1
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD:TS. Cao Ý Nhi
LỜI MỞ ĐẦU
Việt Nam đã hội nhập kinh tế thế giới, trên con đường hội nhập đó
ngành ngân hàng cũng đang trở mình để thích ứng với xu thế của thời đại.
Nghiên cứu về ngân hàng và hoạt động ngân hàng là rất cần thiết. Đa dạng
hóa và mở rộng thị trường là điều kiện cần thiết để hạn chế rủi ro và cung
cấp cho khách hàng một hình ảnh ngân hàng toàn diện, vì vậy trước những
yêu cầu mới của cạnh tranh và hội nhập kinh tế, ngành ngân hàng phải
không ngừng phát triển và tìm kiếm những hướng đi mới phù hợp để vừa có
thể đáp ứng ngày càng tốt hơn nhu cầu của khách hàng vừa đứng vững trong
cơ chế thị trường. Mở rộng cho vay tiêu dùng là một điều khá đúng đắn tại
thời điểm hiện nay. Với những nước phát triển thì việc tài trợ cho vay tiêu
dùng là phát triển khá cao, nhưng với thị trường cho vay tiêu dùng ở Việt
Nam thì vẫn còn khá nhỏ lẻ, quy mô chưa thực sự lớn. Lý do giải thích điều
này là vì người dân Việt Nam vẫn chưa có thói quen tiếp xúc nhiều với ngân
hàng và sử dụng hết các dịch vụ mà ngân hàng cung cấp. Và ngân hàng hiện
nay chưa thực sự quan tâm một cách đúng mức tới hoạt động cho vay tiêu
dùng.
Với thời gian thực tập không dài tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát
triển nông thôn chi nhánh Nam Hà Nội, em thấy rằng hoạt động cho vay tiêu
dùng ở chi nhánh vẫn còn chưa thực sự đủ mạnh so với năng lực của chính
bản thân ngân hàng. Việc thực hiện và mở rộng hoạt động cho vay tiêu dùng
có ý nghĩa to lớn đối với sự phát triển lâu dài của chi nhánh. Vì vậy em thực
hiện đề tài “Giải pháp mở rộng hoạt động cho vay tiêu dùng tại
NHNo&PTNT chi nhánh Nam Hà Nội ” làm chuyên đề tốt nghiệp. Hy vọng
chuyên đề sẽ đóng góp phần nào đó vào việc mở rộng cho vay tiêu dùng tại
chi nhánh
SV: Nguyễn Đức Toàn Lớp: TCDN 46Q
1
2
không dùng tiền mặt do đó xuất hiện nghề thanh toán hộ. Điều này cũng tạo
khả năng cho những người giữ hộ tiền sử dụng một phần tiền gửi của người
khác để cho vay. Từ những nghiệp sơ khai đầu tiên ngành ngân hàng đã phát
triển thành rất nhiều các nghiệp vụ khác nhau, phục vụ nhiều nhu cầu của
khách hàng.
1.1.1.2 Khái niệm ngân hàng thương mại
Ngân hàng thương mại là một trong các tổ chức tài chính quan trọng
nhất nền kinh tế. Cùng với sự phát triển của nền kinh tế, hiện nay có rất
nhiều các tổ chức tài chính khác nhau cung cấp các dịch vụ ngân hàng như
dịch vụ cho vay, uỷ thác đầu tư, nhận tiền gửi... và ngân hàng thương mại
cũng đang mở rộng và đa dạng hoá các loại hình dịch vụ của mình. Do đó rất
dễ có sự nhầm lẫn giữa loại hình ngân hàng thương mại và các tổ chức trung
gian tài chính khác nhau.
SV: Nguyễn Đức Toàn Lớp: TCDN 46Q
4
5
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD:TS. Cao Ý Nhi
Giáo trình ngân hàng thương mại định nghĩa về ngân hàng thương mại
như sau: "Ngân hàng thương mại là các tổ chức tài chính cung cấp một danh
mục các dịch vụ tài chính đa dạng nhất - đặc biệt là tín dụng, tiết kiệm, dịch
vụ thanh toán - và thực hiện nhiều chức năng tài chính nhất so với bất kỳ
một tổ chức kinh doanh nào trong nền kinh tế ”.
