Chuyên đề tốt nghiệp
LỜI NÓI ĐẦU
Trong bối cảnh hội nhập nền kinh tế quốc tế, đất nước ta đang phải đối
mặt với cơ hội và thách thức to lớn để phát triển nền kinh tế. Cơ hội đó là,
hội nhập giúp chúng ta dễ dàng giao lưu hợp tác kinh tế. Nhờ đó có thể tiếp
thu khoa học công nghệ tiên tiến, cách thức quản trị tiến bộ nhằm tận dụng
các nguồn lực bên ngoài để phát huy các nguồn lực trong nước, tạo thành
nguồn lực tổng hợp thúc đẩy nền kinh tế phát triển. Còn thách thức đó là
hội nhập buộc chúng ta phải mở của nền kinh tế, chấp nhận "luật chơi" theo
thông lệ quốc tế. Các thành phần kinh tế trong nước phải cạnh tranh gay gắt
với các chủ thể kinh tế nước ngoài nhằm tồn tại và phát triển. Nếu nhà
nước chúng ta không khéo léo làm chủ "cuộc chơi", thúc đẩy nền kinh tế
phát triển mạnh mẽ thì nền kinh tế nước ta sẽ tụt hậu ngày càng xa so với
các nền kinh tế tiên tiến khác. Nước ta sẽ trở thành thị trường tiêu thụ của
thế giới và phụ thuộc chặt chẽ vào các nền kinh tế khác.
Để tận dụng tốt thời cơ hội nhập, buộc chính phủ phải tích cực tạo điều
kiện tốt nhất, để các thành phần kinh tế trong nước phát triển mạnh mẽ. Hệ
thống pháp luật được mở rộng, cải cách phù hợp với thông lệ quốc tế, hệ
thống thủ tục hành chính phải được điều chỉnh theo hướng tinh giảm hiệu
quả. Các doanh nghiệp nhỏ và vừa có điều kiện mọc lên như nấm.
Sự phát triển mạnh mẽ khu vực doanh nghiệp nhỏ và vừa, đã thúc đẩy
nhu cầu vay vốn để sản xuất kinh doanh của khu vực kinh tế này tăng cao.
Ngược lại việc đáp ứng hiệu quả tín dụng tốt sẽ thúc đẩy các doanh nghiệp
nhỏ và vừa phát triển mạnh mẽ. Đây chính là thị trường tiềm năng mà các
ngân hàng phải hướng tới. Ý thức được tầm quan trong của vấn đề này đối
với hoạt động kinh doanh của Ngân hàng Đầu tư và phát triển Việt Nam.
Em đã lựa chọn đề tài: "Kiến nghị mở rộng tín dụng đối với doanh nghiệp
nhỏ và vừa tại Ngân hàng Đầu tư và phát triển Việt Nam".
Sinh viên thực hiện Nguyễn Hữu Vinh
1
Chuyên đề tốt nghiệp
1.1.2 Khái niệm doanh nghiệp nhỏ và vừa
Trong thực tế, việc đưa ra khái niệm nhỏ và vừa của 1 nước được cân
nhắc với từng giai đoạn phát triển của kinh tế, tình hình làm việc nói chung
và tính chất nền kinh tế hiện hành của nước đó. Việc xác định doanh
nghiệp nhỏ và vừa không có tính chất cố định mà có xu hướng thay đổi
theo tính chất hoạt động của nó, mục đích của việc xác định và mức độ
phát triển của doanh nghiệp.
Một số tiêu chuẩn để xác định doanh nghiệp nhỏ và vừa là tổng vốn
đầu tư được huy động và sản xuất kinh doanh, giá trị tài sản cố định, số lao
động được sử dụng thường xuyên, giá trị bằng tiền của sản phẩm hoặc dịch
vụ, lợi nhuận, vốn bình quân cho một lao động… Mỗi nước có một quan
niệm và lựa chọn các tiêu thức khác nhau, phụ thuộc vào nhiều yếu tố:
Trình độ phát triển của mỗi nước: Trình độ phát triển càng cao thì trị
số các tiêu chí càng tăng. Ở các nước càng phát triển thì chỉ số về lao động,
vốn để phân loại doanh nghiệp nhỏ và vừa càng cao. Chẳng hạn như ở Nhật
Bản, doanh nghiệp có 300 lao động và nguồn vốn là một triệu USD được
xem là 1 doanh nghiệp nhỏ và vừa nhưng ở Thái Lan một doanh nghiệp có
quy mô như vậy là một doanh nghiệp lớn.
