A. PHẦN MỞ ĐẦU.
I. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI.
Tiểu học là cấp học đầu tiên, là nơi các em bước vào ngưỡng cửa tri thức.
giai đoạn này các em được cung cấp hai luồng tri thức thông qua hai môn
học chính đó là: Tiếng Việt và Toán. Mỗi môn học có nhiệm vụ riêng có
hướng giáo dục tri thức riêng, nhưng vẫn tác động qua lại lẫn nhau và cùng
với các môn học khác tạo nên một nền tảng vững vàng cho các cấp bậc sau.
Trong đó môn Tiếng Việt cùng với các môn học khác có nhiệm vụ cung cấp
cho học sinh bốn kĩ năng cơ bản đó là: “Nghe, nói, đọc, viết”, mà trong môn
học này lại có các thành viên cấu thành là các phân môn: Tập đọc, Luyện từ
và câu, Chính tả, Tập làm văn, Kể chuyện Trong đó phân môn Tập làm
văn là phân môn có tính chất tích hợp của các phân môn khác. Qua tiết Tập
làm văn học sinh có khả năng xây dựng một văn bản, đó là bài nói, bài viết.
Nói và viết là những hình thức giao tiếp rất quang trọng, thông qua đó con
người thực hiện quá trình tư duy - chiếm lĩnh tri thức, trao đổi tư tưởng, tình
cảm, quan điểm, giúp mọi người hiểu nhau, cùng hợp tác trong cuộc sống
lao động. Ngôn ngữ (dưới dạng nói – ngôn bản và dưới dạng viết văn bản )
giữ vai trò quang trọng trong sự phát triển xã hội. Chính vì vậy hướng dẫn
học sinh nói đúng và viết đúng là hết sức cần thiết. Nhiệm vụ nặng nề đó
phụ thuộc rất lớn vào việc giảng dạy môn Tiếng Việt nói chung và phân môn
Tập làm văn nói riêng, cụ thể tìm hiểu ở đây là chương trình Tập làm văn
lớp 3. Vấn đề đặt ra: Người giáo viên làm sao để đạy hiệu quả như mong
muốn.
Qua thực tế học tập tôi thấy phân môn Tập làm văn là phân môn khó so với
các phân môn khác của môn Tiếng Việt. Do đặt trưng phân môn Tập làm
văn với mục tiêu cụ thể là: “Hình thành và rèn luyện cho học sinh khả năng
trình bày văn bản (nói và viết) ở nhiều thể loại khác nhau như: Miêu tả, kể
chuyện, viết thư, tường thuật, kể lại bản tin, tập tổ chức cuộc họp, giới thiệu
về mình và những người xung quanh”. Trong quá trình tham gia các hoạt
động học tập này học sinh với vốn kiến thức còn hạn chế nên thường ngại
nói. Nếu bắt buộc phải nói, các em thường đọc lại bài viết đã chuẩn bị trước.
trình phân môn Tập làm văn có rất nhiều đổi mới, nên đòi hỏi tiết dạy Tập
làm văn phải đạt được mục đích cụ thể hơn, rõ nét hơn. Ngoài phương pháp
của thầy, học sinh cần có vốn kiến thức ngôn ngữ về đời sống thực tế. Chính
vì vậy, việc dạy tốt các phân môn khác không chỉ là nguồn cung cấp kiến
thức mà còn là phương tiện rèn kỹ năng nói, viết, cách hành văn cho học
sinh. Điều này đòi hỏi phân môn Tập làm văn này phải có nhiệm vụ cơ bản
sau: Thứ nhất là giúp cho học sinh sau quá trình luyện tập lâu dài có ý thức
nắm được cách viết và cách nói sáng tạo các văn bản theo nhiều phong cách
khác nhau. Thứ hai là phân môn này góp phần bổ sung kiến thức, rèn luyện
tư duy hình thành nhân cách cho học sinh. Còn nhiều nhiêm vụ khác nữa
nhưng tôi chỉ nêu hai nhiệm vụ tôi coi là quan trọnh nhất.
Tóm lại: Dạy phân môn Tập làm văn theo hướng đổi mới phải khích lệ học
sinh tích cực, sáng tạo, chủ động học tập, biết diễn đạt suy nghĩ của mình
thành ngôn bản, văn bản. Nói cách khác, các phân môn trong môn Tiếng
Việt là phương tiện hỗ trợ cho việc dạy Tập làm văn được tốt hơn.