Có điều khác biệt giữa ngân hàng thương mại và các trung gian tài
chính đó là ngân hàng thương mại là tổ chức kinh tế duy nhất được phép mở
tài khoản tiền gửi thanh toán và làm trung gian thanh toán trong nền kinh tế
quốc dân.
1.1.2 Các hoạt động chủ yếu của ngân hàng thương mại
1.1.2.1 Hoạt động huy động vốn
Bất cứ một tổ chức nào khi hoạt động sản xuất kinh doanh đều cần sử
dụng tới vốn. Và ngân hàng cũng không nằm ngoại lệ, giống như bất kỳ một
ngoại hối với hai mục đích . Thứ nhất, ngân hàng cung cấp dịch vụ cho
khách hàng, chủ yếu là mua hộ và bán hộ cho nhóm khách hàng riêng lẻ, và
ngân hàng thu một khoản phí . Mục đích thứ hai là ngân hàng kinh doanh
ngoại hối nhằm kiếm lời khi tỷ giá có những biến động.
1.1.2.4 Các hoạt động khác
Ngày nay các hoạt động của ngân hàng không ngừng được mở rộng
và phát triển đúng như nhận xét của Peter Rose “ thực hiện nhiều chức năng
tài chính nhất so với bất kỳ một tổ chức kinh doanh nào trong nền kinh tế ”.
Một số hoạt động của ngân hàng ngày nay có thể nhắc tới ở đây như
là cung cấp các tài khoản giao dịch và thực hiện thanh toán, quản lý ngân
quỹ, hoạt động bảo quản vật có giá, tài trợ các hoạt động của chính phủ, cho
thuê thiết bị trung và dài hạn, cung cấp dịch vụ uỷ thác và tư vấn, cung cấp
dịch vụ môi giới đầu tư chứng khoán, bảo hiểm, dịch vụ đại lý... Các hoạt
động này mang lại nguồn thu nhập cho ngân hàng thông qua việc thu phí và
chứa đựng ít rủi ro. Do vậy các ngân hàng hiện đại ngày nay đang ra sức mở
SV: Nguyễn Đức Toàn Lớp: TCDN 46Q
6
7
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD:TS. Cao Ý Nhi
rộng hoạt động dịch vụ nhằm tăng nguồn thu và giảm rủi ro tới mức thấp
nhất có thể.
1.2 Cho vay tiêu dùng của ngân hàng thương mại
1.2.1 Khái niệm cho vay tiêu dùng
Tín dụng là loại tài sản chiếm tỷ trọng lớn nhất ở phần lớn các ngân
hàng thương mại, phản ánh hoạt động đặc trưng của ngân hàng. Tín dụng
ngân hàng được hiểu là quan hệ kinh tế trong đó ngân hàng chuyển cho chủ
thể khác trong nền kinh tế quyền sử dụng một lượng giá trị ( tiền hoặc tài
sản) với những điều kiện nhất định được thoả thuận trong hợp đồng.
Căn cứ theo hình thức tài trợ, tín dụng được chia thành cho vay, cho
thuê, bảo lãnh, chiết khấu. Đây là cách phân loại phổ biến ở các ngân hàng
Về đối tượng vay: các cá nhân và hộ gia đình là khách hàng của loại
hình cho vay tiêu dùng trong khi đó cho vay kinh doanh lại là các doanh
nghiệp, tổ chức, cá nhân, hộ gia đình.
Về nguồn trả nợ: nguồn trả nợ của cho vay tiêu dùng là các tài sản thế
chấp hay các khoản thu nhập có được khác như: lương, thưởng, bán cổ
phiếu, bán nhà, bán quyến sử dụng đất... còn đối với cho vay kinh doanh thì
nguồn trả nợ là lợi nhuận từ hoạt động kinh doanh
Về rủi ro: với phương thức cho vay tiêu dùng thì nó chứa đựng nhiều
rủi ro nhất trong danh mục các tài sản của ngân hàng. Sở dĩ như vậy là vì
nguồn trả nợ là thu nhập thường xuyên của người vay. Mà những khoản thu
nhập này lại phụ thuộc vào sức khỏe và công việc của người vay. Do đó khi
bị mất việc hoặc ốm đau, tai nạn... người vay khó có thể trả được nợ. Hơn
nữa việc thẩm định khả năng trả nợ của cá nhân và hộ gia đình cũng khó
khăn khăn hơn. Bởi đối với các hãng kinh doanh, ngân hàng có thể thẩm
định khả năng trả nợ thông qua các báo cáo tài chính đã được kiểm toán độc
lập, còn đối với người tiêu dùng thì ngân hàng chỉ có thể dựa vào tài sản cá
nhân, lương và các khoản thu nhập khác. Để có được khoản vay, khách hàng
SV: Nguyễn Đức Toàn Lớp: TCDN 46Q
8
9
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD:TS. Cao Ý Nhi
có thể giấu các thông tin về tình hình sức khoẻ và công việc trong tương lai
của mình nên các ngân hàng rất khó xác định được rủi ro khi cho vay tiêu
dùng.