Tính chất nghành nghề: Tuỳ thuộc vào yêu cầu và tính chất của từng
nghành mà có ngành sử dụng nhiều lao động như: may mặc, giày da, thủ
công, mỹ nghệ…, có nghành sử dụng ít lao động, nhiều vốn như hoá chất,
điện… Trong phân loại doanh nghiệp cũng cần căn cứ vào những tính chất
này để có những quy định phù hợp giữa các nghành với nhau. Các nước
thường phân thành các nhóm nghành với những tiêu chí phân loại khác nhau.
Sinh viên thực hiện Nguyễn Hữu Vinh
3
Chuyên đề tốt nghiệp
Vùng lãnh thổ: Mỗi vùng miền có trình độ phát triển khác nhau về quy
mô và số lượng doanh nghiệp. Do đó, để đảm bảo tính tương thích trong
việc so sánh giữa các vùng với nhau thì cũng cần tính đến hệ số vùng trong
xuất: doanh nghiệp có vốn dưới 1 tỷ đồng, số lao động dưới 100 người là
doanh nghiệp nhỏ, còn doanh nghiệp có vốn từ 1 tỷ đến 10 tỷ đồng, 100
đến 500 lao động là doanh nghiệp vừa. Đối với lĩnh vực thương mại và
dịch vụ: doanh nghiệp có vốn dưới 500 triệu và dưới 50 lao động là doanh
nghiệp nhỏ, còn doanh nghiệp có vốn từ 500 triệu đến 5 tỷ và lao động từ
50 đến 250 người là doanh nghiệp vừa.
Hiện nay ở Việt Nam có khoảng 170.000 doanh nghiệp đăng kí kinh
doanh theo Luật Doanh nghiệp, 2.6 triệu hộ kinh doanh cá thể và hơn
18.000 hợp tác xã. Trong số đó, doanh nghiệp nhỏ và vừa chiếm 96% tổng
số hộ kinh doanh cá thể. Các doanh nghiệp nhỏ và vừa thu hút khoảng
450.000 lao động với thu nhập bình quân 1.05 triệu đồng/tháng.
1.1.2 Đặc điểm doanh nghiệp nhỏ và vừa
1.1.2.1 Năng động và linh hoạt trong sản xuất kinh doanh
Như ta đã biết doanh nghiệp nhỏ và vừa với số vốn và tài sản nhỏ, ít
lao động nên rất dễ thành lập và chuyển hướng kinh doanh khi thị trường
biến động. Đây chính là lợi thế của doanh nghiệp nhỏ và vừa. Các doanh
nghiệp nhỏ và vừa dễ dàng xâm nhập vào các "khe hở" của thị trường để
tồn tại và phát triển. Khi thị trường trở nên khan hiếm, khó khăn thì doanh
nghiệp nhỏ và vừa dễ dàng chuyển sang lĩnh vực kinh doanh khác. Tuy sức
chịu đựng cạnh tranh của doanh nghiệp nhỏ và vừa tương đối yếu. Nhưng
sự ra đời và ngày càng hoàn thiện của luật cạnh tranh sẽ càng đảm bảo môi
trường cạnh tranh bình đẳng giữa các doanh nghiệp, giúp các doanh nghiệp
nhỏ và vừa càng có nhiều cơ hội để tồn tại và phát triển thành những doanh
nghiệp lớn.