NỘI DUNG CHƯƠNG TRÌNH SÁCH GIÁO KHOA, PHƯƠNG PHÁP, QUY
TRÌNH DẠY, VÀ CÁC HÌNH THỨC LUYỆN TẬP PHÂN MÔN TẬP LÀM
VĂN LỚP 3 THEO CHƯƠNG TRÌNH MỚI.
1. Nội dung chương trinh sách giáo khoa.
Chương trinh dạy học Tập làm văn lớp 3 bao gồm 35 tiết / năm: trong đó có
31 tiết thực học, và 4 tiết ôn tập.
- Kì 1: 16 tiết + 2 tiết ôn tập.
- Kì 2: 15 tiết + 2 tiết ôn tập.
Trang bị cho học sinh một số kiến thức và kĩ năng phục vụ cho học tập và
đời sống hàng ngày như: Điền vào tờ giấy in sẵn, viết thư, làm đơn, tổ chức
cuộc họp, phát biểu trong cuộc họp, giới thiệu cuộc họp của tổ; lớp; trường,
ghi chép sổ tay,
Tiếp tục rèn kĩ năng : “Nghe, nói, đọc, viết “ thông qua kể chuyện, miêu tả.
Ví dụ: Kể về một việc đơn giản, tả sơ lược về người hoặc vật xung
quanhtheo gợi ý bằng tranh hoặc bằng câu hỏi.
- Tuần 14: Nghe kể: Tôi cũng như bác.
- Tuần 15: Nghe kể: Giấu cày.
- Tuần 16: Nghe kể: Kéo cây lúa lên.
- Tuần 19: Nghe kể:Chàng trai phù ủng.
- Tuần 21: Nghe kể: Nâng niu từng hạt giống.
- Tuần 24: Nghe kể: Người bán quạt may mắn.
- Tuần 32: Nghe kể: Vươn tới các vì sao.
• Yêu cầu.
- Học sinh hiểu nội dung câu chuyện, thuật lại câu một cách mạnh dạng, tụ
tin.
- Học sinh thấy được ý nghĩa (cái hay, cái đẹp, cái cần phê phán) trong câu
chuyện.
- Biết diễn đạt rõ ràng thành câu, dễ hiểu.
- Giọng kể phù hợp nội dung từng câu chuyện.
b ) bài tập nói: Học sinh luyện tập qua các tiết học sau.
- Tuần 1: Nói về Đội.
- Tuần 5: Tập tổ chức cuộc họp.
- Tuần 6: Kể lại buổi đàu em đi học.
- Tuần 8: Kể về người hành xóm.
- Tuần 11: Nói về quê hương.
- Tuần 12: Nói về cảnh đẹp đất nước.
- Tuần 15: Giới thiệu về tổ em.
- Tuần 16: Nói về thành thị nông thôn.
- Tuần 20: Báo cáo hoạt động.
- Tuần 21: Nói về tri thức.
- Tuần 22: Nói về người lao động trí óc.
-Tuần 25: Kể về lễ hội.
- Tuần 26: Kể về một ngày hội.
- Tuần 28: Kể về một trận thi đấu thể thao.
- Tuần 32: Nói về bảo vệ môi trường.
- Qua sự chỉ đạo chuyên môn của các trường cụ thể là ở các tổ chuyên
môn, và đặt biệt là phòng giáo dục ở từng địa phương cụ thể đã có vai trò
tích cực giúp giáo viên đi đúng nội dung, chương trình phân môn Tập làm
văn.
- Thông qua các tiết dạy mẫu, các cuộc thi, hội thảo, Các chuyến đi tập
huấn đã mang lại cho mỗi giáo viên nhiều kinh nghiệm, và thành công khi
áp dụng vao giảng dạy Tập Làm Văn.
- Các phương tiện thông tin đại chúng như: Tivi, đài phất thanh, radio,
sách, báo Giáo viên đã tiếp cậc với đổi mới phương pháp dạy và học Tập
Làm Văn.
• Đối với học sinh:
- Học sinh lớp 3 ở giai đoạn này rất ham học, đặc biệt hơn lứa tuổi này
các em không con bỡ ngỡ trước môi trường học tập thật sự như ở càc lớp
học truớc, quan trọng là ở lớp 3 này các em đã được trang bị một khối lượng
kiến thức khá lớn ở lớp 1, đặc biệt là các em ở lớp 2 đã nắm vững kiến thức,
kĩ năng của phân môn Tập Làm Văn, kĩ năng giao tiếp, kĩ năng tạo lập ngôn
bản, kĩ năng kể chuyện miêu tả mà các thầy cô giáo trước đó dã trang bị sẵn.
