Trường Đại học sư phạm Hà Nội Khoa Địa lý
TRƯỜNG
KHOA………………
BÁO CÁO TỐT NGHIỆP
ĐỀ TÀI:
Động đất ở Tây Bắc
Việt Nam
Báo cáo khoa học Ngô Thị Ươm K60TN
1
Trường Đại học sư phạm Hà Nội Khoa Địa lý
MỤC LỤC
Báo cáo khoa học Ngô Thị Ươm K60TN
2
Trường Đại học sư phạm Hà Nội Khoa Địa lý
Lời cám ơn
Báo cáo khoa học với đề tài “Động đất ở khu vực Tây Bắc Việt Nam”
được hoàn thiện dưới sự hướng dẫn khoa học nghiêm túc, sự chỉ bảo tận tình
của TS. Lương Hồng Hược. Với sự biết ơn sâu sắc em xin gửi lời cám ơn
chân thành nhât đến TS. Lương Hồng Hược.
Đồng thời trong quá trình nghiên cứu khoa học em cũng nhận được sự
giúp đỡ nhiệt tình của các thầy cô trong khoa Địa lý nói chung và các thầy
cô trong tổ Địa lý tự nhiên nói riêng đã giúp em nâng cao trình độ và hoàn
thiện báo cáo.Bên cạnh đó là sự giúp đỡ động viên của bạn bè trong lớp.
Em xin gửi lời cám ơn sâu sắc đến các nhà khoa học của Viện Vật lý
Địa cầu – Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam đặc biệt là các anh chị
trong phòng Địa chấn đã tận tình hướng dẫn em về mặt khoa học, bổ sung
những tài liệu cần thiết.
Em xin chân thành cám ơn !
Hà Nội, tháng 3 năm 2011.
Sinh viên
động đất mạnh gây hậu quả nặng nề cho nhân dân và cản trở các dự định
quy hoạch, xây dựng đất nước đặc biệt là kế hoạch xây dựng nhà máy thuỷ
điện Sơn La trên Sông Đà. . Chính vì vậy nghiên cứu điều kiện, quy luật
phát sinh, phát triển của động đất khu vực Tây Bắc là rất cấp thiết. Đó là lí
do tôi chọn đề tài “Động đất ở khu vực Tây Bắc Việt Nam” nhằm cho người
đọc cái nhìn cụ thể, trực quan và chính xác về vấn này.
III. Mục đích, nhiệm vụ, giới hạn đề tài
1. Mục đích
Đề tài “Động đất ở khu vực Tây Bắc Việt Nam” được nghiên cứu với
mục đích đem lại cho người đọc sự hiểu biết chung nhất về động đất và có
cái nhìn cụ thể vê động đất ở khu vực Tây Bắc, từ đó có những giải pháp
hạn chế hậu quả khi động đất xảy.
2. Nhiệm vụ
- Xác định các trận động đất lớn đã xảy ra ở khu vực Tây Bắc Việt Nam
- Nghiên cứu các nguyên nhân gây động đất ở khu vực Tây Bắc
- Bước đầu đưa ra các giải pháp hạn chế hậu quả.
3. Giới hạn đề tài
Nghiên cứu động đất là một vấn đề lớn, mức độ ảnh hưởng sâu sắc và
thời gian tương đối dài. Trong điều kiện còn hạn chế về thời gian , tư liệu,
Báo cáo khoa học Ngô Thị Ươm K60TN
5
Trường Đại học sư phạm Hà Nội Khoa Địa lý
đề tài này chỉ tập trung nghiên cứu đến hiện trạng, nguyên nhân và những
giải pháp hạn chế hậu quả của động đất ở khu vực Tây Bắc Việt Nam. Về
mặt phạm vi lãnh thổ, đề tài giới hạn nghiên cứu khu vực Tây Bắc trong
phạm vi trọn vẹn 4 tỉnh là: Lai Châu, Điện Biên,Sơn La và Hòa Bình và một
số vùng nhỏ lân cận
IV.Phương pháp nghiên cứu và các bước thực hiện đề tài
1. Phương pháp nghiên cứu
Đối với bất kì đề tài báo cáo khoa học nào muốn thực hiện đều phải
cầu nội dung của đề tài.