Hơn nữa tổ chức quản lý của doanh nghiệp nhỏ và vừa đơn giản, dễ
đưa ra quyết định, khi nhu cầu thị trường thay đổi hay gặp khó khăn dễ
dàng thay đổi tình thế, nội bộ dễ đi đến thống nhất. Trước những biến động
của thị trường, họ rất linh hoạt và mạnh dạn đầu tư, thay đổi trong sản xuất,
Sinh viên thực hiện Nguyễn Hữu Vinh
5
Sinh viên thực hiện Nguyễn Hữu Vinh
6
Chuyên đề tốt nghiệp
nguồn vốn tín dụng ngân hàng. Tín dụng ngân hàng có nhiều ưu thế vượt
trội nhưng doanh nghiệp nhỏ và vừa không dễ tiếp cận được. Doanh nghiệp
phải đáp ứng được các điều kiện tín dụng phải chịu sự kiểm soát của ngân
hàng và chi phí sử dụng vốn. Năng lực tài chính nội tại của doanh nghiệp
nhỏ và vừa thấp, các chỉ tiêu tài chính thường không đảm bảo được yêu cầu
của ngân hàng, thêm vào đó doanh nghiệp không có tài sản giá trị để làm
tài sản đảm bảo khi nhận tín dụng…
Đối với tín dụng thương mại, là phương thức tài trợ rẻ, tiện dụng và
linh hoạt nhưng mức độ rủi ro cho nhà cung cấp cao cần có quan hệ hợp tác
lâu bền có tín nhiệm lẫn nhau. Tín dụng thương mại được hình thành trong
quan hệ mua bán chịu, mua bán trả chậm hay trả góp. Trong khi đó, phần
lớn các doanh nghiệp nhỏ và vừa có độ tuổi kinh doanh không cao trong
một lĩnh vực kinh doanh nhất định, uy tín đối với thị trường không lớn. Vì
vậy tiềm lực tài chính yếu kém luôn là vấn đề khó khăn khách quan mà các
doanh nghiệp nhỏ và vừa phải đối mặt thường xuyên trong quá trình hoạt
đồng động sản xuất kinh doanh.
1.1.2.3 Trình độ khoa học công nghệ và quản lý thấp
Để thành công trong nền kinh tế cạnh tranh mạnh mẽ như hiện nay,
bất kì một doanh nghiệp nào cũng quan tâm đến công nghệ, máy móc, thiết
bị, các phương pháp và bí quyết sản xuất. Vì khoa học công nghệ cao và
trình độ quản lý tiên tiến giúp doanh nghiệp tăng năng suất lao động, chất
lượng sản phẩm, giảm bớt chi phí sản xuất và tăng năng lực cạnh tranh.
Năng lực tiếp nhận, ứng dụng công nghệ vào sản phẩm và quản lý phụ thuộc
vào nhận thức, thông tin, nguồn nhân lực và nguồn vốn của doanh nghiệp.
Thông thường các doanh nghiệp có khả năng quản lý tốt là những doanh
nghiệp thường xuyên có những thay đổi công nghệ và cần nhiều vốn.
Doanh nghiệp nhỏ và vừa với nguồn vốn, trình độ nhân lực hạn chế
doanh nghiệp nhỏ và vừa trực tiếp tham gia xuất khẩu. Tuy nhiên, đại bộ
phận các doanh nghiệp nhỏ và vừa có số lượng đầu tư ban đầu thấp, gần
50% số doanh nghiệp có mức vốn dưới 1 tỉ đồng, gần 75% số doanh nghiệp
có mức vốn dưới 2 tỉ đồng và 90% doanh nghiệp có mức vốn dưới 5 tỉ đồng.
Sinh viên thực hiện Nguyễn Hữu Vinh
8
Chuyên đề tốt nghiệp
Các doanh nghiệp nhỏ và vừa còn gặp nhiều khó khăn về công nghệ, trình
độ quản lý, khả năng tiếp cận thị trường…Hậu quả của những hạn chế đó là
năng suất, chất lượng sản phẩm cũng như hiệu quả đầu tư thấp. Hàng hoá
của các doanh nghiệp không thể cạnh tranh trên thị trường, nhiều doanh
nghiệp bị thua lỗ, phá sản. Khó khăn lớn của các doanh nghiệp nhỏ và vừa
ở Việt Nam là thiếu các chính sách điều tiết kinh tế vĩ mô của chính phủ. Hệ
thống chính sách, pháp luật và các tổ chức hỗ trợ các doanh nghiệp nhỏ và
vừa chưa hoàn thiện. Trong quá trình Công nghiệp hoá, hiện đại hoá nền
kinh tế đất nước, doanh nghiệp nhỏ và vừa có nhiều cơ hội để phát triển và
rất cần đến sự hỗ trợ từ phía của nhà nước.
1.1.2.4 Nguồn lao động chất lượng thấp
Doanh nghiệp nhỏ và vừa thu hút nhiều lao động nhưng tay nghề lao
động chưa cao. Các doanh nghiệp nhỏ và vừa do nguồn vốn ít nên đầu tư
vào tài sản cố định cũng ít, họ thường tận dụng lao động thay thế cho vốn.
