kết hợp lịch sử với logic, phương pháp kết hợp
phân tích với tổng hợp, phương pháp thống kê và so sánh... đồng
thời tham khảo các tài liệu và các luận văn của những lớp trước để
rút ra những kết luận có tính phổ biến chung về quá trình cho vay
DNV&N.
4. Kết cấu đề tài
Ch ¬ng 1: Những vấn đề cơ bản về tín dụng đối với DNV&N
của NHTM
Ch ¬ng 2: Thực trạng hoạt động tín dụng đối với các doanh
nghiệp vừa và nhỏ tại chi nhánh NHN
O
&PTNT Bách Khoa
Ch ¬ng 3: Một số giải pháp nhằm mở rộng tín dụng đối với các
DNV&N tại chi nhánh NHN
O
&PTNT Bách Khoa
5
Danh mục những chữ viết tắt
- NHTM: Ng ân Hàng Thương Mại
- NHN
O
&PTNT: Ngân hàng nông nghiệp và phát triển
nông thôn
- NHNN: Ngân hàng nhà nước
- DNV&N: Doanh nghiệp vừa và nhỏ
- DNNN: Doanh nghiệp nhà nước
6
CHƯƠNG 1

động được của ngân hàng. Dân cư và các doanh nghiệp nhận thấy
rằng mình có một lượng vốn không dùng đến tạm thời hoặc cũng có
thể họ có nhu cầu nhờ chi đối với ngân hàng để thuận tiện cho hoạt
động của mình nên họ quyết định gửi số tiền của mình để nhận được
khoản phần thưởng của ngân hàng cho việc đã sẵn sàng bỏ ra một
khoản tiền cho ngân hàng sử dụng. Đây là các khách hàng của ngân
hàng và đối với khách hàng mà nói thì đây cũng là một phương pháp
vừa tiết kiệm lại vừa sinh lời từ khoản tiền nhàn rỗi của mình chính
là những khoản tiền gửi.
Thứ hai, tiền gửi là nguồn vốn lớn nhất của ngân hàng nhưng
không chỉ thế, vốn nợ của ngân hàng còn được hình thành từ các
khoản tiền vay, ngân hàng thương mại có thể vay tiền ngân hàng
trung ương bằng cách chiết khầu hoặc tái chiết khấu thương phiếu.
8
Các thương phiếu đã được ngân hàng chiết khấu (hoặc tái chiết
khấu) trỏ thành tài sản của họ. Khi cần tiền, ngân hàng mang những
thương phiếu này tới ngân hàng nhà nước tái chiết khấu lại, như vậy
trong ngắn hạn làm cho lượng tiến mặt trong két của ngân hàng
thương mại tăng lên đồng nghĩa với thương phiếu của họ cũng giảm
đi. Cũng có thể ngân hàng thương mại vay các tổ chức tín dụng khác
trong thị trường liên ngân hàng tuy nhiên việc đi vay các tổ chức tín
dụng khác thường ít được áp dụng hơn do chi phí của các khoản vay
này cao hơn là vay ngân hàng trung ương. Nếu vay các ngân hàng
khác thì dự trữ của ngân hàng thiếu vốn đi vay sẽ tăng lên và ngược
lại với ngân hàng thừa vốn cho vay trong ngắn hạn. Ngoài ra, ngân
hàng thương mại còn đi vay trên thị trường vốn bằng cách phát hành
các loại giấy nợ( kỳ phiếu, tín phiếu, trái phiếu) trên thị trường vốn.
Nhờ vậy mà các nguồn vốn trung và dài hạn của ngân hàng có thể
tăng lên đảm bảo.
Thứ ba, ngân hàng cũng còn một lượng vốn nợ khác hình

