Kinh nghiệm bán hàng giá rẻ của Trung Quốc và bài học với Việt Nam
2010
LỜI NÓI ĐẦU
LỜI NÓI ĐẦU
1/Tính cấp thiết của đề tài
Ngày nay thương mại đã trở thành một phần tất yếu của nền kinh tế hiện đại.
Ra đời hàng ngàn năm trước dưới hình thái hàng đổi hàng đơn thuần, thương mại
đã có những bước tiến vĩ đại, đưa nền kinh tế của những quốc gia khác nhau ngày
càng xích lại gần nhau hơn. Đặc biệt là trong thời kỳ toàn cầu hóa hiện nay, khi
khoảng cách về không gian và thời gian ngày càng gắn lại, thương mại làm đã có
những phát triển bước phát triển vượt bậc, làm cho nền kinh tế toàn cầu ngày càng
lớn mạnh và thống nhất. Thương mại tựa như đôi cánh vĩ đại cho sự vươn lên
mạnh mẽ của nền kinh tế toàn cầu.
Đối với các nước đang phát triển, khi trình độ phát triển kinh tế còn kém xa
các nước tiên tiến, thì quá trình toàn cầu hóa thực sự mang lại một cơ hội vàng cho
sự vươn lên. Nhiều bài học của các nước như Hàn Quốc, Singapore, Đài Loan và
gần đây là Trung Quốc đã chứng minh rằng một quốc gia lạc hậu hoàn toàn có thể
vươn lên ngang tầm các quốc gia phát triển nếu biết tận dụng thời cơ của toàn cầu
hóa, đặc biệt là tận dụng những cơ hội do tự do Thương mại mang lại.
Trước năm 1978, Trung Quốc thi hành những chính sách hạn chế thông
Thương, nhất là với thế giới bên ngoài. Khi đó, người ta vẫn biết Trung Quốc là
một nước lớn nhưng chỉ là lớn về lãnh thổ và quy mô dân số. Nền kinh tế Trung
Quốc quá nhỏ bé so với nền kinh tế thế giới. Tuy nhiên từ khi tiến hành cải cách
mở cửa năm 1978 tới nay, Trung Quốc đã có những bước tiến mạnh mẽ và dần
vươn lên trở thành một siêu cường mới của thế giới. Sức mạnh Trung Quốc chỉ có
thể giải thích được bằng sự phát triển thần kỳ của nền kinh tế trong suốt hơn 30
Page | 1
Kinh nghiệm bán hàng giá rẻ của Trung Quốc và bài học với Việt Nam
2010
năm cải cách. Đi sâu nghiên cứu sự phát triển của nền kinh tế nước này, nhiều nhà
kinh tế đã khẳng định rằng chính sự phát triển của thương mại đã chắp cánh cho sự
hàng giá rẻ ra thị trường nội địa và quốc tế.
- Rút ra những kinh nghiệm và bài học với phía chính phủ và doanh nghiệp
Việt Nam cũng như một số điều kiện áp dụng.
3/Đối tượng phạm vi nghiên cứu
Đề tài tập chung nghiên cứu nền sản xuất Trung Quốc trên cơ sở vận dụng
những những quan điểm của lý thuyết Lợi thế cạnh tranh Quốc gia của M.Porter.
Tập chung đi sâu vào phân tích nền sản xuất Trung Quốc dưới góc độ chi phí sản
xuất, các kinh nghiệm bán hàng của các doanh nghiệp Trung Quốc cũng như các
biện pháp chính phủ nước này áp dụng để hỗ trợ khối các nhà sản xuất và khối các
doanh nghiệp xuất khẩu.
4/Phương pháp nghiên cứu
Bài viết sử dụng phương pháp phân tích tổng hợp, phương pháp phân tích
kinh tế lượng. Ngoài ra phương pháp so sánh đối chiếu cũng được sử dụng ở các
phân tích định lượng và định tính trong bài.