Đặc biệt là những nước lực lượng lao động dồi dào và nhân công rẻ để tiến
hành sản xuất kinh doanh. Chi phí trung bình để tạo ra một chỗ làm trong
doanh nghiệp nhỏ và vừa thường chỉ bằng 10% doanh nghiệp lớn.
Một trong những khó khăn hiện nay, các doanh nghiệp nhỏ và vừa
phải gặp là thiếu đội ngũ lao động có trình độ, có khả năng đáp ứng yêu
cầu trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế và khu vực. Trình độ học vấn
ở các doanh nghiệp nhỏ và vừa rất thấp. Do quy mô nhỏ lại thiếu vốn nên
hầu như các doanh nghiệp nhỏ và vừa không đủ kinh phí để đầu tư, nâng
cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ của người lao động ngay cả khi chủ
giai đoạn tham gia hội nhập quốc tế. Nền kinh tế chậm phát triển, nguồn
ngân sách của chính phủ hạn hẹp, các doanh nghiệp nhà nước đang chiếm
thị phần lớn trong thị trường nhưng hoạt động kinh doanh yếu kém. Chính
vì vậy các nguồn lực xã hội bị lãng phí nghiêm trọng. Việc tạo điều kiện
thuận lợi, bình đẳng để các doanh nghiệp nhỏ và vừa phát triển đã thành
yêu cầu khách quan hết sức quan trọng, nhằm tận dụng tối đa hiệu quả các
nguồn lực trong nước. Hơn nữa, sự xuất hiện của các doanh nghiệp nhỏ và
vừa sẽ tăng sức ép cạnh tranh, buộc các doanh nghiệp lớn phải nhìn nhận
Sinh viên thực hiện Nguyễn Hữu Vinh
10
Chuyên đề tốt nghiệp
lại "mình" và phải luôn cải tiến về công nghệ cũng như cách thức quản trị
để tồn tại và phát triển. Từ đó nền kinh tế được hoàn thiện về cơ cấu các
thành phần kinh tế, môi trường cạnh tranh trở nên sôi động và linh hoạt.
Các nguồn lực được chu chuyển với tốc độ lớn, giúp nhanh chóng chuyển
dịch cơ cấu kinh tế có hiệu quả. Phục vụ cho quá trình Công nghiệp hoá,
hiện đại hoá đất nước, giải quyết các vấn đề xã hội. Cụ thể:
1.1.3.1 Doanh nghiệp nhỏ và vừa có khả năng tận dụng các nguồn lực xã
hội
Về tiềm lực vốn: Nhờ sự đa dạng hoá trong các loại hình sản xuất kinh
doanh, khởi sự bằng nguồn vốn hạn hẹp. Doanh nghiệp nhỏ và vừa thu hút
được đông đảo người dân tham gia. Do đó, các nguồn vốn nhàn rỗi trong
dân cư được đưa vào đầu tư sản xuất kinh doanh, hạn chế tiêu dùng không
sinh lợi. Từ đó các nguồn vốn được sử dụng một cách hiệu quả đóng góp
lớn vào sự
Với phương diện mặt hàng sản xuất kinh doanh: dù một nền kinh tế có
phát triển đến đâu thì thị trường cũng luôn có "khe hở" để các doanh
nghiệp nhỏ và vừa có thừa cơ xâm nhập. Bởi vì với các doanh nghiệp lớn,
tập đoàn có nhiều lĩnh vực kinh doanh, mặt hàng. Nếu họ kinh doanh sẽ
kém hiệu quả mà ít lợi nhuận, vì vậy họ sẽ bỏ qua. Nhưng với quy mô nhỏ
của các doanh nghiệp nhỏ và vừa. Như vậy trong xã hội đã hình thành một
cơ cấu phân tầng trình độ lao động, làm cho nguồn nhân lực của xã hội
được tận dụng triệt để. Từ đấy làm động lực thúc đẩy sự phát triển của nền
kinh tế và giải quyết các vấn đề về chính trị xã hội khác.