Việc cho vay tiêu dùng phụ thuộc nhiều vào sự tăng trưởng ổn định về
thu nhập và đảm bảo việc làm bởi nó cho phép người tiêu dùng mua được
hàng hoá và dịch vụ ngày hôm nay dựa trên thu nhập của ngày mai. Vì vậy
khi nền kinh tế có xu hướng mở rộng thì nhu cầu vay tiêu dùng tăng cao và
ngược lại khi nền kinh tế suy thoái nhu cầu vay tiêu dùng cũng bị giảm sút
theo.
ngân hàng thương mại đã không cho vay tiêu dùng, chỉ cho vay kinh doanh.
Tuy nhiên các ngân hàng đã ngày càng phát triển và khả năng quản lý rủi ro,
thẩm định khách hàng ngày một tốt hơn nên bên cạnh việc duy trì và đẩy
mạnh cho vay kinh doanh các ngân hàng cũng cần thiết chú trọng mở rộng
cho vay tiêu dùng. Chúng ta khẳng định được như vậy là vì có các lý do sau:
Cho vay tiêu dùng của ngân hàng đem lại lợi ích cho nền kinh tế
( trong đó có cả người vay ). Chúng ta đã biết sản xuất là một quá trình từ
sản xuất đến lưu thông và tiêu dùng. Do đó tiêu dùng là cái đích của sản
xuất, sản xuất các sản phẩm ra để tiêu dùng. Muốn đẩy mạnh sản xuất thì
cần thiết phải đẩy mạnh tiêu dùng và ngược lại muốn tiêu thụ được nhiều
sản phẩm thì sản xuất phải thoả mãn được nhu cầu của người tiêu dùng.
Nhưng để có thể sản xuất hay tiêu dùng thì đều cần có một số tiền nhất định,
số tiền đó có thể có được qua nhiều nguồn khác nhau: tự tích luỹ; vay mượn
người thân, bạn bè; mua hàng trả chậm; vay các trung gian tài chính. Ngân
hàng là một kênh cung cấp vốn hiệu quả cho tất cả các hoạt động đó. Xã hội
ngày càng phát triển nhu cầu tiêu dùng của các cá nhân, hộ gia đình ngày
càng cao. Và trong xã hội luôn sẵn có nhu cầu vay tiêu dùng do các cá nhân
và hộ gia đình mặc dầu chưa có đủ phương tiện thanh toán trong hiện tại
SV: Nguyễn Đức Toàn Lớp: TCDN 46Q
10
11
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD:TS. Cao Ý Nhi
nhưng lại có những nhu cầu cần thiết cần được thoả mãn ngay như đi du
học, tiền viện phí, tang lễ, sửa chữa nhà cửa...Họ có thu nhập ổn định, hoặc
chắc chắn sẽ có thu nhập trong tương lai như thừa kế, cổ tức, lãi trái phiếu...
đảm bảo cho họ khả năng trả nợ, do đó họ có nhu cầu vay tiêu dùng và sẽ trả
được nợ. Khi đã có nhu cầu thì lẽ dĩ nhiên sẽ có người cung ứng và ngân
hàng- một tổ chức kinh doanh tiền tệ chắc chắn không thể bỏ qua một thị
trường với sức mua lớn như thị trường cho vay tiêu dùng.