Trong các tài liệu liên quan đến động đất, thì cần chú ý đến các tài
liệu về động đất ở Việt Nam đặc biệt là động đất Tây Bắc. Các tài liệu này
có thể thu thập từ nhiều nguồn như: Viện Vật lí Địa cầu, thư viện khoa Địa
lý, thư viện Trườnng Đại học sư phạm Hà Nội, trên mạng Internet…
2.3 Bước thực hiện đề tài
Sau khi đã lập được đề cương chi tiết và thu thập những tài liệu cần thiết
thì bước tiếp theo là tiến hành viết báo cáo dựa theo sự chỉ dẫn của thầy cô.
2.4 Bước kiểm tra và chỉnh sửa
Đây là bước cuối cùng sau khi đã hoàn thiện bài báo cáo. Trong bước
này người viết chỉnh sửa lại những sai sót và hoàn chỉnh bài báo cáo với
những yêu cầu đã đưa ra.
V. Cấu trúc bài báo cáo
A. Phần mở đầu
B. Phần nội dung
Chương 1: Đặc điểm địa lý tự nhiên và kinh tế xã hội khu vực Tây Bắc
Chương 2: Một số khái niệm về động đất.
Chương 3:Hoạt động động đất ở khu vực Tây Bắc
I. Hiện trạng động đất ở Tây Bắc
II. Nguyên nhân
III. Giải pháp hạn chế hậu quả của động đất
C.Kết luận
Báo cáo khoa học Ngô Thị Ươm K60TN
7
Trường Đại học sư phạm Hà Nội Khoa Địa lý
Báo cáo khoa học Ngô Thị Ươm K60TN
8
Trường Đại học sư phạm Hà Nội Khoa Địa lý
B. PHẦN NỘI DUNG
CHƯƠNG I. ĐẶC ĐIỂM ĐỊA LÝ TỰ NHIÊN VÀ KINH TẾ -
2.1. Địa chất kiến tạo
Lịch sử địa chất kiến tạo vùng Tây Bắc rất phức tạp và có nhiều biến
động bắt đầu từ >500 triệu năm trở về trước và còn tiếp diễn đến hiện tại.
Việt Nam nằm ở phần Đông Nam của mảng lục địa Âu- Á, nơi tiếp xúc với
mảng lục địa Ấn Độ - Autraylia và mảng đại dương Thái Bình Dương. Các
hoạt động kiến tạo diễn ra liên tục lúc mạnh lúc yếu suốt từ thời Tiền
Cambri đến Tân Kiến Tạo.
Vào thời kì nguyên sơ, khối vỏ lục địa ban đầu bị phá hủy, toàn miền
chìm ngập dưới biển lúc đó chỉ có một số đỉnh núi cao của dãy Hoàng Liên
Sơn và cánh cung sông Mã là nổi lên trên mặt biển. Chế độ biển kéo dài
hàng trăm triệu năm. Phần trung tâm và Đông Nam của vùng chịu ảnh
hưởng của sự sụt lún mạnh mẽ hình thành các tầng đá vôi đá phiến ở Lai
Báo cáo khoa học Ngô Thị Ươm K60TN
10
Trường Đại học sư phạm Hà Nội Khoa Địa lý
Châu, Thuận Châu ( Sơn La) hạ lưu sông Đà, sông Mã, khu vực Hoàng Liên
Sơn. Vào cuối đại Cổ sinh, dãy Hoàng Liên Sơn và sông Mã được nâng lên
Khu vực Tây Bắc về cơ bản được hình thành vào đại Trung sinh,
đặc biệt sau vận động tạo núi Indoxini vào kỉ Trias cách đây 225 – 180
triệu năm. Vận động tạo núi này bao chiếm toàn bộ lãnh thổ miền Bắc
Việt Nam nhưng xảy ra mạnh nhất trong địa máng sông Đà. Quá trình sụt
lún ở võng sông Đà tạo ra sự lắng đọng 1 hệ tầng dày các thành tạo lục
nguyên cacbonat. Khi pha uốn nếp xảy ra vào Trias muộn thì thấy có hiện
tượng chờm nghịch mạnh kèm theo xâm nhập ganitoit. Do 2 bờ của địa
mảng tiến gần lại nhau trầm tích trong địa máng uốn lên thành những nếp
uốn khổng lồ kèm theo hàng loạt đứt gãy chờm nghịch làm đá vôi tầng
giữa có tuổi cổ hơn lại nằm chờm lên đá phiến – đá vôi tầng trên có tuổi
trẻ hơn ( gặp ở Sơn La) ở vùng sông Đà nơi có đứt gãy sâu thì có đá xâm
nhập và phun trào mafic
Đến giai đoạn Tân Kiến Tạo, cách đây 65 triệu năm khu vực Tây Bắc
Nam trừ ở phía cực tây có nhiều mạch núi rẽ theo hướng Đông Bắc
Ở phía Đông và Đông Bắc của Tây Bắc là dãy núi cao Hoàng Liên
Sơn đồ sộ nằm thành 1 khối chắc nịch dài 180 km từ biên giới Trung Quốc
đến Vạn Yên rộng 30 km, trong đó chỉ có một nơi hạ thấp xuống đến 1069m
ở đèo Khau Cọ. Các đỉnh núi đều cao từ 2800m – trên 3000m. Trong đó có
đỉnh Phanxipang cao nhất (3143m). Dãy núi Hoàng Liên Sơn chạy dài liên
tục thành một dải theo hướng Tây Bắc – Đông Nam có đỉnh sắc nhọn như
răng cưa. Tuy nhiên trong khu vực núi cũng có những bán bình nguyên khá
bằng phẳng. Dưới chân dãy Hoàng Liên Sơn là những bồn địa Than Uyên,
Nghĩa Lộ ,Quang huy.