Về kĩ thuật: Doanh nghiệp nhỏ và vừa thường lựa chọn kĩ thuật phù
hợp với trình độ lao động, khả năng về vốn. Họ kết hợp kĩ thuật thủ công
với kĩ thuật mà người lao động có thể nhanh chóng tiếp thu và làm chủ
trong sản xuất. Tuy sử dụng công nghệ kỹ thuật cũ thì họ vẫn có thể dùng
nhiều nhân công giá rẻ để tăng số lượng sản phẩm. Khi có điều kiện về
vốn, nguồn nhập công nghệ mới thì họ cũng dễ dàng chuyển giao công
nghệ với giá đánh đổi cho việc bỏ cộng nghệ, máy móc thiết bị cũ không
cao. Như vậy sự thích ứng với công nghệ kỹ thuật của DNNVV năng động
Sinh viên thực hiện Nguyễn Hữu Vinh
12
Chuyên đề tốt nghiệp
hơn các doanh nghiệp lớn rất nhiều.
1.1.3.2 Tạo sự phát triển giữa các vùng, góp phần to lớn vào chuyển dịch
cơ cấu kinh tế
Doanh nghiệp nhỏ và vừa có thể phát triển khắp mọi nơi lấp vào
những khoảng trống của doanh nghiệp lớn, tạo nên sự phát triển cân bằng
giữa các vùng. Mục tiêu hoạt động của doanh nghiệp nhỏ và vừa là phục vụ
nhu cầu tiêu dùng của nhân dân là chủ yếu, sử dụng nhiều lao động. Do đó
giải quyết được tình trạng thất nghiệp ở các địa phương.
Là một nước đi lên từ kinh tế nông nghiệp, Việt Nam có nhiều làng
nghề thủ công truyền thống nổi tiếng. Trong thời gian gần đây, các làng
nghề này đã thu hút được sự đầu tư phát triển của doanh nghiệp nhỏ và
vừa. Điều đó đã góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nông
thôn, thực hiện các chương trình xoá đói giảm nghèo, tạo ra sự phát triển
đồng đều, bền vững giữa các vùng. Đây cũng là biện pháp hữu hiệu thực
hiện tích luỹ vốn quá trình Công nghiệp hoá, hiện đại hoá.
kinh doanh của các doanh nghiệp.
Các doanh nghiệp nhỏ và vừa thường không có tình trạng kinh doanh
độc quyền, họ dễ dàng và chấp nhận tự do cạnh tranh. Tự do cạnh tranh là
con đường tốt nhất để phát huy mọi tiềm lực. Sự phát triển của doanh
nghiệp nhỏ và vừa trong giai đoạn đầu là phương thức tốt nhất để sản xuất
thay thế nhập khẩu với mức chi phí đầu tư thấp, kĩ thuật không phức tạp,
sản phẩm phù hợp với sức mua của dân, từ đó tăng năng lực sản xuất và
sức mua của thị trường.
Doanh nghiệp nhỏ và vừa thường chỉ tiến hành một vài công đoạn
trong quá trình sản xuất của một sản phẩm hoàn chỉnh mà các công đoạn
này phải kết hợp với nhau mới có thể đưa sản phẩm ra thị trường. Do đó
các doanh nghiệp phải tự hoàn thiện bản thân mình và tiến hành hợp tác
sản xuất nếu không sẽ bị đào thải. Quá trình phát triển của doanh nghiệp
nhỏ và vừa cũng là quá trình cải tiến máy móc thiết bị, nâng cao năng lực
sản xuất và chất lượng sản phẩm đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của thị
trường. Đến một mức độ nào đó dẫn đến đổi mới công nghệ, làm quá trình
Sinh viên thực hiện Nguyễn Hữu Vinh
14
Chuyên đề tốt nghiệp
Công nghiệp hoá, hiện đại hoá diễn ra ở cả chiều rộng và chiều sâu.
Với những ưu thế về nghành nghề, tính nhạy cảm thị trường cao, các
doanh nghiệp nhỏ và vừa có nhiều ưu thế trong việc sản xuất và cung ứng
các sản phẩm, dịch vụ đáp ứng nhu cầu trong nước và đẩy mạnh xuất khẩu.
Ở một số nước doanh nghiệp nhỏ và vừa tham gia xuất khẩu chiếm tỉ trọng
đáng kể trong kim ngạch xuất khẩu từ 30-50%.