Đây là cơ sở giúp cho các em học tốt phân môn Tập Làm Văn lớp 3.
- Môn Tiếng Việt nói chung và phân môn Tập Làm Văn nói riêng có nội
dung phong phú, sách giáo khoa được trình bày với kênh hình đẹp, trang
thiết bị dạy học hiện đại, hấp dẫn học sinh, phù hợp vơi tâm lý lứa tuổi các
em.
Tuy có những thuận lợi như vậy nhưng khó khăn vẫn còn tồn tại rất nhiều.
II. Khó khăn:
• Đối với giáo viên:
Trong môn Tiếng Việt phân môn khó nhất là Tập Làm Văn, nó đòi hỏi
người giáo viên phải có kiến thức sâu rộng, phong phú cần có vốn sống thực
tế, người giáo viên biết kết hợp linh hoạt các phương pháp trong giảng dạy.
Biết gợi mở tò mò, có khả năng sáng tạo, độc lập ở học sinh, giúp các em
nói viết thành văn bản.
dạy trong hai tuần gồm các bài tập đọc, luyện từ và câu, Trong quá trình
rèn đọc, khai thác nội dung các bài đọc cung cấp cho học sinh vốn từ về chủ
đề Cộng đồng, những câu văn có hình ảnh về chủ đề Cộng đồng. Cụ thể khi
dạy bài tập đọc: Kể chuyện các em nhỏ và cụ già ở tuần 8 giáo viên khai
thác nội dung bài theo hệ thống câu hỏi sau
+ Điều gì gặp bên đường khiến các bạn nhỏ phải dùng lại? (Các bạn gặp một
cụ già đứng ven đường, vẻ mặt mệt mỏi, cặp mắt lộ vẻ u sầu).
+ Các bạn quan tâm đến ông cụ như thế nào? ( Các bạn băn khoăn và trao
dổi với nhau. Có ban đoán: a) Hay ông cụ bị ốm, b) Hay cụ bị mất cái gì đó.
Cuối cùng cả nhóm bạn đến hỏi thăm ông cụ).
+ Vì sao các bạ quan tâm đến ông cụ? Với câu hỏi này có thể các em sẽ trả
lời như sau:
- Vì các bạn là những trẻ ngoan.
- Vì các bạn là những ngươì nhân hậu.
- Vì các bạn mốn quan tâm, giúp đỡ ông cụ.
+ Ông cụ gặp chuyện j buồn? (Cụ bà bị ốm nặng đang nằm trong bệnh viện,
khó mà qua khỏi).
+ Vì sao khi trò chuyện với các bạn nhỏ ông cụ thấy lòng mình nhẹ hơn?
Với câu hỏi này có thể các em trả lời như sau:
- Ông cản thấy nỗi buồn được chia sẻ.
- Ông cảm thấy đỡ cô đơn vì có các bạn nhỏ trò chuyện.
- Ông cảm thấy lòng mình ấm lại vì tình cảm của các bạn nhỏ dành cho
mình.
Qua hệ thống câu hỏi, giáo viên giúp học sinh bày tỏ được thái độ, tình
cảm, ý kiến nhận xét, đánh giá của mình về vấn đề nêu ra trong bài học.
Song song với quá trình đó, giáo viên cần hỏi ý kiến nhận xét của học sinh
về câu trả lời của bạn để học sinh rút ra câu trả lời đúng nhất phù hợp với
tình huống đó, và tạo cho học sinh cách ứng sủ hay.
Qua câu trả lời của học sinh, giáo viên định hướng cho các em ý thức
biết quan tâm chia sẻ với nhũng người trong cộng đồng, giúp các em khi viết
chủ đề Cộng đồng. Ví dụ: viết đoạn 4 trong bài các em nhỏ và cụ già: “Cụ
ngừng lại và nghen ngào nói tiếp cho đến ông cũng thấy lòng nhẹ hơn.
