Corporate Governance - bài học rút
ra sau sự kiện Enron –
Phần II
Các kiểm toán viên độc lập đóng vai trò quyết định trong việc
quản trị công ty. Nếu không có báo cáo kế toán và thông tin tài
chính chính xác, thì ngay cả người có thiện chí nhất trong các
thành viên HĐQT độc lập cũng sẽ không thể thi hành nhiệm vụ.
Về khía cạnh này, hoạt động của giới kiểm toán trong thời gian
qua thật là đáng thất vọng. Khó khăn chính, cũng như trong
trường hợp các thành viên HĐQT độc lập, là việc bổ nhiệm kiểm
toán viên độc lập hầu như trong tay của ban giám đốc. Trên lý
thuyết thì các kiểm toán viên độc lập, tương tự như các thành
viên HĐQT độc lập, được cổ đông bổ nhiệm trong đại hội cổ
đông. Trong thực tế, thường thì kiểm toán viên nào được tiến cử
thì người đó sẽ được bổ nhiệm, mà việc tiến cử này lại do ban
giám đốc phụ trách.
Công nhận điểm yếu này, NYSE đã kiến nghị tăng cường quyền
lực và trách nhiệm của ủy ban kiểm toán, kể cả việc độc quyền
quyết định thuê mướn hay sa thải kiểm toán viên độc lập. Ủy ban
kiểm toán phải có một số nhiệm vụ tối thiểu hàng năm là tiếp
nhận và xem xét báo cáo của kiểm toán viên độc lập về quy trình
kiểm soát nội bộ, đánh giá mối quan hệ giữa kiểm toán viên độc
lập và công ty. Ủy ban kiểm toán cũng phải có quyền được sự cố
vấn và hỗ trợ của các nhà cố vấn pháp lý, kế toán và các nhà cố
vấn khác không làm cho công ty, tiếp xúc riêng với ban giám đốc,
kiểm toán viên nội bộ, kiểm toán viên độc lập và cùng với kiểm
toán viên độc lập rà soát bất kỳ vấn đề hay gút mắc nào về kiểm
toán.
viên, nhưng tự nó không thể hoàn toàn giải quyết vấn đề. Với một
số công ty kiểm toán bị cáo buộc là cẩu thả trong việc kiểm toán,
có lẽ các kiểm toán viên sẽ chú ý hơn rất nhiều đến việc kiểm
toán cho khách hàng của họ, ít nhất là trong tương lai gần.
Những sự cấm đoán và khó khăn liên quan đến công việc phi
kiểm toán cũng sẽ góp phần giúp các kiểm toán viên tập trung
hơn vào công việc chính của mình.
Việc phân tích và theo dõi tài chính do các tổ chức chuyên
môn thực hiện
Một cơ chế điều tiết dựa chủ yếu vào quá trình minh bạch hóa
thông tin thay vì kê khai thành tích đơn thuần dẫn đến sự ra đời
của các định chế tài chính chuyên môn theo dõi hoạt động của
các công ty cổ phần, và sự phân tích của họ về thành tích hoạt
động, vị thế tài chính, triển vọng của các công ty này có tác dụng
kiềm chế ban giám đốc và cung cấp đầy đủ thông tin cho các nhà
đầu tư. Sự theo dõi tài chính mà các định chế này thực hiện có
tác dụng áp đặt kỷ luật thị trường lên các công ty bằng cách trừng
phạt các công ty nào không minh bạch và yếu kém trong quản trị
Trong thời kỳ hậu-Enron, có sự hoài nghi đáng kể về sự “vô tư”
của các nhà phân tích, đặc biệt những người gắn kết với các
ngân hàng đầu tư hay các định chế cung cấp dịch vụ cho các
công ty đang và sẽ niêm yết. Như thường lệ, thủ phạm chính là
sự xung đột về lợi ích; sự xung đột phát sinh khi các định chế vừa
muốn cung cấp thông tin khách quan cho công chúng nhưng
đồng thời lại cung cấp một số dịch vụ cho các công ty họ đang
xem xét và sinh lợi rất lớn từ đó. Trường hợp gây ác cảm nhất có
lẽ là trường hợp của Henry Blodget, một trong những nhà phân
bổ sung từ bên ngoài nhưng cũng đòi hỏi phải thật khéo léo, điều
mà nhà nước cần phải quan tâm ở đây là không nên can thiệp
quá mức kẻo sáng kiến tư nhân bị bóp nghẹt. Thứ hai, quản trị tốt
trong môi trường thị trường xuống giá trong đó nhiều nhà đầu tư
bị tác hại là một chuyện; còn quản trị tốt ở một môi trường thị
trường lên giá nhưng bị lũng đoạn bởi sự hám lợi là hai chuyện
hoàn toàn khác. Chính trong môi trường thứ hai, việc quản trị
công ty tốt có thể còn quan trọng hơn. Thế nhưng, rút kinh
nghiệm từ lịch sử, có thể làn sóng đầu cơ kế tiếp sẽ làm cho các
bài học rút ra từ sự kiện Enron chóng chìm vào quên lãng.