SKKN Văn 9: Thiết kế quá trình Đọc - Hiểu văn bản để tăng cường hiệu quả giờ dạy Văn 9 - Pdf 17

Thiết kế quá trình Đọc - Hiểu văn bản để tăng cờng hiệu quả giờ dạy văn ở lớp 9THCS
Mục lục
Nội dung: Trang:
Tài liệu tham khảo
2
Phần mở đầu
I. Lý do chọn đề tài 3
II. Yêu cầu và nhiệm vụ của đề tài 4
III. Phơng pháp nghiên cứu 4
IV. Đối tợng và địa bàn nghiên cứu 4
Phần nội dung
A. Quan niệm về sự giống nhau và khác nhau giữa giáo án giảng dạy và
thiết kế giảng dạy
5
I. Giáo án 5
II. Thiết kế giờ dạy 5
B. Thiết kế thử nghiệm quá trình dạy học một tác phẩm văn chơng
6
Phần thứ nhất: Quy trình tiến hành một giờ Đọc - Hiểu văn bản
6
I. Hoạt động chuẩn bị 6
II. Hoạt động trên lớp 6
Phần thứ hai: Thiết kế thử nghiệm quá trình dạy học tác phẩm "Mùa xuân
nho nhỏ" của Thanh Hải
8
I. Con đờng thâm nhập vào giá trị nghệ thuật và nội dung t tởng của
bài thơ "Mùa xuân nho nhỏ"
8
II. Hớng thiết kế giờ dạy bài "Mùa xuân nho nhỏ" trên giáo án của
ngời giáo viên
15

lên lớp. Thế nhng trên thực tế vẫn có những giáo viên nghĩ rằng: sách tham khảo,
sácg giáo viên, sách thiết kế bài giảng nhiều, nên không cần coi trọng khâu
soạn bài, giáo án lên lớp chỉ là hình thức. Theo tôi thì ngợc lại. Ngời GV lên lớp
dứt khoát phải có giáo án - giáo án do chính bản thân ngời thầy soạn thảo. Bởi
giáo án không chỉ chứa đựng kiến thức, mà nó còn thể hiện sự lựa chọn kiến
thức. Ngoài ra, nó còn chứa sự nghiên cứu, tìm tòi, suy nghĩ của giáo viên (GV)
về những phơng pháp, biện pháp, những gợi ý, định hớng dẫn dắt học sinh
(HS) trong quá trình dạy - học một cách đầy đủ, trọn vẹn và hệ thống nhất.
Giáo án là sự thể hiện kế hoạch hoá quá trình giảng dạy của GV trên lớp. Vì vậy,
việc nâng cao nhận thức về vai trò của giáo án là rất quan trọng và cần thiết đối
với ngời GV, đặc biệt là GV dạy Ngữ văn, nhằm nâng cao hiệu quả giờ dạy trên
lớp. Thông qua giáo án, ta dễ dàng thấy rõ năng lực, trình độ của ngời soạn: ngời
ấy đã thành thạo đến đâu, còn lúng túng ở khâu nào, phần nào trong quá trình lên
lớp ở một bài cụ thể. Có thể nói: giáo án là một phơng tiện giao tiếp để đánh giá
ngời dạy.
Ngoài ra, để có giờ dạy văn tốt theo tinh thần đổi mới phơng pháp dạy
học, ngời GV phải vất vả hơn nhiều trong việc thiết kế và điều hành giờ Đọc -
Hiểu văn bản. Mỗi GV chúng ta không ai muốn mình chỉ có một giờ dạy tốt, mà
ai cũng muốn rằng tất cả các giờ lên lớp của mình đều thành công và đó là một
sự cố gắng rất lớn. Chính GV phải thực sự chủ động, sáng tạo thì mới có thể khơi
dậy đợc sự hoạt động tích cực, sáng tạo của mọi HS trong lớp. Bởi vì mỗi tác
phẩm văn chơng đợc lựa chọn đa vào chơng trình học đều là một sáng tạo nghệ
Phạm Thanh Yên - Tổ Xã hội - Trờng THCS Chất lợng cao Dơng Phúc T.
2
Thiết kế quá trình Đọc - Hiểu văn bản để tăng cờng hiệu quả giờ dạy văn ở lớp 9THCS
thuật của tác giả. Mỗi cá nhân HS lại là một chủ thể tiếp nhận cá biệt, nên sự áp
đặt cách hiểu, cách cảm nhận của GV với HS là cha đúng với bản chất dạy và
học. Nh vậy, để có giờ Đọc - Hiểu văn bản theo đúng tinh thần đổi mới
phơng pháp dạy học, GV phải chuẩn bị chu đáo hoàn chỉnh một thiết kế giờ dạy
trong giáo án trớc khi lên lớp.