Khi viết đoạn văn trên học sinh rèn viết chính tả, cách sử dụng các dấu câu;
thấy được sự thông cảm, chia sẻ giữa con người với nhau làm dịu bớt nỗi lo
láng buồn phiền, tăng thêm cho mỗi người niềm hi vọng, ngị lực sống. Học
sinh vận dụng cái hay, cái đẹp của ngôn từ trong đoạn văn để thể hiện tình
cảm, thái độ đánh giá trong từng bài văn cụ thể của chính các em. Tương tự,
ở phân môn tập viết tuần 8 các em được làm quenvới các thành ngữ, tục ngữ
về chủ đề cộng đồng như luyện viết câu ứng dụng: “ Khôn ngoan đối đáp
người ngoài, gà cùng một mẹ chớ hoài đá nhau”. Xuất phát từ các phân môn:
Tập đọc, Luyện từ và câu, Chính tả, Tập viết Xoay quanh chủ đề Cộng đồng,
học sinh biết “Kể về người hàng xóm mà em yêu mến” (TLV lớp 3 tuần 8),
và viết được đoan văn hoàn chỉnh, thể hiên tình cảm, thái độ dánh giá đối
với người hàng xóm qua việc sử dụng từ ngữ, câu văn có hính ảnh. Ví dụ
như các em viết: “Cô Loan là người hàng xóm bên cạnh nhà em. Cô là một
giáo viên tiểu học, tối tối miệt mài bên giáo án, và chấm bài cho học sinh.
Với dáng nhỏ nhắn nhưng rất nhanh nhẹn, giọng cô ấp áp. Em thích nghe
nhất là khi cô hát. Cô thật xứng danh là mộ giáo viên giỏi của trường
• Như vậy, khi dạy tất cả các phân môn: Luyện từ và câu, chính tả, tập
đọc, đều nhằm mục đích giúp học sinh có kĩ năng hình thành văn
bản, ngôn bản. Do đó, tích hợp lồng ghép phương pháp đặc trưng khi
dạy phân môn Tập Làm Văn lớp 3.
2. Dạy học theo quan điểm giao tiếp.
Dạy học theo quan điểm giao tiếp là hình thành cho học sinh kĩ năng
diễn đạt thông qua các bài học, hình thành thói quen ứng xử trong giao tiếp
hàng ngày với thầy, cô, cha mẹ, bạn bè, và mọi người xung quanh.
Vận dụng phương pháp dạy học theo quan điểm này, giáo viên tạo cho
học sinh nhiều cơ hội thực hành, luyện tập, không quá nặng về lý thuyết như
phương pháp dạy truyền thống. Do vậy học sinh hào hứng tham gia vào các
hoạt động học tập, tích cực sáng tạo trong làm văn. Việc hình thành và rèn
thứ thiên liêng, cao quý nhất. thông qua kể lại câu chuyện theo tranh, học
sinh hình thành và rèn luyện khả năng diễn đạt, phục vụ tốt cho bài tập nói
của tiết Tập làm văn.
• Tóm lại: Học sinh rèn kĩ năng quan sát, nói-viết, rút ra những nét diển
hình, đặc trưng của từng vùng miền, thấy được vẻ đẹp đáng yêu,
đáng tự hào của mỗi vùng miền, từ đó hình thành nuôi dưỡng tình
cảm gắn bó, yêu thương, ý thức giữ gìn, xây dựng quê hương đất
nước. Ngoài ra, mỗi giáo viên cần chú trọng vận dụng phương pháp
dạy học theo quan diểm giao tiếp, khơi dậy ở các em những cảm xúc,
đánh thức tiềm năng cảm thụ văn học và có nhu cầu thể hiện, bày tỏ
cảm thụ đó với người khác. Như vậy, Mỗi bài nói bài viết sẽ chính là
tâm hồn tình cảm của các em, các em sẽ thêm yêu văn-yêu cái hay
cái đẹp, yêu tiếng Việt-giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt.
3. Tổ chức tốt việc quan sát, hướng dẫn học sinh cách dùng từ,giọng kể,
điệu bộ khi làm văn nghe- nói-viết.
Với đặc điểm vốn từ còn hạn chế, nên học sinh lớp 3 gặp nhiều khó khăn
trong việc nghe-nói-viết-kể lại câu chuyện bằng lời văn của mình. Do vậy,
giáo viên cần tổ chức tốt hoạt động quan sát từng đường nét, màu sắc, hình
ảnh, nội dung thể hiện của tranh. học sinh cảm nhận được nét đẹp của cảnh
vật, con người và muốn bày tỏ trao đổi với bạn, với thầy cô.