đầu tư trong khi vẫn mang lại nguồn thu lớn cho ngân hàng. Ở một
10
số ngân hàng lớn trên thế giới như Citibank, HSBC..thì tỷ trọng lợi
nhuận thu từ dịch vụ lên đến 20%. Ngày nay, lợi nhuận từ các hoạt
động dịch vụ này ngày càng tăng cao và chiếm vị trí quan trọng
trong hoạt động ngân hàng
1.2 Khái quát về DNV&N
1.2.1.Khái niệm DNNVV:
Phát triển DNV&N là một nhiệm vụ quan trọng trong chiến lược phát
triển kinh tế -xã hội nước ta .Bởi vì sự thành đạt của các doanh nghiệp
DNNVV là khái niệm tương đối đối với doanh nghiệp lớn. Phương
thức phân loại DNNVV thường là căn cứ các chỉ tiêu chuẩn như số
lượng nhân viên, tổng số vốn, tổng tài sản, thị phần của doanh nghiệp
v.v… Vì vậy, trình độ phát triển kinh tế ở các nước là khác nhau, dẫn
đến các trị số của các chỉ tiêu trên cũng khác nhau. Do đó, khái niệm
DNNVV ở mỗi nước là không giống nhau.
Ở Việt Nam, Chính phủ đã ban hành Nghị định 90/2001/NĐ-
CP ngày 23/11/2001 tại điều 3 đã đưa ra khái niệm mới về DNN&V:
“ Doanh nghiệp nhỏ và vừa là cơ sở sản xuất kinh doanh độc lập, đã
đăng ký kinh doanh theo pháp luật hiện hành, có vốn đăng ký không
vượt quá 10 tỷ đồng hoặc số lao động trung bình hàng năm không
quá 300 người”.
Khu vực DNN&V ở Việt Nam hiện nay bao gồm:
- Các doanh nghiệp nhà nước có quy mô vừa và nhỏ kinh doanh
độc lập.
11
- Các hợp tác xã có quy mô vừa và nhỏ đăng kí hoạt động theo
luật hợp tác xã.
- Các công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn, doanh
nghiệp tư nhân có quy mô vừa và nhỏ kinh doanh độc lập đăng kí

( GSO) và ngân hàng thế giới (WB) tại Việt Nam công bố ngày
6/12/2006, số lượng doanh nghiệp thực tế đang hoạt động tính đến
31/12/2005 là 113.352 doanh nghiệp, tăng 23,54% so với
31/12/2004. Trong đó, doanh nghiệp thuộc lĩnh vực công nghiệp
chiếm 22,55%, doanh nghiệp hoạt động trong thương nghiệp chiếm
41,59%, trong xây dựng chiếm 13,46%.
1.2.2.1. Những điểm mạnh của doanh nghiệp vừa và nhỏ:
Trong nền kinh tế của một quốc gia, hệ thống các doanh nghiệp
đóng góp một phần không nhỏ vào sự phát triển và tăng trưởng. Hệ
thống các doanh nghiệp bao gồm các doanh nghiệp lớn, các
DNV&N. Mỗi loại doanh nghiệp đó đều có những điểm mạnh,
những khó khăn của mình trong quá trình hoạt động. Các doanh
nghiệp lớn họ gặp nhiều những khó khăn về mức độ rủi ro; bất lợi về
quy mô dẫn đến khả năng thay đổi mẫu mã sản phẩm, khả năng đa
dạng hóa đầu tư, kinh phí cao, kênh phân phối, khả năng xâm nhập
13
thị trường; hạn hẹp trong các lĩnh vực kinh doanh; cồng kềnh về mô
hình tổ chức; khả năng hợp tác kém. Nếu như ở các doanh nghiệp
khó khăn như vậy thì ở các DNV&N họ lại có những lợi thế về
những mặt đó và đang ngày càng phát huy được những thế mạnh đó
của mình
-Năng đông, linh hoạt, tự do sáng tạo trong kinh doanh:
Do có quy mô cơ sở vật chất hạ tầng đồ sộ nên khi có một sự thay
đổi thị trường các doanh nghiệp có quy mô lớn thường kém linh hoạt
và nhanh nhậy đáp ứng nhu cầu của người tiêu dùng hơn là các
doanh nghiệp có quy mô nhỏ. Trước sự thay đổi liên tục của thị
trường, các doanh nghiệp có thể chuyển hướng kinh doanh, thay đổi
mặt hàng nhanh chóng, đồng thời có thể tăng giàm lao động hay sử
dụng lao động thời vụ, đáp ứng được nhu cầu của thị trường. Hơn
nữa, khi chuyển địa điểm sản xuất các doanh nghiệp vừa và nhỏ