I. Giáo án:
- Giáo án là sự thể hiện mục tiêu cần đạt của từng bài dạy, từng giờ dạy tác
phẩm cụ thể, đó là nội dung t tởng mà giờ lên lớp cần mang lại cho HS, hay nói
khác đi là phần nội dung GV phải truyền đạt đến HS thông qua bài học. Trong
giáo án còn thể hiện những yêu cầu của tác phẩm văn chơng mà bài dạy cần đạt
đợc. Đó là việc làm của GV để HS nắm đợc, hiểu đợc và giáo dục cho HS t tởng
tình cảm nào đó. Trong giáo án, yêu cầu còn là quá trình hớng dẫn cần đạt để HS
rèn luyện thông qua bài học.
- Giáo án Đọc - Hiểu văn bản là sự thể hiện những kiến thức cơ bản, kiến
thức trọng tâm của tác phẩm văn học mà giờ học mang đến, và nó cũng là sự
phân định phơng pháp dạy học trong giờ Đọc - Hiểu văn bản ấy.
II. Thiết kế giờ dạy:
Nói đến thiết kế giờ dạy ta chú ý đến việc làm của GV trên lớp, chia ra
từng "hoạt động một", "hoạt động hai" khi GV cùng HS làm việc trên lớp.
Thiết kế giờ dạy chú ý đến từng chi tiết, từng thao tác cụ thể mà ngời GV sẽ thể
hiện trên lớp. Đó là lao động chuẩn bị đợc nâng lên một bớc toàn diện về giáo
án.
Ta có thể thấy rõ sự khác nhau giữa giáo án và thiết kế giảng dạy trong giờ
Đọc - Hiểu văn bản nh sau:
Giáo án giờ dạy: Thiết kế giờ dạy:
- Chỉ chú ý đến hoạt động làm việc
của ngời thầy và một vài định hớng của
trò.
- Thể hiện các hoạt động của cả thầy
lẫn trò, đó là hoạt động song phơng đối
thoại cùng tác phẩm.
- Kiến thức trong giáo án là kiến thức
tĩnh.
- Thiết kế đặt ra những tình huống có
thể xẩy ra trong giờ học, tận dụng vốn

GV hớng dẫn HS đọc tác phẩm, giải nghĩa văn bản
.
- Đối với học sinh THCS, năng lực cảm thụ văn học cha có định hớng ổn
định; vốn kiến thức ngôn ngữ, đặc biệt là các từ khó hiểu nh từ Hán Việt, từ cổ,
thuật ngữ còn hạn chế, nên hoạt động này rất quan trọng.
- Tuỳ theo dộ dài ngắn và thể loại của văn bản mà cho HS đọc từng phần
hay toàn bộ. Yêu cầu chung của bớc này là qua âm vang ngôn ngữ, giúp HS có
thể phần nào hiểu và cảm nhận đợc âm hởng chung bao trùm tác phẩm, giúp các
em thâm nhập vào thế giới hình tợng và mạch cảm xúc của văn bản.
B ớc 2:
GV hớng dẫn HS tìm hiểu văn bản.
Ta có thể chia bớc này thành những bớc nhỏ sau:
- Tìm hiểu hoàn cảnh ra đời của văn bản:
Tức là xem xét tác phẩm nằm ở vị trí nào trong sự nghiệp sáng tác của
tác giả, trong trào lu văn học, giai đoạn văn học, giai đoạn lịch sử nào (đây là
những vấn đề có ý nghĩa và liên quan trực tiếp tới sự ra đời của tác phẩm).
- Tìm hiểu giá trị nội dung và nghệ thuật của tác phẩm:
GV hớng dẫn HS tìm hiểu bằng cách tổ chức dẫn dắt, nêu vấn đề và hớng
giải quyết vấn đề. Ơ đây, hệ thống câu hỏi đóng vai trò hết sức quan trọng. Vấn
đề cần quan tâm là: hỏi gì? hỏi nh thế nào? hỏi lúc nào? Cũng nh việc sử dụng
kết hợp các phơng pháp, phơng tiện dạy học nh thế nào cho đúng lúc, đúng chỗ
để tạo nên hiệu quả cao cho giờ Đọc - Hiểu văn bản.
Yêu cầu chung của bớc này là GV phải tổ chức dẫn dắt HS chủ động, tích
cực học tập, tìm hiểu thâm nhập văn bản, tạo cho các em đợc suy nghĩ, đợc hoạt
động, đợc nói nhiều hơn, tránh sự tích cực giả tạo hay học tập thụ động trong các
giờ dạy - học văn.
B ớc 3:
GV hớng dẫn HS luyện tập, củng cố, nâng cao sự hiểu biết và cảm
nhận về các giá trị nội dung và nghệ thuật của tác phẩm.
Đây là hoạt động không thể thiếu trong giờ Đọc - Hiểu văn bản ở trờng