Doanh nghiệp nhỏ và vừa có nhiều điều kiện thuận lợi tham gia sản
xuất gia công chế biến hàng hoá xuất khẩu trong các nghành thủ công mỹ
nghệ truyền thống, chế biến nông hải sản. Các doanh nghiệp lớn do hạn chế
về khu vực và phương pháp tổ chức chưa thích ứng để chiếm lĩnh thị
trường, thường thông qua các doanh nghiệp nhỏ và vừa để thực hiện các
Quy trình nghiệp vụ cho vay được bắt đầu từ khi cán bộ tín dụng trực
tiếp tiếp nhận hồ sơ khách hàng đến khi tất toán thanh lý hợp đồng tín
dụng, được tiến hành theo 3 bước:
-Thẩm định trước khi cho vay
-Kiểm tra giám sát trong khi vay
-Kiểm tra giám sát, tổ chức thu hồi nợ sau khi cho vay
a) Sơ đồ tóm tắt quy trình tiếp nhận vốn vay,quy trình đánh giá và thẩm định :
b) Quy trình thẩm định tín dụng:
Là quá trình cán bộ tín dụng, cán bộ thẩm định nghiên cứu và thẩm
định hồ sơ vay vốn theo những nội dung:
- Tìm hiểu và phân tích về khách hàng, tư cách và năng lực pháp lý,
năng lực điều hành, năng lực quản lý sản xuất kinh doanh, mô hình tổ chức,
bố trí lao động trong doanh nghiệp.
- Thẩm định đánh giá khả năng tài chính
- Phân tích quan hệ với khách hàng.
- Phân tích, thẩm định dự án đầu tư, phương án sản xuất
- Dự kiến lợi ích của ngân hàng nếu khoản vay được phê duyệt
- Các biện pháp đảm bảo tiền vay
Sinh viên thực hiện Nguyễn Hữu Vinh
16
Chuyên đề tốt nghiệp
- Lập báo cáo thẩm định cho vay
- Xây dựng phương thức và nhu cầu cho vay
- Xem xét, khả năng nguồn vốn và điều kiện thanh toán của chi nhánh,
hội sở chính
Sinh viên thực hiện Nguyễn Hữu Vinh
Phỏng vấn
Từ chối Đánh giá sơ bộ
Đạt yêu cầu
Kiểm tra lịch sử
hoạt động tín dụng đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa như: khả năng thẩm
định của cán bộ tín dụng, hiệu quả của hệ thống công nghệ, cung cấp thông
tin, quy trình xét việc… Cán bộ tín dụng có trình độ, kinh nghiệm và đạo
đức nghề nghiệp cao thì khả năng thẩm định sẽ hạn chế được mức độ rủi ro
cho ngân hàng. Hệ thống công nghệ thông tin không những ảnh hưởng đến
hoạt động tín dụng mà còn ảnh hưởng đến chất lượng của tất cả hoạt động
kinh doanh của ngân hàng. Hệ thống công nghệ càng tiên tiến, phù hợp với
xu thế thị trường thì hiệu quả kinh doanh càng tăng, thu hút được nhiều
khách hàng.
1.2.2 Sự cần thiết mở rộng hoạt động tín dụng đối với doanh nghiệp
nhỏ và vừa
Hoạt động tín dụng là một trong những hoạt động kinh doanh cơ bản
sinh lời lớn nhất cho ngân hàng. Hiện nay các ngân hàng đã và đang xác
định thay đổi chiến lược, cơ cấu doanh thu, tăng tỉ lệ thu từ dịch vụ. Tuy
nhiên hoạt động tín dụng vẫn tiếp tục được mở rộng trên cơ sở kiểm soát
rủi ro tín dụng.
Hiện nay đất nước ta đang trên đà phát triển, tốc độ tăng trưởng GDP
hàng năm xấp xỉ 7-9%. Hơn nữa thủ tục đăng kí thành lập doanh nghiệp
Sinh viên thực hiện Nguyễn Hữu Vinh
18
Chuyên đề tốt nghiệp
chuyển từ chính sách tiền kiểm sang chính sách hậu kiểm, đã thúc đẩy
mạnh mẽ các doanh nghiệp nhỏ và vừa phát triển bùng nổ về số lượng cũng
như chất lượng. Môi trường kinh doanh ngày càng công bằng, lành mạnh
hoá đã tạo động lực hết sức thuận lợi để cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa
phát triển mạnh mẽ. Vì vậy nhu cầu vốn của khu vực doanh nghiệp nhỏ và
vừa tăng mạnh. Đây là thị trường "màu mỡ" mà các ngân hàng cần phải
hướng tới. Tuy sức chịu đựng cạnh tranh của các doanh nghiệp nhỏ và vừa
là kém, tuổi thọ trung bình của các doanh nghiệp nhỏ và vừa thấp. Nhưng
trong môi trường kinh doanh thuận lợi của đất nước ta hiện nay. Nếu ngân
Tín dụng ngân hàng có vai trò quan trọng đối với doanh nghiệp nhỏ và
vừa, thúc đẩy hoạt động của các doanh nghiệp này phát triển mạnh mẽ tác
động tích cực đến nền kinh tế nói chung và hoạt động ngân hàng nói riêng.