Vùng núi Hoàng Liên Sơn còn có nhiều thung lũng sông mở rộng
trong đó đất phù sa khá màu mỡ như thung lũng Mường Hum, thượng lưu
sông Nậm Tà.
Về phía Tây và Tây Nam của vùng Tây Bắc lại là những núi trung
bình đó là dãy núi sông Mã dài 500 km tỏa rộng sang cả Sầm Nưa (Lào) và
lan đến tận Thanh Hóa. Ở đây có nhiều đỉnh cao 1800m với đỉnh Pu-đen-
Báo cáo khoa học Ngô Thị Ươm K60TN
12
Trường Đại học sư phạm Hà Nội Khoa Địa lý
đinh 1886m, Pu-sam-sao 1897m. Trong khu vực có nhiều nền móng cổ
nhiều đứt gãy đắc biệt là đứt gãy Lai Châu – Điện Biên. Địa hình ở đây khá
đồng nhất với mạng lưới xâm thực dày, khe sâu sườn dốc, có xen một số bề
mặt bằng phẳng rộng như Mường Nhé.
Nằm giữa 2 khối núi khổng lồ kể trên là một dãy núi đá vôi xen núi
sa diệp thạch chạy liên tục từ Phong Thổ qua Sìn Hồ, Tuần Giáo (Lai
Châu), Thuận Châu, Mai Sơn, Yên Châu (Sơn La) về Yên Lạc, Lạc Thủy
(Hòa Bình).
2.3 Khí hậu
Vùng Tây Bắc có khí hậu nhiệt đới chịu ảnh hưởng của chế độ gió
mùa. Do nằm sâu trong lục địa nên ảnh hưởng của mưa bão biển Đông trong
Độ ẩm trung bình tháng lớn nhất từ 87 – 93% ở Mường Tè (vào tháng
7)và 86% ở Hòa Bình (vào tháng 8,9). Độ ẩm trung bình tháng nhỏ nhất từ
71 – 77% ở Mường Tè( tháng 3,4) và Hòa Bình (vào tháng 4,5).Độ ẩm tối
thiểu tuyệt đối là 12 – 15 % vào các tháng 1 – 3. Độ ẩm tối đa tuyệt đối có
thể đạt 100
Lượng bốc hơi bình quân hằng năm từ 660 – 1100mm
Khu vực Tây Bắc có lượng mưa lớn, bình quân từ 1800 – 2500mm/
năm. Do ảnh hưởng của địa hình ( các dãy núi cao) mà lượn mưa trên một
số khu vực có khác nhau:2400 – 2800mm ở Mường Tè, Sìn Hồ; 1800 –
2000mm ở Phong Thổ ; 1600 -1800mm ở cá cao nguyên Sơn La, Mộc
Châu…
Lượng mưa phân bố không đều trong năm thường tập trung vào các
tháng mùa hè, chiếm 78 -85 % lượng mưa cả năm. Tháng 6,7 có lượng mưa
lớn nhất (>300mm /tháng). Tổng số ngày mưa trung bình trong năm biến
động từ 114 – 118 ngày.