5/Kết cấu bài viết
Ngoài lời mở đầu và kết luận, phần nội dung chính của bài nghiên cứu này
gồm bốn phần nội dung chủ đạo sau đây:
- Chương I: Tổng quan về thương mại quốc tế và lý thuyết cạnh lơi thế
cạnh tranh quốc gia
Page | 3
Kinh nghiệm bán hàng giá rẻ của Trung Quốc và bài học với Việt Nam
2010
Chương này sẽ trình bày cơ sở lý thuyết chung nhất về thương mại quốc
tế, môi trường thương mại hiện nay và một số vấn đề cơ bản của lý
thuyết lợi thế cạnh tranh quốc gia. Mục tiêu của chương này là nhằm làm
sáng tỏ tầm quan trọng của thương mại nhất là đối các quốc gia đang phát
triển trong đó có Trung Quốc, đồng thời cách thức chung nhất để xây
dựng lợi thế cạnh tranh quốc gia theo lý thuyết của M.Porter. Ở Trung
Quôc, các lợi thế cạnh tranh đó được biểu hiện ra ở ngay yếu tố giá rẻ của
hàng hóa – điều mà chúng ta sẽ làm rõ ở các phần tiếp theo.
Thương mại quốc tế được hiểu theo nghĩa chung là các hoạt động trao đổi
luân chuyển hàng hóa dịch vụ giữa các quốc gia vùng lãnh thổ với nhau. Các chủ
thể của thương mại hiện nay đang ngày càng đa dạng. Các chủ thể lớn có thể từ các
chủ thể là các quốc gia, các vùng lãnh thổ tới các tổ chức đa quốc gia, các công ty
các tập đoàn đa quốc gia. Các chủ thể nhỏ hơn nằm trong lãnh thổ một quốc gia có
thể là các tổ chức kinh tế trong nước như các công ty, các xí nghiệp… Đối tượng
của thương mại cũng ngày càng đa dạng và phức tạp, có thể là các hàng hóa hữu
hình hoặc các hàng hóa vô hình. Về mặt pháp lý, các hiệp ước,các công ước, các
điều lệ về thương mại nhanh chóng được soạn thảo nhằm tạo ra khuôn khổ pháp lý
chung cho các hoạt động thương mại quốc tế. Chúng ta có thể nêu tên một số sự
kiện pháp lý quan trọng với nền thương mại toàn cầu như sự ra đời của hiệp ước
chung về thuế quan và thương mại GATT năm 1948, sự thành lập tổ chức Thương
mại Quốc tế WTO năm 1995. Các khu vực mậu dịch tự do cũng nhanh chóng ra
đời như EEC ( nay là EU ) ở châu Âu, khối NAFTA ở bắc Mỹ, khối ASEAN ở
đông nam Á… đã góp phần tạo điều kiện cho trao đổi thương mại giữa các quốc
gia ngày càng thuận lợi. Theo cùng những diễn biến đó, về mặt lượng, tổng giá trị
trao đổi thương mại của giữa các quốc gia trên thế giới cũng tăng lên nhanh chóng.
Chỉ tính riêng trong thời gian từ năm 1970 tới 1999, tổng giá trị hàng hóa dịch vụ
trao đổi của các quốc gia tăng lên 21 lần, từ 643 tỷ USD lên 11.400 tỷ USD ( gấp
21 lần trong vòng 30 năm ), bất chấp nhưng khó khăn chồng chất với nền kinh tế
Page | 6
Kinh nghiệm bán hàng giá rẻ của Trung Quốc và bài học với Việt Nam
2010
thế giới như cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới năm 1973 hay tình trạng chiến
tranh lạnh căng thẳng giữa Liên Xô và Hoa Kỳ…Tốc độ tăng trưởng của trao đổi
thương mại quốc tế cũng thường xuyên cao hơn tốc độ tăng trưởng nền kinh tế thế
giới. Trong giai đoạn 2000 tới 2007, trong khi tốc độ tăng trưởng kinh tế thế giới
chỉ giao động quanh khoảng 2,5% tới 4% thì tốc độ tăng trưởng của thương mại
thế giới thường trên 7%.
Bên cạnh đó, nhiều nghiên cứu đã chứng minh rằng, một trong những động
Xét về các chủ thể trong nền thương mại thế giới, không thể không nhắc tới
Hoa Kỳ, Trung Quốc, Nhật Bản và Eu – những chủ thể lớn nhất trong nền thương
mại toàn cầu. Các chủ thể trên cũng là nơi phát sinh phần lớn nhu cầu hàng hóa và
phần lớn nguồn cung cho hoạt động thương mại. Hay nói một cách khác, các chủ
thể trên chính là các cực đẩy và cực hút trong nền thương mại quốc tế. Biểu đồ sau
Page | 9
Kinh nghiệm bán hàng giá rẻ của Trung Quốc và bài học với Việt Nam
2010
cho thấy vai trò to lớn của các chủ thể này trong nền thương mại toàn cầu thông
qua tỷ trọng thương mại trong cơ cấu thương mại của thế giới.