Khi doanh nghiệp nhận tài trợ, ngân hàng sẽ có những biện pháp kiểm soát
hoạt động liên quan đến khoản vay của doanh nghiệp. Nhờ vậy, thúc đẩy
doanh nghiệp hoạt động với hiệu quả, nâng cao khả năng hạch toán kinh
doanh, khả năng tổ chức sản xuất, tạo động lực tìm kiếm đầu vào, đầu ra.
Cùng với sự phát triển của công nghệ ngân hàng, hoạt động thanh toán diễn
ra nhanh chóng, an toàn nâng cao hiệu quả hoạt động xuất nhập khẩu. Các
doanh nghiệp có điều kiện mở rộng thị trường, tiếp nhận các dây chuyền
công nghệ, máy móc, thiết bị đẩy mạnh hoạt động kinh doanh. Tín dụng
ngân hàng cũng tác động mạnh mẽ đến việc tiêu thu sản phẩm thông qua
việc mở rộng tín dụng tiêu dùng, cho vay hoặc bảo lãnh cá nhân, tổ chức
hoạt động trong lĩnh vực lưu thông, mua bán hàng hoá.
Thông qua việc cung ứng tín dụng cho các ngành trong nền kinh tế,
ngân hàng dẫn dắt các luồng tiền, tập hợp và phân chia vốn thị trường. Tín
dụng ngân hàng tác động điều tiết sự chuyển vốn đàu tư vào những nghành
có tỉ suất lợi nhuận cao, hạn chế hoặc không đầu tư vào những nghành có tỉ
suất lợi nhuận thấp. Qua đó, quan hệ cung cầu hàng hoá thay đổi và thay
đổi cơ cấu nền kinh tế. Với đặc điểm năng động, nhạy bén với sự thay đổi
của môi trường kinh doanh, khi có sự thay đổi về cung cầu hàng hoá trên
thị trường, các doanh nghiệp nhỏ và vừa sẽ nhanh chóng chuyển đổi đầu tư
Sinh viên thực hiện Nguyễn Hữu Vinh
20
Chuyên đề tốt nghiệp
đáp ứng nhu cầu thị trường.
1.2.3 Các hình thức tín dụng đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa
Hoạt động tín dụng là hoạt động chứa đựng nhiều rủi ro nhất nhưng
đồng thời cũng đem đến nhiều lợi nhuận nhất trong hoạt động của ngân
hàng thương mại. Để sử dụng và quản lý hoạt động này có hiệu quả, cũng
hàng hoặc dịch vụ phù hợp với yêu cầu vay. Ngân hàng sẽ dựa trên tính
chất hợp pháp, hợp lệ của các tài liệu này để phát tiền cho khách hàng. Đây
là hình thức cho vay thuận tiện đối với những khách hàng thường xuyên,
vốn vay tham gia thường xuyên vào quá trình sản xuất kinh doanh. Trong
nghiệp vụ này, ngân hàng không ấn định thời hạn trả nợ. Khi khách hàng có
thu nhập, ngân hàng sẽ thu nợ, do đó tạo sự chủ động trong quản lý ngân quỹ
của khách hàng. Nhưng do các lần vay không tách biệt thành các kì hạn nợ
cụ thể nên ngân hàng khó kiểm soát hiệu quả sử dụng trong từng lần vay.
Cho vay gián tiếp: đây là hình thức cho vay thông qua các tổ chức
trung gian, áp dụng với thị trường có nhiều món vay nhỏ, người vay phân
tán cách xa ngân hàng. Ngân hàng có thể chuyển một vài khâu của hoạt
động cho vay sang tổ chức trung gian. Tổ chức trung gian cũng có thể đứng
ra bảo lãnh cho các thành viên vay vốn, cho vay qua trung gian tiết kiệm
được chi phí cho vay, giảm bớt rủi ro cho ngân hàng.