Không chỉ có thế, trên thị trường đó, ngân hàng thường được cho là
thế, ngân hàng cung cấp sản phẩm cho vay tiêu dùng không chỉ đáp ứng nhu
cầu tiêu dùng của khách hàng mà còn đáp ứng chính nhu cầu đa dạng hóa
sản phẩm của ngân hàng, thu thập nhiều thông tin về khách hàng và thị
trường, mở rộng các dịch vụ hỗ trợ, phân tán rủi ro... để cho ngân hàng thực
sự là một trung gian tài chính cung cấp nhiều dịch vụ đa dạng nhất trong nền
kinh tế quốc dân.
1.2.4 Các loại hình cho vay tiêu dùng
Ta có thể phân loại cho vay tiêu dùng theo rất nhiều các hình thức
khác nhau như: phân theo thời gian, theo hình thức bảo đảm, mức độ tín
nhiệm, mục đích, hình thái giá trị cuat tín dụng, xuất sứ tín dụng, hình thức
hoàn trả, hình thức cho vay giữa ngân hàng và khách hàng. Tuy nhiên em chỉ
xin đưa ra một số cách phân loại thôi.Ta có sơ đồ sau:
Theo hình thức hoàn trả
Theo hình thức cho vay
Theo hình thức bảo đảm
Cho vay tiêu dùng
Có đảm bảo
Không đảm bảo
SV: Nguyễn Đức Toàn Lớp: TCDN 46Q
12
13
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD:TS. Cao Ý Nhi
Trả một lần
Trả góp
Trả tuần hoàn
Trực tiếp
Gián tiếp
Theo thời gian
Ngắn hạn
Trung hạn
Khách hàng có nhu cầu vay vốn nhưng không có tài sản đảm bảo hoặc tài
sản đó không đáp ứng các điều kiện của ngân hàng thì ngân hàng có thể yêu
cầu khách hàng sử dụng chính tài sản được hình thành từ nguồn tài trợ của
ngân hàng làm vật đảm bảo. Chẳng hạn khách hàng vay tiền mua ôtô thì
ngân hàng sẽ yêu cầu lấy chính chiếc ôtô đó làm vật đảm bảo, khi khách
hàng không có khả năng trả nợ ngân hàng sẽ phát mại ôtô đó thể thu nợ. Để
đảm bảo rằng khách hàng sẽ không bán tài sản hoặc sử dụng không cẩn thận
làm giảm giá trị của tài sản ngân hàng thường yêu cầu khách hàng phải cam
kết bảo quản tài sản, mua bảo hiểm và người thụ hưởng là ngân hàng đồng
thời chuyển toàn bộ giấy tờ sở hữu cho ngân hàng.
Loại 2: Những đảm bảo này không được hình thành từ khoản tín dụng
của chính ngân hàng, nó thuộc sở hữu của khách hàng. Ta có thể chia các
hình thức đảm bảo của loại này thành hai loại nhỏ như sau:
Cho vay cầm cố. Đây là hình thức ngân hàng cho khách hàng vay tiền
với điều kiện là khách hàng phải chuyển quyền kiểm soát tài sản đảm bảo
sang cho ngân hàng trong thời gian đã cam kết. Danh mục và điều kiện của
tài sản cầm đồ được ngân hàng qui định cụ thể dựa trên quy định của pháp
luật và chính sách tín dụng của từng ngân hàng. Các tài sản cầm cố thường
là các tài sản mà ngân hàng có thể kiểm soát và bảo quản tương đối chắc
chắn, đồng thời việc ngân hàng nắm giữ không ảnh hưởng đến quá trình hoạt
động của khách hàng chẳng hạn như: các giấy tờ có giá, ngoại tệ mạnh, kim
loại quý…
SV: Nguyễn Đức Toàn Lớp: TCDN 46Q
14
15
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD:TS. Cao Ý Nhi
Cho vay thế chấp. Trong hình thức này người vay phải chuyển các
giấy tờ chứng nhận sở hữu ( hoặc sử dụng) các tài sản đảm bảo sang cho
ngân hàng nắm giữ trong thời hạn cam kết.
Đối với thế chấp bằng tài sản thì những tài sản mang thế chấp thường là bất
2- Người tiêu dùng trả trước một phần tiền mua hàng cho công ty
3- Ngân hàng thanh toán số tiền còn thiếu cho công ty bán lẻ hoặc khách
hàng tự thanh toán cho công ty bán lẻ.
4- Người tiêu dùng nhận hàng hoá đã mua.