Để làm tốt hoạt động này, trước hết giáo viên chú ý cho học sinh sử dụng
gợi ý trong sách giáo khoa, lắng nghe cô kể, bạn kể,để nhớ được các ý chính
của nội dung câu chuyện. Giáo viên chú trọng về lời văn kể và nghệ thuật sử
dụng ngôn từ. Giáo viên cần hướng cho các em cách chon lựa, sử dụng từ
ngữ, hình ảnh diễn đạt sao cho dễ hiểu, sinh động. Có như vậy người nghe
đọc sẽ dễ dàng hình dung, tưởng tượng, nắm bắt được sự việc,nhất là tình
cảm của các em muốn thể hiện qua bài nói, bài viết. Người nghe, người đọc
tuy không trược tiếp nhìn diện mạo của nhân vật, xem bối cảch của sự việc
qua hình ảnh miêu tả, so sánh cùng với những tình cảm, thái độ, sự đánh giá
của các em. Đó chính là điểm mạnh của nghệ thuật sử dụng ngôn từ.
chương trình sách giáo khoa lớp 3, mỗi tiết Tập làm văn là một hệ thống bài
tập có tính định hướng, gợi mở, với nhiều dạng bài: Nghe-nói, nói- viết,
nghe-nói-viết Vì vậy, giáo viên vẫn bám sát mục đích, yêu cầu của tiết
dạy, bài dạy nhưng linh hoạt, chủ động hổntng cách tổ chức hoạt động dạy-
học, phân bổ thời gian hợp lý, vừa tránh được những nhược điểm nêu trên
vừa tạo được không khí học tập phát huy được tính tích cực, sáng tạo của
học sinh.
Ví dụ: Tiết tập làm văn (tuần 11) với hệ thống bài tập như sau:
Bài 1: Nghe kể lai câu chuyện “tôi có đọc đâu”. Yêu cầu học sinh nghe và kể
lại câu chuyện. Giáo viên sử dụng các hình thức dạy học:
- Giáo viên kể mẫu nội dung câu chuỵên
- Thảo luận theo nhóm, theo cặp, học sinh dựa vào gợi ý sách giáo khoa,
tranh và việc nghe giáo viên để kể lại nội dung câu chuyện cho nhau nghe.
- Đại diện từng nhóm kể trước lớp.
- Học sinh nhận xét, bổ sung, cho điểm.
Cách tổ chức các hình thức hoạt đông nêu trên huy động được tất cả học
sinh tham gia vào hoạt động học tập, tạo được không khí thi đua học tập
giữa từng học sinh với nhau, và giữa các nhóm học sinh.
Bài 2: Nói về quê hương em hoặc nơi em đang ở. Yêu cầu học sinh làm việc
cá nhân với vở bài tập. Giáo viên sử dụng các hình thức dạy học sau:
- Cá nhân học sinh làm trong vở bài tập.
- Học sinh nhận xét bài làm của bạn.
- Giáo viên nhận xét, bổ sung, cho điểm.
Tóm lại ở hai bài tập này giáo viên nên sử dụng và phối hợp linh hoạt các
hình thức dạy tập làm văn lớp 3 theo hướng đổi mới, tạo được hứng thú cho
học sinh, học sinh tham gia các hoạt động hcj một cách hào húng, tích cực,
sáng tạo.
Ví dụ 2: Tiết Tập làm văn (tuần 22) với hệ thống bài tập.
Bài 1: Kể về người lao động trí óc mà em biết.
- Giáo viên cho hoc sinh làm việc cá nhân (làm trong vở bài tập).
các hoạt động ngoài gìơ lên lớp rất cần thiết. Qua các hoạt động ngoài giờ,
học sinh được rèn luyện bằng nhiều hình thức khác nhau, có nội dung liên
quan đến bài học của các em. Giáo viên giảng dạy cần có sự phối kết hợp
chặc chẽ với giáo viên tổng phụ trách, thông qua các buổi chào cờ nói về
gương người tốt việc tốt, tổ chức các hoạt động: Thi búp măng xinh, thi cac
múa hát tập thể, tập diễn các tiểu phẩm, thi kể chuyện-văn nghệ, đọc thơ, thi
các môn năng khiếu, Hoặc thông qua các buổi lễ khai giảng học sinh có
thể viết những cảm xúc, những kỉ niệm đẹp của các em về ngày đàu tiên đi
học (bài học tuần 6) Hay qua các buổi lễ kết nạp đội viên TNTP Hồ Chí
Minh, giúp các em viết tốt hơn đơn xin vào Đội, sinh hoạt trong các câu lạc
bộ, tổ chức của Đội Ví dụ: Tham dự hội thi tim hiểu về Đội .Từ thực tế
đó, học sinh sẽ có thêm hiểu biết về Đội TNTP Hồ Chí Minh, Giúp các em
viết tốt hơn đơn xin vào đội (tiết Tập làm văn tuần 2), vÓi yêu cầu: Em hãy
viết đơn xin vào đội với mẫu in sẵn.