nghiệp.
-Các DNV&N dễ dàng và nhanh chóng đổi mới thiết bị công nghệ,
thích ứng với cuộc cách mạng khoa học công nghệ hiện đại:
Ngày nay, do sự phát triển của khoa học và công nghệ nê nhiều khi
thời gian tồn tại của một mặt hàng ngắn hơn thời gian tồn tại của thế
hệ máy móc sản xuất ra nó. Vì vậy đòi hỏi phải khấu hao nhanh để
15
chuyển sang sản xuất mặt hàng mới với thiết bị công nghệ mới.
Trong trường hợp này các doanh nghiệp vừa và nhỏ lại sẽ có lợi thế
hơn. Hơn nữa việc phải thay đổi những tư bản cố định để chuyển
hướng kinh doanh cũng thuận lợi hơn do không phải chịu nhiều thiệt
hại và có thể nhanh chóng ứng dụng và đưa vao hoạt động những
công nghệ tiên tiến, hiện đại.
-Quan hệ giữa những người lao động và người quản lý trong các
DNV&N khá chặt chẽ:
Do số lượng lao dộng trong các DNV&N là không nhiều nên lãnh
đạo doanh nghiệp sẽ có nhiều cơ hội để hiểu rõ trình độ năng lực
cũng như mong muốn nguyện vọng của người lao động, từ đó sẽ có
những biện pháp thích hợp để tạo động lực lao động, từ đó có thể
nâng cao trình độ quản lý cũng như tận dụng triệt đế năng lực lao
động, nâng cao hiệu quả công việc.
DNV&N có tinh thần tự lực tự cường cao
Số lượng doanh nghiệp quá lớn, nhà nước không thể kiểm soát
chắt chẽ được hết cũng như khổng thể quan tâm hay có những tài trợ
dễ dàng. Do vậy mà buộc các doanh nghiệp phải nâng cao tinh thần
tự chủ, đi lên trong cạnh tranh.
Những điểm mạnh đó của các DNV&N đã và đang là lợi thế của
họ và với lợi thế đó họ dễ dàng hơn tiếp cận với các nguồn vốn của
ngân hàng
-Sự hội nhập kinh tế toàn cầu đã tạo ra một lợi thế không nhỏ đối

đồng/doanh nghiệp. Nguyên nhân là do các DNV&N phải đối mặt
với nhiều bất lợi. Cụ thể:
-Quy mô về vốn và lao động còn quá nhỏ bé:
Nếu xét kết hợp tiêu chí về vốn với tiêu chí về lao động các số liệu
thống kê cho thấy, trong tổng số 88.222 DNV&N năm 2004 có
2.211.795 lao động, tương đương với tỷ lệ bình quân mỗi doanh
nghiệp có 25 lao động như vậy quy mô về vốn và lao động của
DNV&N của Việt Nam còn quá nhỏ so với các nước phát triển và
đây cũng là lý khiến cho các Ngân hàng thương mại còn e dè trong
việc cấp tín dụng đối với các DNV&N bởi lẽ họ chưa có kinh nghiệp
trong sản xuất kinh doanh, nguồn trả nợ bé đội rủi ro khá cao. Việc
mở rộng kinh doanh trang thiết bị công nghệ hay cải thiện chất
lượng lao động đối với các DNV&N là rất khó khăn. Đặc điểm này
là bất lợi trong cạnh tranh khi Việt Nam gia nhập WTO.
-Hiệu quả kinh doanh thấp:
Do quy mô của các DNV&N như vậy kéo theo kết quả kinh doanh
không cao. Theo thống kê, lợi nhuận bình quân của DNV&N là 240
triệu đồng. Các tiêu chí về tỷ suất lợi nhuận trên vốn và lợi nhuận
trên doanh thu cũng thấp ở mức 3 tỷ đồng và 2,57 tỷ đồng so với các
mức bình quân chung các doanh nghiệp cả nước là 4,85 tỷ đồng và
5,99 tỷ đồng.
Bên cạnh đó các DNV&N chủ yếu tập trung vào các ngành thương
mại, sửa chữa động cơ, xe máy ( chiếm 40,6% doanh nghiệp cả
18
nước), tiếp đến là các ngành chế biến, 20,9%, xây dựng, 13,2%, các
ngành kinh doanh tài sản tư vấn, khách sạn nhà hàng 25,3%. Việc
tập trung như vậy sẽ tạo ra sự cạnh tranh khốc liệt giữa các DNV&N
với nhau. Chính điều này sẽ làm giảm sự đa dạng của thị trường,
giảm thị phần bản thân của các doanh nghiệp.
Phải đối mặt với nhiều đối thủ cạnh tranh:

cho hệ thống thông tin thấp chưa có phương tiện kỹ thuật nên chưa
theo kịp diễn biến của thị trường. Vì thế nhiều quyết định kinh
doanh được đưa ra chỉ dựa vào kinh nghiệm và phán đoán cảm tính,
đây là điểm yếu nhất các DNV&N của Việt Nam chịu áp lực cạnh
tranh quốc tế.
Tóm lại: DNV&N hạn hẹp về vốn đưa tới năng lực kinh doanh bị
hạn chế, và thực lực kinh tế yếu nên khả năng vay vốn càng khó
khăn. Bên cạnh đó môi trường thể chế, chính sách kinh tế còn nhiều
khiếm khuyết không tạo điều kiện bảo vệ và bảo đảm cho sự phát
triển của khu vực này. Tất cả tạo ra một vòng luẩn quẩn không thể
thoát ra được đối với các DNV&N.
-khả năng tiếp cận và xử lý thông tin trên thị trường hạn chế
Do quy mô nhỏ, hoạt động trong phạm vi hẹp, thiếu mạng lưới thu
thập thông tin và các mỗi quan hệ rộng, các DNV&N thường gặp
20
khó khăn trong việc phân tích các thông tin thị trường về nguyên
liệu, xu hướng phát triển kinh doanh, đối thủ cạnh tranh, các chính
sách hỗ trợ của nhà nước cũng như của nước ngoài,…Hơn nữa, ngay
cả khi có những thông tin thì các doanh nghiệp cũng gặp khó khăn
trong việc phân tích, đưa ra dự đoán do khả năng có hạn.
1.2.2.3. Vai trò của các DNV&N ở Việt Nam.
Trên thực tế các DNV&N đóng vai trò rất lớn trong nền kinh tế
quốc dân với nhiều hình thức đa dạng phong phú, hoạt động trong
hầu hết các hoạt động kinh tế. Cùng với những lợi thế và không đòi
hỏi vốn đầu tư, quản lý đơn giản, dễ thay đổi linh hoạt theo thị
trường, các DNV&N đã và đang phát huy những mặt tích cực và
khảng định vị thế của mình trong nền kinh tế. Đường lối kinh tế
đúng đắn, các doanh nghiệp này đã và đang phát triển một cách
mạnh mẽ cả về số lượng và chất lượng ở Việt Nam cụ thể như sau:
a. Tăng việc làm và thu nhập cho người lao động.