Các hiện tượng thời tiết đặc biệt ở Tây Bắc là gió Lào, gió địa
phương. Đây là loại gió nóng khô, gây hạn hán, hỏa hoạn, làm trở ngại cho
sản xuất và sinh hoạt. Mưa đá thường xuyên xuất hiện trong mùa hè, sương
muối và băng giá thường xuất hiện trong mùa đông.
Báo cáo khoa học Ngô Thị Ươm K60TN
14
Trường Đại học sư phạm Hà Nội Khoa Địa lý
2.4. Thủy văn
Tây Bắc có mạng lưới sông ngòi đặc nhưng không có nhiều sông lớn.
Nhìn chung hướng sông suối thường trùng với hướng kiến tạo còn các sông
nhỏ thường thẳng góc với sông chính. Đại bộ phận long sông cao hơn mặt
biển 100 – 200m có nơi đến 500 – 600m. Vì vậy sông ngòi Tây Bắc thường
đào lòng mạnh trắc diện hẹp, sông suối hàu như không có bồi tụ, lòng suối
đầy những tảng đá lớn, các suối đều ngắn và đều đổ thẳng xuống những con
sông chính lắm thác nhiều ghềnh. Tây Bắc có 4 hệ thống sông chính: Sông
15
Trường Đại học sư phạm Hà Nội Khoa Địa lý
3. Đặc điểm kinh tế - xã hội
3.1 Đặc điểm dân số
Tây Bắc là vùng có mật độ dân cư thưa thớt so với các khu vực
khác trong cả nước. So với khu vực Đông Bắc, vùng này được khai thác
muộn hơn, dân cư trong vùng chủ yếu là các dân tộc ít người, trong đó
tiêu biểu là người Thái, người Mường, người H’Mông… Nhìn chung trình
độ văn hóa còn thấp
• Các dân tộc chính ở Tây Bắc
Người Mường chiếm 1,2 % dân số cả nước, cư trú thành một dải vòng
cung giữa địa cực người Việt và người Thái, từ NGhĩa Lộ về Hòa Bình lan
sang miền tây Thanh Hóa và Nghệ An
Người Thái chiếm 1,3 % dân số cả nước. Địa bàn cư trú của họ kéo
dài từ hữu ngạn sông Hồng tới thượng du Thanh Hóa, Nghệ An. Người Thái
định cư tại các vùng thung lũng và dựng làng ở trên những cánh đồng rộng
giữa núi như Mường Thanh, Nghĩa Lộ…
Trong vùng còn có người H’ Mông định cư và hoạt động ở các sườn
núi với độ cao >1500m sát biên giới phía Bắc đến thượng du Thanh Hóa,
Nghệ An. Thuộc ngữ hệ H’ Mông – Dao còn có dân tộc Dao, cư trú ở độ cao
700 – 1000m. người h’ Mông vá người Dao là những dân tộc sống trên “mái
nhà” của các tỉnh miền Bắc
• Mật độ dân số
Mật độ dân số toàn vùng rất thấp và không đồng đều. Nơi tập trung
đông nhất là các thị xã, thị trấn, các điểm dân cư tập trung, các thi tứ và trên
các trục đường giao thông. Đó là thị xã Lào Cai, thị xã Hòa Bình. Trái lại ở
các khu vực núi cao, đường giao thông ít, đi lại khó khăn… thường chỉ có
các dân tộc ít người sinh sống nên mật độ dân cư thấp.
Báo cáo khoa học Ngô Thị Ươm K60TN
16
Trường Đại học sư phạm Hà Nội Khoa Địa lý
CHƯƠNG II. MỘT SỐ KHÁI NIỆM CƠ BẢN VỀ ĐỘNG ĐẤT
1. Động đất là gì?
Động đất là sự rung động của Trái Đất, nó được gây nên bởi chùm tia
sóng địa chấn lan tỏa từ một vùng nguồn nào đó do quá trình giải tỏa nhanh
năng lượng đàn hồi tạo nên. Nói cách khác: Động đất là sự giải phóng nhanh
của năng lượng đàn hồi được tích lũy tại một điểm nào đó bên trong Trái
Đất, gây nên sóng địa chấn và tác động lên bề mặt làm phá hoại các công
trình, sự biến dạng bề mặt cũng như gây chết chóc cho con người.
2. Sóng địa chấn
Sóng địa chấn là sóng đàn hồi lan tỏa từ việc giải phóng năng lượng
đột ngột trong lòng đất (động đất), từ vụ nổ hay các nguồn nănglượng khác.