Hình 1.1.1.3: Tỷ trọng tổng kim ngạch thương mại một số quốc gia trong thương
mại thế giới
Nguồn: Ngân hàng thế giới ADB 2008
Qua đồ thị trên, ta thấy tổng giá trị thương mại của Hoa Kỳ, Trung Quốc, Nhật Bản
và một số nước trong liên minh châu Âu EU đã chiếm tới gần 80% tổng giá trị của
thương mại toàn cầu. Trong khi đó, xét về quy mô dân số, các quốc gia trên chỉ
chiếm khoảng 30% dân số thế giới. Rõ ràng, thương mại quốc tế cũng có những
đầu tàu của riêng nó và cũng dựa trên đồ thị trên, ta thấy rõ ràng một xu thế đó là
đóng góp vào thương mại toàn cầu của các nướcphát triển đang có xu hướng giảm
dần về mặt tương đối, điển hình là Hoa Kỳ. Trong khi đó vai trò của Trung Quốc
đang nổi lên rõ rệt, Năm 2009, Trung Quốc đã vượt Đức vương lên trở thành quốc
Page | 10
Kinh nghiệm bán hàng giá rẻ của Trung Quốc và bài học với Việt Nam
2010
gia xuất khẩu lớn nhất thế giới với tổng giá trị xuất khẩu đạt trên 1200 tỷ USD,
Cũng cùng năm này, Trung Quốc trở thành quốc gia đứng thứ 2 thế giới về tổng
kim ngạch thương mại. Rõ ràng, đang có sự đổi ngôi trong top những nước có nền
thương mại phát triển nhất thế giới và sự vươn lên của Trung Quốc dường như là
không có gì ngăn cản nổi.
1.1.2. Thương mại đối với các nước đang phát triển
tế, Hàn Quốc hay Malaysia là hai quốc gia có mức độ mở cửa kinh tế từ rất sớm và
cũng là một trong những quốc gia “nhiệt tình” nhất khi tham gia vào thương mại
toàn cầu. Sau hơn 50 năm tham gia vào nền thương mại tự do mà nhiều người cho
là bất công ấy, họ đã thành công trong việc phát triển đất nước mình. Một bài học
thực tế rút ra là, chính những nước không dám tham gia vào thương mại toàn cầu,
hoặc tham gia với mức độ “khiêm tốn”, hạn chế mới là những quốc gia nghèo nàn
lạc hậu và yếu kém nhất. Tất nhiên là khi tham gia cuộc chơi mang tên
International Trade, khi bắt tay với các nước giàu, các nước nghèo thường sẽ bị
thua thiệt hoặc bất lợi trên một số khía cạnh nào đấy, nhưng thực tế đã là cuộc chơi
thì sẽ có rủi ro – vấn đề chỉ là ở chỗ – nước đó có dám tham gia không và tham gia
như thế nào mà thôi.
Khi tham gia sâu rộng vào nền thương mại toàn cầu vốn đang ngày càng tự
do hóa, các nước nghèo vẫn sẽ là những đối tượng dễ bị tổn thương nhất mặc dù
thế giới cũng đã có những ưu đãi nhất định cho họ như các ưu đãi về thuế quan; về
nguồn gốc xuất xứ hàng hóa… Bên cạnh đó,, không thể phủ nhận rằng các nước
nghèo bao giờ cũng có những lợi thế của “người đi sau”. Rất nhiều quốc gia đã
thực sự vươn lên và từng bước thoát nghèo. Những bài học như Hàn Quốc,
Page | 12
Kinh nghiệm bán hàng giá rẻ của Trung Quốc và bài học với Việt Nam
2010
Malaysia đang ngày một dài thêm. Thế giới ngày càng xuất hiện nhiều “ngôi sao”
đang lên như Việt Nam, Braxin, Ấn Độ và đặc biệt là Trung Quốc.