5- Người tiêu dùng thanh toán nợ vay cho Ngân hàng.
So với cho vay tiêu dùng trực tiếp, cho vay tiêu dùng gián tiếp có nhiều ưu
điểm hơn như là ngân hàng tiếp xúc trực tiếp với khách hàng do đó có điều
kiện để tìm hiểu và lựa chọn khách hàng, từ đó ra được các quyết định phù
hợp với lợi ích của cả hai bên. Việc quan hệ trực tiếp với khách hàng còn
giúp ngân hàng có thể bán các sản phẩm khác, xây dựng hình ảnh tốt đẹp
của ngân hàng.
Cho vay tiêu dùng gián tiếp: là hình thức cho vay trong đó ngân hàng
mua lại các khoản nợ phát sinh do những công ty bán lẻ đã bán chịu hàng
hoá cho người tiêu dùng.
Thông thường cho vay tiêu dùng gián tiếp được thực hiện theo sơ đồ sau:
Người bán lẻ
Ngân hàng
Người tiêu dùng
3
5
4
1
2
1-Ngân hàng ký kết hợp đồng với công ty bán lẻ về việc tài trợ cho người
tiêu dùng mua hàng trả góp.
2-Công ty bán lẻ và người tiêu dùng ký kết hợp đồng mua bán chịu hàng
hoá. Thông thường, người tiêu dùng phải trả trước một phần giá trị của món
hàng cần mua. Công ty giao hàng cho người tiêu dùng.
SV: Nguyễn Đức Toàn Lớp: TCDN 46Q
16
17
18
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD:TS. Cao Ý Nhi
hàng phải trả trước một phần giá trị tài sản mua sắm. Số tiền trả trước phụ
thuộc vào khả năng tài chính của người vay, loại tài sản, thị trường tiêu thụ
tài sản sau khi sử dụng. Phần còn thiếu ngân hàng sẽ cho vay. Điều này có
tác dụng làm cho khách hàng cảm thấy tài sản đó thuộc sở hữu của mình do
đó thúc đẩy họ bảo quản tài sản và nỗ lực trả nợ đồng thời giúp hạn chế rủi
ro tín dụng cho ngân hàng.
Tổng số tiền lãi mà khách hàng phải trả khi vay trả góp lớn hơn số tiền lãi
đối với món vay trả một lần. Sở dĩ như vậy vì vay trả góp chứa đựng nhiều
rủi ro hơn do có thời hạn dài hơn nên ngân hàng phải tính lãi cao hơn để có
lợi nhuận bù đắp được rủi ro.
+ Cho vay tiêu dùng tuần hoàn. Trong thời gian đã thoả thuận căn cứ vào
nhu cầu chi tiêu và thu nhập từng thời kỳ khách hàng thực hiện vay và trả nợ
nhiều kỳ một cách tuần hoàn. Dư nợ tại một thời kỳ hoặc tổng dư nợ trong
kỳ không được vượt quá giới hạn tối đa cho phép. Khách hàng rất thuận tiện
khi sử dụng hình thức này vì chỉ phải làm thủ tục vay một lần, nhưng có thể
vay nhiều lần nhằm tài trợ cho nhu cầu vay thường xuyên, không xác định
trước.
Cho vay theo thẻ tín dụng, cho vay thấu chi tuần hoàn là các hình thức
cho vay tiêu dùng tuần hoàn phổ biến hiện nay. Đối với cho vay theo thẻ tín
dụng, khách hàng được cấp thẻ và một số dư tối đa, sử dụng thẻ để thanh
toán cho tiền hàng hoá, dịch vụ ở các cơ sở chấp nhận thẻ. Khi sử dụng thẻ,
trung tâm thẻ sẽ ghi nợ vào tài khoản của khách hàng và đến cuối tháng,
khách hàng sẽ nhận được giấy báo của ngân hàng phát hành thẻ liệt kê chi
tiết các khoản mục phải thanh toán. Trong thời hạn cho phép, thường là 30
ngày nếu khách hàng thanh toán( nộp tiền vào tài khoản) thì sẽ không bị tính
lãi, nếu quá thời hạn đã quy định khách hàng sẽ phải trả một khoản lãi.