Năng lượng được truyền trong lòng đất, lan tỏa ra mọi hướng từ nguồn phát
sinh (vùng nguồn). Sóng địa chấn gây rung động nền đất và là nguyên nhân
chính gây nên phá hoại nhà và công trình. Có hai dạng song địa chấn: sóng
khối và sóng mặt. Sóng khối lan từ nguồn ra không gian xung quanh, truyền
qua các lớp vật chất trong lòng Trái Đất, còn sóng mặt chỉ lan truyền trên
bề mặt và trong các lớp dẫn sóng. Vận tốc lan truyền của sóng địa chấn
trong môi trường rắn biến đổi trong giới hạn 3- 15km/s.
- Có 2 loại sóng mặt : sóng Love và sóng Rayleigh được truyền dọc
theo bề mặt Trái Đất và trong các lớp dẫn sóng
- Hai loại sóng khối : sóng dọc L và sóng ngang S truyền xuyên qua
lòng đất, khúc xạ qua các môi trường vật chất khác nhau hoặc phản xạ tại
các ranh giới của môi trương trước khi trở lại mặt đất. Sóng P có thể truyền
qua tất cả các môi trường trong lòng đất tương tự như sóng âm, còn sóng S
chỉ truyền qua môi trường rắn. Vân tốc của sóng khối thay đổi theo tính chất
của môi trường mà nó truyền qua, chủ yếu phụ thuộc vào mật độ của vật
chất môi trường
Các thông số cơ bản của động đât đều được xác định trên cơ sở phân
tích các đặc trưng của sóng địa chấn.
Thuật ngữ đầu tiên chỉ dộ mạnh của động đất vê năng lượng là
“Magnitude”. Đại lượng “Magnitude”do Richter C.F. đưa ra và sử dụng đầu
tiên từ năm 1935 để phân hạng động đất ở California về độ mạnh. Trong địa
Báo cáo khoa học Ngô Thị Ươm K60TN
19
Trường Đại học sư phạm Hà Nội Khoa Địa lý
chấn học người ta cũng lấy tên ông làm đơn vị cho đại lượng này và gọi là
“độ Richter”. Ngày nay người ta sử dụng các thang Magnitude cơ bản sau
để phân hạng động đất về độ mạnh (tùy thuộc vào các sóng địa chấn được
sử dụng ta có): Magnitude địa phương (Local magnitude) M
L
, Magnitude
theo sóng mặt (Surface wave magnitude) M
S
, Magnitude theo sóng khối
(body wave magnitude) M
b
, Magnitude theo moment địa chấn (moment
magnitude) M
W.
3.3 Cường độ chấn động của động đất
Cường độ chấn động (Intensity) động đất là đại lượng biểu thị cường
độ chấn động mà nó gây ra trên mặt đất và đánh giá được qua mức độ tác
động của nó đối với nhà cửa, công trình, mặt đất, đồ vật, con người.
Cường độ chấn động được đánh giá theo các thang phân bậc mức độ
tác động của động đất đối với các kiểu nhà cửa, công trình, đồ vật, súc vật,
con người và biến dạng mặt đất (Cách đánh giá như vậy được quy định
trong thang Cường độ chấn động). Ở Bắc mỹ người ta dùng thang Mercalli
cải biên MM phân chia cường độ chấn động thành 12 cấp. Nói chung thang
này trùng hợp với thang Kankani- Ziberg dùng ở Tây Âu trước đây và sau
động. Tuy nhiên đó chỉ là những trận động đât yếu.
Động đất kích thích ( ở hồ chứa ) là hiện tượng tăng hoạt động động
đất ở vùng hồ chứa được tích nước. Hiện tượng đó xảy ra ở nhiều vùng hồ,
nhiều trường hợp đã xảy ra động đất kích thích mạnh gây hư hỏng đập, phá
hoại nhà cửa, công trình, gây thiệt hại lớn về người và của. Động đất kích
thích mạnh không xảy ra ở mọi vùng hồ. Nó chỉ xảy ra ở những vùng hồ có
điều kiện địa chât, kiến tạo thuận lợi: là vùng hoạt động ứng suất kiến tạo
trong đá đã đạt giới hạn, tồn tại các đứt gãy đủ lớn liên quan tới hồ chứa về
mặt thủy văn. Trong điều kiện ứng suất đã đạt tới hạn thì ứng suất gia tăng
gây lên bởi cột nước trong hồ tuy rất nhỏ nhưng có thể đóng vai trò cơ cấu
thúc đẩy. Còn nước thấm sâu theo khe nứt và đứt gãy làm thay đổi áp suất lỗ
rỗng, giảm ma sát ở các mặt trượt làm xảy ra động đất ở trạng thái tự nhiên.