Cho vay luân chuyển: là nghiệp vụ cho vay dựa trên sự luân chuyển
của hàng hoá. Doanh nghiệp khi mua hàng có thể thiếu vốn, ngân hàng cho
vay để mua hàng và sẽ thu nợ khi doanh nghiệp bán hàng. Đầu năm hoặc
đầu quý doanh nghiệp làm đơn vay luân chuyển và thoả thuận với ngân
hàng về hình thức, hạn mức tín dụng, các nguồn cung cấp hàng hoá và khả
năng tiêu thụ. Ngân hàng và doanh nghiệp phải nghiên cứu kế hoạch lưu
chuyển hàng hoá để dự đoán ngân quỹ trong thời gian tới. Đối tượng ngân
hàng cho vay là giá trị hàng hoá mua vào và nguồn chi trả là thu nhập bán
hàng. Khi vay, doanh nghiệp gửi đến ngân hàng các chứng từ hoá đơn nhập
hàng và số tiền cần vay. Ngân hàng sẽ cho vay theo tỉ lệ nhất định tuỳ theo
khối lượng và chất lượng quan hệ của doanh nghiệp. Các khoản hàng hoá
trong kho trở thành vật đảm bảo cho khoản vay. Hình thức này thường áp
Sinh viên thực hiện Nguyễn Hữu Vinh
22
Chuyên đề tốt nghiệp
dụng với các doanh nghiệp thương nghiệp, doanh nghiệp sản xuất có chu kì
1.2.3.2 Phân loại theo thời hạn
+) Tín dụng ngắn hạn
Tín dụng ngắn hạn là loại tín dụng có thời hạn dưới một năm. Xuất
phát từ đặc trưng của hoạt động kinh doanh ngân hàng là kinh doanh tiền
gửi, trong đó chủ yếu là tiền gửi ngắn hạn nên các khoản tín dụng ngân
hàng thường tài trợ ngắn hạn để đảm bảo khả năng thanh toán. Đối với tín
dụng ngắn hạn, nguồn vốn của ngân hàng gắn liền với quá trình luân
chuyển vốn của doanh nghiệp, đây cũng là cơ sở để ngân hàng xác định
thời hạn cho vay hợp lý.
Để đáp ứng nhu cầu của khách hàng, góp phần phân tán rủi ro và tăng
cường khả năng cạnh tranh, các ngân hàng không ngừng phát triển đa dạng
hoá các hình thức tín dụng ngắn hạn: cho vay trực tiếp, cho vay gián tiếp,
cho vay theo món, cho vay theo hạn mức… Doanh nghiệp là đối tượng
khách hàng chủ yếu của ngân hàng, thông thường các khoản tín dụng đều
có tài sản bảo đảm
+) Tín dụng trung và dài hạn
Trong quá trình sản xuất kinh doanh, các doanh nghiệp cần một nguồn
vốn lớn với thời hạn dài để mở rộng quy mô, đầu tư trang thiết bị, công
nghệ, nhằm tăng cường sức sản xuất và cạnh tranh trên thị trường. Các
doanh nghiệp thường tìm đến các ngân hàng tìm kiếm tài trợ thông qua tín
dụng trung và dài hạn, đó là những khoản tín dụng có thời hạn trên một
năm. Những khoản tín dụng có thời hạn từ một đến năm năm được coi là
tín dụng trung hạn, trên năm năm được coi là tín dụng dài hạn. Cùng với sự
phát triển kinh tế, nhu cầu vốn trung và dài hạn ngày càng tăng, hơn nữa
nguồn vốn trung và dài hạn tạo điều kiện cho doanh nghiệp có một khoảng
thời gian dài để sản xuất kinh doanh và lập kế hoạch trả nợ. Nên hình thức
tín dụng này được các doanh nghiệp ưa dùng.
Tín dụng trung và dài hạn tạo ra một năng lực sản xuất mới hoặc nâng
cao năng lực hiện tại của doanh nghiệp. Đối tượng chủ yếu của nó là vốn
Sinh viên thực hiện Nguyễn Hữu Vinh
Đó là toàn bộ các vấn đề có liên quan đến cấp tín dụng nói chung như:
Sinh viên thực hiện Nguyễn Hữu Vinh
25