1.1.3. Thương mại đối với sự phát triển của Trung Quốc
Trong những bài học thành công khi tham gia thương mai quốc tế, không thể
không nhắc tới Trung Quốc. Trước cải cách và mở cửa nền kinh tế năm 1979,
Trung Quốc là một quốc gia nghèo đói và đứng trước nhiều nguy cơ bấn ổn chính
trị. Sau hơn 30 năm, công cuôc cải cách của Trung Quốc có thể đánh giá là tương
đối thành công với tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân rất cao, khoảng 10%/năm.
Quy mô nền kinh tế Trung Quốc đã gấp nhiều lần so với trước mở cửa. Bên cạnh
đó, quy mô của nền ngoại thương Trung Quốc cũng có bước tiến thần kỳ. Giá trị
1983 0.92 22.230 18.546 78.456
1984 1.42 26.140 22.382 94.843
1985 1.96 27.350 26.372 118.632
1986 2.24 30.940 29.012 135.200
1987 2.31 39.440 29.766 158.666
1988 3.19 47.520 32.779 197.932
1989 3.39 52.540 37.155 223.583
1990 3.49 62.090 40.574 245.256
1991 4.37 71.910 44.561 286.599
1992 11.01 84.940 49.239 354.256
1993 27.52 91.740 61.083 464.920
1994 33.77 121.010 76.219 643.182
1995 37.52 148.780 89.786 799.918
1996 41.73 151.050 104.441 936.543
1997 45.26 182.790 121.493 1039.119
1998 45.46 183.710 142.081 1110.556
1999 40.32 194.930 173.522 1179.961
2000 40.72 249.200 209.033 1305.455
2001 46.88 266.100 248.718 1442.831
2002 52.74 325.570 290.173 1583.325
2003 53.50 438.400 324.341 1787.142
2004 60.63 593.300 374.828 2103.662
2005 60.33 762.000 446.451 2410.756
2006 63.00 969.100 531.878 2788.467
2007 74.80 1218.600 665.018 3385.600
C h in a S ta tistic s D a ta ( 1 9 7 8 -2 0 0 7 )
Page | 15
Kinh nghiệm bán hàng giá rẻ của Trung Quốc và bài học với Việt Nam
2010
Nguồn số liệu: Taiwan Institute of Economic Research - Chinese Taipei APEC Study
2010
- Tổng của β1+ β2 + β3 = 0.93 < 1 : Theo mô hình hồi quy trên thì sản
lượng của nền kinh tế Trung Quốc không tăng trưởng hiệu quả nếu chỉ
tăng 3 đại lượng trên.
- Trong 3 yếu tố là chi tiêu chính phủ, đầu tư nước ngoài và xuất khẩu thì
GDP Trung Quốc phụ thuộc nhiều nhất vào chi tiêu chính phủ. Điều này
phù hợp với nghiên cứu của nhiều học giả khi kết luận rằng chi tiêu công
ở Trung Quốc đóng vai trò cực kỳ quan trọng tới sự tăng trưởng của nền
kinh tế vì nó đã dẫn dắt và định hướng cho phát triển kinh tế ở Trung
Quốc, tạo dựng phần lớn cơ sở hạ tầng và tạo niềm tin cho các nhà đầu
tư.
- Yếu tố xuất khẩu là nhân tố đáng chú ý nhất trong toàn bộ hoạt động
thương mại của Trung Quốc. Trong hơn 30 năm trở lại đây, Trung Quốc
thường xuyên xuất siêu và thặng dư thương mại ngày càng tăng. Xuất
khẩu không chỉ là một bộ phận của thương mại mà còn được xem là một
nhân tố quan trọng đối với sự gia tăng sản lượng cho nền kinh tế. Kết quả
hồi quy cho thấy đúng là GDP của Trung Quốc phụ thuộc rất lớn vào
hoạt động xuất khẩu nhưng nếu mở rộng biến số EX ra cho cả hoạt động
nhập khẩu, tức là kinh ngạch xuất nhập khẩu, thì sản lượng của nền kinh
tế Trung Quốc sẽ phụ thuộc nhiều hơn nữa vào biến số này.