Báo cáo khoa học Ngô Thị Ươm K60TN
21
Trường Đại học sư phạm Hà Nội Khoa Địa lý
CHƯƠNG III. HOẠT ĐỘNG ĐỘNG ĐẤT Ở KHU VỰC TÂY BẮC
I. HIỆN TRẠNG ĐỘNG ĐẤT Ở TÂY BẮC
Cho đến nay các danh mục động đất trên lãnh thổ Tây Bắc Việt Nam
ghi nhận 767 trận động đất có Magnitude Ms ³ 3 chiếm gần 2/3 tổng số động
đất xảy ra trên toàn lãnh thổ Việt Nam, chứng tỏ lãnh thổ Tây Bắc Việt Nam
có tính động đất cao nhất. Chỉ tính riêng trong thế kỷ XX hầu hết cả trận
động đất mạnh nhất xảy ra trên lãnh thổ Việt Nam đều tập trung vào khu
vực Tây Bắc. Đó là các trận động đất mạnh tiêu biểu ở Việt Nam mà Viện
Vật Lý địa cầu đã điều tra thực địa:
Động đất Điện Biên
Động đất Tuần Giáo
Động đất Lục Yên
Động đất Hoà Bình
Động đất Tạ Khoa
Động đất Lai Châu
5,5
7,0
5,5
7,0
6,0
5,5
5,5
4,5
4,5
4,5
4,5
4,5
4,5
4,5
4,5
4,5
4,5
4,5
0,93
0,78
0,78
0,78
0,78
0,78
0,78
0,78
0,78
0,78
0,78
17
ta quan sát thấy nứt đất rộng tới 20 cm và đoạn dài nhất có thể đạt 50 m.
Chấn động cấp 7 quan sát tại Lai Châu và gây hư hại một ít nhà cửa. Bản đồ
đẳng chấn của động đất Điện Biên năm 1935 do Robert vẽ lần đầu tiên vào
năm 1935, theo đó thì chấn động cực đại tại vùng chấn tâm là cấp 9. Sau đó,
qua công tác điều tra động đất trong nhân dân, Nguyễn Hữu Thái đã vẽ lại
vào năm 1996. Theo kết quả này thì chấn động cực đại tại vùng chấn tâm
chỉ đạt cấp 8- 9 thang MSK – 64. Và vậy thì Magnitude động đất là khoảng
6,8 độ Richter, độ sâu chấn tiêu là 25 km.
2. Động đất Tuần Giáo (1983)
Động đất Tuần Giáo là sự kiện động đất nổi bật không những ở Tây
Bắc mà còn là trận động đất đặc trưng ở nước ta bởi vì:
- Là trân động đất mạnh được ghi bằng máy đầy đủ nhất trong lịch sử
nghiên cứu động đất ở Việt Nam.
- Là trận động đất được phối hợp nghiên cứu toàn diên nhất, kể cả vấn
đề hợp tác nghiên cứu với nước ngoài, và vì vậy có nhiều công trình công bố
kể cả trong nước và ngoài nước đề cập đến.
- Có thể nói rằng dộng đất Tuần Giáo đã thúc đẩy sự phát triển về
công tác nghiên cứu địa chấn ở Viện Vật lí Địa cầu, mở ra một giai đoạn
phát triển mới với số lượng cán bộ nghiên cứu ccungx như sự tăng cường
thiết bị cho nghiên cứu và phát triển mạng lưới đài trạm.
Động đất Tuần Giáo xảy ra vào hồi 14h 18 phút ngày 24 tháng 6 năm
1983 trong vùng núi cách thị trấn Tuần Giáo về phía Bắc khoảng 11 km.
Magnitude của động đất được xác định là Ms=6,7độ Richter. Cường độ chấn
độ chấn trong vùng cực động I
0
= 8 – 9 (thang MSK)
Báo cáo khoa học Ngô Thị Ươm K60TN
24
Trường Đại học sư phạm Hà Nội Khoa Địa lý