SV: Nguyễn Đức Toàn Lớp: TCDN 46Q
SV: Nguyễn Đức Toàn Lớp: TCDN 46Q
19
20
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD:TS. Cao Ý Nhi
lên tới 90% giá trị của tài sản cầm cố. Để có thể xác định được hạn mức tín
dụng dựa trên tài sản đảm bảo của khách hàng thì ngân hàng cần phải định
giá chính xác giá trị các tài sản đó. Nếu định giá quá thấp sẽ làm giảm khả
năng vay của khách, nếu định giá quá cao sẽ dễ dẫn đến rủi ro cho ngân
hàng.
Cuối cùng, ngân hàng sẽ so sánh nhu cầu vay hợp lý và hạn mức tín dụng,
để xác định số tiền có thể cho vay. Nếu nhu cầu vay hợp lý > hạn mức tín
dụng thì ngân hàng sẽ cho khách hàng vay theo hạn mức tín dụng. Nếu nhu
cầu vay hợp lý < hạn mức tín dụng thì ngân hàng sẽ cho khách hàng vay số
tiền theo nhu cầu vay hợp lý của khách. Như vậy vừa để thoả mãn nhu cầu
vay của khách hàng vừa để đảm bảo an toàn cho ngân hàng.
Để làm cho phần lý thuyết trên thêm sáng tỏ, chúng ta sẽ lấy 1 ví dụ sau.
Giả sử 1 khách hàng muốn mua một chiếc xe ô tô mới của hãng
Honda (chiếc Civic chẳng hạn) với giá là 450.000.000. Khách hàng có số
tiền là 150.000.000 và một sổ tiết kiệm trị giá 400.000.000 nhưng 6 tháng
nữa mới đến hạn. Khi đó ngân hàng sẽ tính toán số tiền cho vay như sau:
Nhu cầu vay của khách = 450.000.000 - 150.000.000 = 300.000.000
Giá trị tài sản đảm bảo = 400.000.000
Khách hàng đem cầm cố sổ tiết kiệm để vay vốn, hạn mức tín dụng của hình
thức đảm bảo này là 90% giá trị tài sản đảm bảo, đo đó hạn mức tín dụng là
400.000.000 x 0,9 = 360.000.000.
So sánh hạn mức tín dụng và nhu cầu vay hợp lý, ngân hàng quyết định cho
khách hàng vay số tiền là 300.000.000.
1.2.6 Lãi suất cho vay tiêu dùng
Lãi suất cho vay tiêu dùng là tỷ lệ phần trăm số tiền lãi mà khách hàng
phải trả cho ngân hàng trên tổng số vốn vay trong thời gian nhất định ( 1
Phương pháp tính lãi phổ biến được các ngân hàng sử dụng trong hoạt động
tín dụng là phương pháp lãi đơn. Đây là là phương pháp tính lãi trong đó số
SV: Nguyễn Đức Toàn Lớp: TCDN 46Q
21
22
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD:TS. Cao Ý Nhi
tiền lãi tỷ lệ thuận tuyến tính với thời gian vay vốn thực tế. Phương pháp lãi
đơn tính số tiền lãi khách hàng phải trả dựa trên số dư nợ thực tế tại từng
thời kỳ thanh toán của khách hàng.
Công thức tính lãi đơn như sau:
Lãi phải trả = dư nợ đầu kỳ x lãi suất x thời gian
Số tiền phải trả cuối kỳ ( nợ gốc và lãi ) sẽ được xác định tuỳ vào cách thức
khách hàng lựa chọn để trả nợ.
Nếu khách hàng trả một lần ( cả gốc và lãi ) vào cuối kỳ thì đến kỳ trả nợ
khách hàng phải trả tổng số tiền bao gồm nợ gốc và tiền lãi.
Nếu gốc được trả đều làm nhiều kỳ trong thời hạn vay, gọi k là tổng số tiền
vay, a là số nợ gốc phải trả mỗi kỳ, n là số kỳ trả nợ, thì số nợ gốc phải trả
mỗi kỳ là:
n
k
a
=
Số tiền phải trả mỗi kỳ bằng nợ gốc phải trả cộng với tiền lãi tính trên dư nợ
của kỳ đó.