Từ đó ta kết luận rằng, sử dụng mô hình dạng hàm mũ GDP =
C*GX
β1
*INV
β2
*EX
β3
Cho kết quả là GDP phụ thuộc rất nhiều vào giá trị xuất khẩu vì chênh lệch tuyệt
đối về số mũ của cả ba biến chính đều không nhiều, trong khi đó xuất khẩu trong
30 quan sát là đại lượng thay đổi nhiều nhất. Do đó có thể kết luận một cách tương
2010
“Lợi thế cạnh tranh quốc gia” thực chất là một lý thuyết kinh tế hiện đại bắt
nguồn từ lý thuyết lợi thế so sánh. Trong điều kiện toàn cầu hóa và nhất thể hóa
nền kinh tế thế giới hiện nay, mỗi quốc gia đều trở thành một chủ thể của nền kinh
tế thế giới và vai trò của quốc gia, theo quan điểm của Porter, ngày càng trở nên
quan trọng hơn chứ không hề giảm đi. Khi các công ty ra sức cạnh tranh với các
đối thủ, vai trò của quốc gia với tư cách là chủ thể chính cung cấp các lợi thế, môi
trường và điều kiện phát triển doanh nghiệp sẽ càng rõ ràng và quan trọng hơn.
Cuộc cạnh tranh toàn cầu đã khiến không một quốc gia, một chính phủ nào có thể
đứng ngoài cuộc. Và như một lẽ tất yếu, muốn giành thắng được trong cuộc cạnh
tranh đó, quốc gia phải ý thức được về những lợi thế của mình và cách thức để tự
mình tao ra những lợi thế. Porter viết
“…không một quốc gia nào có thể hay sẽ có khả năng cạnh tranh tại mọi hay thậm
chí phần lớn các ngành. Cuối cùng, các nước thành công trong các ngành cụ thể
bởi vì môi trường nội địa của các nước đó hướng về tương lai nhất, năng động nhất
và thách thức nhất...” chiến thắng của mỗi quốc gia, khi đó, có thể được minh
chứng bằng các lĩnh vực, các ngành sản xuất mà quốc đó thành công.
Nội dung cơ bản của lý thuyết của Porter có thể được minh họa ngắn gọn qua sơ đồ
sau
Page | 19
Kinh nghiệm bán hàng giá rẻ của Trung Quốc và bài học với Việt Nam
2010
Bốn yếu tố quan chủ đạo làm nên lợi thế cạnh tranh của một quốc gia gồm: các
điều kiện nhân tố sản xuất, các điều kiện cầu, cơ cấu, chiến lược và sự cạnh tranh
của các công ty,các ngành hỗ trợ và liên quan. Ngoài ra, hai nhân tố có vai trò thúc
đẩy và tác động gian tiếp tới lợi thế cạnh tranh quốc gia bao gồm: chính phủ, các
thời cơ/cơ hội.
Ta biết rằng, một ngành sản xuất muốn tồn tại và phát triển trước hết phải có các
nhân tố sản xuất ( đầu vào ). Các nhân tố sản xuất bao gồm lao động, nguyên nhiên
liệu,đất đai, vốn, khoa học kỹ thuật… nếu các yếu tố đầu vào càng thuận lợi, bảo
thể, cũng có lợi thế cạnh tranh. Nếu ngành đó có được các lợi thế cạnh tranh, thì
quốc gia gia đó cũng sẽ có lợi thế cạnh tranh trong lĩnh vực của ngành đó.
Page | 21
Kinh nghiệm bán hàng giá rẻ của Trung Quốc và bài học với Việt Nam
2010
Các phân tích tiếp theo sẽ phân tích lợi thế cạnh tranh của Trung Quốc so với các
quốc gia khác, biểu hiện là sự lớn mạnh của nền thương mại nói chung và xuất
khẩu nói riêng. Lơi thế cạnh tranh lơn nhất của hàng hóa Trung Quốc là yếu tố giá
rẻ. Nó là kết quả của việc Trung Quốc đã nâng cao được lợi thế cạnh tranh của
mình trên một loạt các lĩnh vưc. Mô hình của M.Porter có thể giải thích hoàn toàn
hợp lý cho trường hợp Trung Quốc. Trung Quốc có được cả tất cả các nhân tố trên.