7. Dạy tập làm văn theo hướng đổi mới ở tất cả các khối lớp .
Nội dung kiến thức chương trình sách giáo khoa mới biên soạn theo chủ
đề, chủ điểm, nâng cao cao dần về mức độ và lượng kiến thức qua từng lớp
học. Do đó để đạt được hiệu quả tốt trong giảng dạy tập làm văn lớp 3 theo
hướng đổi mới cần thực hiện đồng bộ viẹc đổi mới phương pháp ở tất cảc
các khồi lớp trước (lớp 1-2) và đựoc tiếp theo ở lớp 4-5.Cụ thể: Dạy học
sinh tập nói thành câu, nói theo chủ đề, nội dung, nhìn tranh nói thành câu.
Đối với lớp 2: Dựa trên nền tảng kiến thức mà các em đã học được ở lớp 1,
nâng cao mức độ vừa phải: Kể lại câu chuyện đã học, nói - viết thành câu,
đưa ra các mẫu câu (ai làm gì? Ai như thế nào? ), viết đoạn văn từ 2-3 câu.
Đối với lớp 3: Luyện nghe, luyện nói, luyên viết: mẫu câu rộng, bao quát
hơn; yêu cầu về câu cao hơn, câu đúng ngữ pháp, biết sử dụng biện pháp tu
từ, so sánh, nhân hoá, câu văn giàu hình ảnh. Đặc biệt phần luyện viết với số
lượng câu văn tăng lên (5-7 câu), đã chú ý đến kết cấu đoạn văn và diễn đạt
cảm xúc trong câu văn, đoạn văn. Đối với lớp 4: Học sinh luyện nói câu
chuyện đã nghe, đã đọc, xây dựng cốt truyện có nhân vật, kể chuyện dựa
sau này có điều kiện sẽ áp dụng, xây dựng tích hợp các kiến thức liên quan
với nhau giữa các môn học . Thông qua thử nghêm theo hướng trên, tôi đã
thu rất nhiều kinh nghiệm và có kết quả : học sinh thích thú hơn, mạnh dạng
hơn, vốn từ của học sinh phong phú hơn, câu văn giàu hình ảnh, Nhờ thế
tôi rút ra được một số kinh nghiệm là: Phương pháp dạy học Tập làm văn
chủ yếu trong giai đoan hiện nay là phải hướng cho học sinh cách tự học
sáng tạo tri thức, phần lớn là cho học sinh tìm tòi, thực hành, luyện tập là
chủ yếu. không nên dạy học một cách khuôn khổ như cách dạy và học lúc
trước, giáo viên phải tạo điều kiện tối đa cho học sinh phát huy khả năng của
mình mà không đi lệch hướng. Theo chương trình mới thì chúng ta phải lấy
học sinh làm trung tâm cho hoạt động dạy và học, Người giáo viên phải phối
hợp nhiều phương pháp khác nhau như: hoạt động ngoài giờ lên lớp, hoạt
động ngoại khoá Để thực hiện tốt phương pháp dạy học cho học sinh thi
còn nhiều điều cần phải nghiên cứu nhằm đáp ứng cho sự chuyển biến của
xã hội những gì xã hội cần đặc biệt là học sinh lứa tuổi này. Tuy nhiên
không có gì là hoàn thiện, nên đề tài tôi nghiên cứu cũng không tránh khỏi
điều này, nó chỉ áp dụng được ở những nơi mà học sinh có đủ điều kiện phát
triển. Chính vì vậy chúng ta cần phải chú trọng đến đặc điểm tâm sinh lý của
học sinh ở từng vùng miền khác nhau khi dạy phân môn Tập làm văn. Đây
là vấn đề khó khăn cho việc dạy môn Tiếng Việt nói chung và phân môn
Tập làm văn nói riêng.