Nếu như khách hàng muốn mỗi kỳ trả nợ một khoản bằng nhau ( nợ gốc +
lãi ) hay còn gọi là trả theo niên kim cố định thì số tiền trả mỗi kỳ được tính
như sau . Gọi số tiền vay là k, i lãi suất, a là số tiền phải trả một kỳ, n là số
kỳ trả nợ thì ta có công thức :
n
i
khách hàng vay vốn có đủ năng lực pháp luật và năng lực hành vi dân sự, đủ
tư cách pháp lý vay vốn ngân hàng. Đồng thời đảm bảo khách hàng vay vốn
có ý thức rõ ràng về trách nhiệm phải hoàn trả đầy đủ và đúng hạn các khoản
nợ.
Thẩm định mục đích sử dụng tiền vay. Đây là một trong những
nguyên tắc khi cho vay của ngân hàng, ngân hàng cho vay đúng mục đích.
Khách hàng được phép vay để tiêu dùng những tài sản, hàng hoá mà pháp
luật không cấm và phù hợp với chính sách tín dụng của từng ngân hàng.
Thẩm định tình hình tài chính và khả năng thanh toán. Nội dung này
bao gồm: Xác định mức thu nhập, việc làm, số dư các tài khoản tiền gửi và
nơi cư trú. Việc xác định nguồn thu nhập ổn định hàng tháng của khách hàng
có ý nghĩa rất quan trọng vì đây là nguồn trả nợ cho ngân hàng. Những
SV: Nguyễn Đức Toàn Lớp: TCDN 46Q
23
24
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD:TS. Cao Ý Nhi
khách hàng có thu nhập ổn định và thu nhập còn lại sau khi trừ các khoản
chi phí sinh hoạt cần thiết cao sẽ được đánh giá cao. Cán bộ tín dụng cũng
đồng thời xác minh lại thông tin ở cơ quan nơi khách hàng làm việc để đánh
giá độ chính xác của mức thu nhập, độ dài thời gian làm việc, nơi cư trú và
số sổ bảo hiểm xã hội ghi trên đơn xin vay. Cán bộ tín dụng cũng kiểm tra số
dư các tài khoản tiền gửi của khách ( nếu có ) qua các ngân hàng có liên
quan. Thời gian sống tại nơi cư trú hiện tại cũng thường được coi trọng vì
nếu khoảng thời gian một người sống tại một nơi càng lâu thì có thể tin rằng
cuộc sống của người đó càng ổn định. Còn nếu một người thường xuyên
thay đổi chỗ ở thì sẽ là một yếu tốt bất lợi cho ngân hàng khi quyết định cho
vay.
Thẩm định tài sản đảm bảo. Trước hết, cán bộ tín dụng sẽ kiểm tra
quyền sở hữu hoặc sử dụng hợp pháp tài sản của khách hàng, khả năng
chuyển nhượng của tài sản. Đối với tài sản đảm bảo cán bộ tín dụng thường
khách hàng. Sau khi giải ngân tiền vay cho khách hàng, cán bộ tín dụng sẽ
phải thường xuyên kiểm tra mục đích sử dụng tiền vay,tài sản thế chấp và
đánh giá khả năng trả nợ của khách hàng, đôn đốc khách hàng trả nợ. Việc
kiểm tra thường xuyên sẽ giúp ngân hàng sớm phát hiện ra các khoản nợ có
vấn đề để có biện pháp can thiệp kịp thời. Đồng thời phát hiện nhu cầu mới
của khách hàng để phục vụ. Kiểm soát tín dụng cũng giúp các nhà quản lý
ngân hàng trong việc đánh giá toàn bộ rủi ro tiềm tàng của ngân hàng và nhu
cầu vốn của nó trong tương lai.
Bước 6: Thu nợ và xử lý nợ quá hạn. Đây là bước cuối cùng của quy
trình tín dụng. Cán bộ tín dụng theo dõi việc trả nợ của khách hàng, quá
trình này giúp ngân hàng thu vốn và lãi đồng thời bổ sung thêm thông tin về
khách hàng. Khi phát hiện các khoản nợ có dấu hiệu xấu cán bộ tín dụng
xem xét việc gia hạn nợ, tăng cường kiểm tra, bổ sung các điều kiện hoặc
cam kết, chuyển nợ quá hạn. Đối với những khoản nợ đã quá hạn, khách
SV: Nguyễn Đức Toàn Lớp: TCDN 46Q
25