mai một, một phần nhằm khôi phục nền văn hóa dân gian mặt khác
làm thay đổi bộ mặt nông thôn, từng bước hiện đại hóa nông thôn
và nâng cao đời sống nhân dân. Ngoài ra, lực lượng lao động ở khu
vực này không những rất dồi dào mà còn rất dẻ, do đó sẽ giúp cho
22
các DNV&N giảm chi phí sản xuất từ đó nâng cao hiệu quả kinh
doanh của mình.
DNV&N thường áp dụng kỹ thuật phù hợp với kỹ thuật thủ công
và kỹ thuật phổ biến để nhanh chóng tiếp thu và làm chủ ít sử dụng
kỹ thuật tiên tiến đòi hỏi lượng vốn lớn vì vậy tận dụng được kỹ
thuật trong nước, thúc đẩy công nghệ cải tiến kỹ thuật.
c. Tạo sự năng động, hiệu quả và thúc đẩy chuyển dịch kinh tế
theo hướng CNH –HĐH đất nước :với ưu thế về tính linh hoạt và
lượng vốn yêu cầu tương đối nhỏ, DNV&N có khả năng chuyển
đổi mặt hàng, chuyển hướng sản xuất, đổi mới công nghệ cho phù
hợp với môi trường kinh doanh. Vì vậy các DNV&N làm cho nền
kinh tế thêm năng động hơn trên thực tế các DNV&N có tốc độ gia
tăng lớn hơn rất nhiều các doanh nghiệp lớn. Sự gia tăng về số
lượng các DNV&N làm tăng tính cạnh tranh trong nền kinh tế.
Điều này cũng đồng nghĩa với việc có nhiều nguồn lực được huy
động vào mục tiêu phát triển kinh tế. Nói cách khác DNV&N giúp
nền kinh tế thị trường hoạt động có hiệu quả hơn.
Tóm lại: DNV&N giữ một vị trí quan trọng trong nền kinh tế. Phát
triển hướng đi này là một hướng đi đúng đắn trong điều kiện nước
ta hiện nay do đó các Ngân hàng thương mại phải có những biện
pháp hỗ trợ DNV&N góp phần thúc đẩy sự phát triển chung của
nền kinh tế đất nước.
1.3.Tín dụng ngân hàng đối với các DNV&N
1.3.1.Khái niệm và phân loại tín dụng.
23

-Đi vay: huy động vốn. Hoạt động này do bộ phận nguồn vốn đảm
nhận.
-Cho vay: hoạt động này do bộ phận tín dụng đảm nhận.
Như vậy tín dụng ngân hàng là quan hệ vay mượn bằng tiền tệ, trong
đó ngân hàng là người cho vay còn người đi vay là các tổ chức cá
nhân, xã hội, trên nguyên tắc người đi vay sẽ hoàn trả cả vốn lẫn lãi
vào thời điểm xác định trong tương lai như hai bên đã thỏa thuận.
Theo định nghĩa này tín dụng ngân hàng ở đây mang nghĩa hẹp hơn,
giới hạn bên cho vay là ngân hàng.
1.3.1.3. Phân loại tín dụng.
* Phân loại theo thời gian cấp tín dụng.
-Tín dụng có kỳ hạn: là khoản tín dụng có thời hạn xác định ngày trả
nợ. Theo quy chế cho vay của tổ chức tín dụng đối với khách hàng
cùng với quyết định cùng với quyết định 1627/2001/QD-NHNN-
31/12/2000 của Thống đốc, khi phân loại theo thời hạn cấp tín dụng
thì:
+Cho vay ngắn hạn: tối đa đến 12 tháng, được xác định phù hợp với
chu kỳ sản xuất kinh doanh và khả năng trả nợ của khách hàng.
+Cho vay trung hạn: từ trên 12 – 60 tháng thời gian cho vay được
xác định phù hợp với thời gian thu hồi của vốn đầu tư, khả năng trả
25

Trích đoạn Thực hiện các biện pháp thẩm định kỹ trước khi cho vay và tăng cường kiểm tra trong và sau khi cho vay: Thực hiện các bảo đảm trong kinh doanh tín dụng: Công tác đào tạo cán bộ. Tăng cường các biện pháp quản lý nhà nước đối với các DNV&N:
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status