Họ có các điều kiện các yếu tố đầu vào ( trình bày ở phần 1 Mục II ). Họ có điều
kiện cầu ( được đề cập ở chương III ). Họ cũng có các nhân tố liên quan tới cơ cấu,
chiến lược, cạnh tranh ( chủ yếu đề cập ở phần 2,3,4 mục II ). Các ngành phụ trợ
cũng được đề cập tới ở phần 1 mục II). Ngoài ra, vai trò của chính phủ cũng như
các cơ hội đến với nền sản Trung Quốc sẽ được đề cập đan xen ở tất cả các phần và
sẽ được khái quát ở chương IV.
II. Nguyên nhân giá rẻ của hàng hóa Trung Quốc
2.1. Mô hình phân tích
Giá cả hàng hóa là biểu hiện bằng tiền của giá trị hàng hóa, nó được cấu
thành từ các chi phí và lợi nhuận của doanh nghiệp. Trong nền kinh tế thị trường,
các doanh nghiệp cạnh tranh với nhau rất gay gắt và một trong những lợi thế cạnh
tranh chính của các doanh nghiệp chính là giá rẻ. Do mục đích của một doanh
nghiệp sản xuất kinh doanh là lợi nhuận nên muốn giảm giá sản phẩm, doanh
nghiệp sẽ tìm cách giảm chi phí.
Ta có công thức tính giá thành sản phẩm của doanh nghiệp đơn giản như sau:
Giá thành = Chi phí các yếu tố đầu vào ( chi phí đầu vào) + Các chi phí trong quá
trình sản xuất ( chi phí sản xuất ) + Các chi phí liên quan tới bán hàng ( chi phí cho
đầu ra )
Page | 22
thức kết hợp này đòi hỏi lao động phải thực sự có kỹ năng và trình độ cao để
có thể vần hành máy móc và làm chủ các công nghệ phức tạp hiện đại. Thực
tế cho thấy, chi phí các công ty phải trả cho các lao động có trình độ cao như
vậy thường rất cao. Ví dụ chi phí thuê một chuyên gia vận hành một máy
tính điều khiển toàn bộ quá trình chọn lọc nguyên liệu cho một nhà máy chế
biến dầu ăn ở một nước phát triển có thể lên tới gần tám ngàn USD một
tháng. Nếu thay thế công nghệ tự động đó và người chuyên gia bằng lao
động thủ công tương đương ở một nước đang phát triển, sàng lọc nguyên
liệu trên băng chuyền thì chi phí lao động cho một tổ 24 người cùng lớn nhất
chỉ tới gần ba ngàn USD một tháng. Những ví dụ tương tự có thể tìm thấy
được ở rất nhiều ngành sản xuất khác nhau như ngành chế tạo ô tô, đóng tàu,
sản xuất lắp ráp thiết bị điện tử, xi măng …
- Hai là sử dụng công nghệ vừa phải hoặc lạc hậu, ít vốn và nhiều lao động.
Cách thức này phổ biến ở các nước đang phát triển, nghèo vốn, giàu lao
động nhưng thiếu lao động có trình độ. Các ngành, lĩnh vực sản xuất hiện
nay vẫn còn chấp nhận cách sản xuất dùng nhiều lao động này phải kể tới
các ngành sản xuất hàng tiêu dùng thiết yếu như ngành dệt may, chế biến
thực phẩm, nông nghiệp… và lợi thế so sánh do đó thường do các nước đang
phát triển nắm giữ. Ta có thể lấy ví dụ ở đây là trường hợp sản xuất rau ở
Indonexia. Nông dân Indonexia trên đảo Java có thể canh tác từ hai tới bốn
vụ rau một năm, với điều kiện thời tiết thuận lợi năng suất trung bình cả năm
có thể bằng một nửa của Hoa Kỳ. Tuy nhiên, giá rau quả xuất khẩu của
Indonexia rẻ hơn rất nhiều so với Hoa Kỳ, chỉ từ một phần năm cho tới một
Page | 24
Kinh nghiệm bán hàng giá rẻ của Trung Quốc và bài học với Việt Nam
2010
nửa là cùng. Nguyên nhân chính là ở chi phí. Hoa Kỳ là nước giàu vốn, sử
dụng nhiều máy móc và công nghệ hiện đại trong việc nuôi trồng rau như
nhà kính, máy bay phun thuốc trừ sâu…giá lao động trong lĩnh vực nông
nghiệp của Hoa Kỳ cũng cao ngất ngưởng, thấp nhất cũng phải từ 6 USD