"Ta làm con chim hót
Ta làm một cành hoa
Ta nhập vào hoà ca
Một nốt trầm xao xuyến
Một mùa xuân nho nhỏ
Lặng lẽ dâng cho đời
Dù là tuổi hai mơi
Dù là khi tóc bạc.
Mỗi con ngời đều là một mùa xuân nho nhỏ tràn căng sức sống và lòng
Phạm Thanh Yên - Tổ Xã hội - Trờng THCS Chất lợng cao Dơng Phúc T.
6
Thiết kế quá trình Đọc - Hiểu văn bản để tăng cờng hiệu quả giờ dạy văn ở lớp 9THCS
yêu đời, yêu cuộc sống, cống hiến sức lực và cuộc đời làm nên mùa xuân của
thiên nhiên và của đất nớc.
Đây cũng là nhân sinh quan của Thanh Hải: ý thức trách nhiệm dâng hiến
sức lực, cuộc đời của mỗi ngời cho mùa xuân chung của nhân loại.
3. Quá trình suy nghĩ, nghiên cứu, tìm tòi để thâm nhập tác phẩm thơ "Mùa
xuân nho nhỏ" của ngời GV:

3.1. Đọc:
Đọc trọn vẹn văn bản "Mùa xuân nho nhỏ" trong SGK Ngữ văn 9 - Tập
II, rồi đọc đến phần chú giải, phần hớng dẫn HS tìm hiểu bài. Đọc cả SGV Ngữ
văn 9 - Tập II và các t liệu có liên quan tới bài thơ, để ngay chính ngời thầy
phải hiểu thấu đáo đợc tác phẩm.

3.2. Đọc và tìm hiểu chung:
Tiếp tục đọc để khắc sâu hình tợng và xác định mối quan hệ của kết cấu
bên trong tác phẩm - mạch ngầm của bài thơ. Trong bài thơ có ba dòng chảy:
thiên nhiên - đất nớc - con ngời trong mùa xuân. Đó là những âm thanh, nhịp
điệu, hình tợng, chất Huế, chảy trong tác phẩm kết lại thành một chỉnh thể.

văn bản từ góc độ cá nhân bạn đọc - GV.
* Tóm lại: GV trớc lúc dạy cần phải hiểu tác phẩm ra sao? Tác phẩm có
hay không, hay nh thế nào? Tác phẩm có cái gì mới, mới ra sao?
Cụ thể, trớc khi bắt tay soạn tiết Đọc - Hiểu văn bản "Mùa xuân nho
nhỏ", ngời GV cần cảm và hiểu tác phẩm sâu sắc ở nhiều góc độ (từ nội dung
đến hình thức nghệ thuật) nh sau:
Đọc "Mùa xuân nho nhỏ" của Thanh Hải, có lẽ nhiều ngời đã yêu thích
và nhớ mãi những dòng thơ:" Ta làm con chim hót - Ta làm một cành hoa -
Một mùa xuân nho nhỏ - Lặng lẽ dâng cho đời ". Đáng trân trọng làm sao tình
yêu cuộc sống của ngời thi sĩ khi chúng ta biết rằng bài thơ ấy ra đời lúc ông
đang trên giờng bệnh và chỉ ít ngày sau ông mất.Có lẽ chính giây phút giáp mặt
với cái chết, giây phút chuyển từ mùa đông giá lạnh sang mùa xuân ấm áp, cái
thời điểm kì diệu đó đã khiến tấm lòng con ngời bừng lên sự sống mới, khiến
tâm hồn nhà thơ thăng hoa, ngòi bút cũng nở hoa. Tất cả nh tràn ngập cảnh xuân,
cuộc đời xuân và những ớc nguyện đẹp nh mùa xuân.
Bài thơ diễn tả mùa xuân thiên nhiên, đất nớc, con ngời trong chiến đấu và
lao động. Nhng có lẽ hay và đặc sắc hơn cả vẫn là những lời tâm niệm cảm động,
thiết tha của nhà thơ. Đó là ớc nguyện dâng hiến cuộc đời mình cho mùa xuân
đất nớc.
Trớc tiên, mùa xuân của thiên nhiên, đất trời đợc hiện lên qua những vần
thơ thật độc đáo:
"Mọc giữa dòng sông xanh
Một bông hoa tím biếc
Ơi! Con chim chiền chiện
Hót chi mà vang trời
Từng giọt long lanh rơi
Tôi đa tay tôi hứng."
Hình ảnh bông hoa tím biếc mọc lên giữa dòng sông xanh thật nổi bật, ấm
áp. Động từ "mọc" đợc đảo lên đầu câu khiến ta thấy rõ hơn sự vơn lên khoẻ
khoắn và sức sống mãnh liệt của bông hoa. Màu tím của hoa và màu tím của

màu xanh bất tận của lộc mới. Mùa xuân đọng lại trong hình ảnh lộc non đã theo
"ngời cầm súng" và "ngời ra đồng" đến mọi miền đất nớc. Và có thể nói chính
những con ngời ấy đã đem mùa xuân đến cho đất nớc giữa mùa xuân của thiên
nhiên. Sức sống của mùa xuân đất nớc còn đợc cảm nhận trong nhịp điệu "hối
hả", "xôn xao":
"Tất cả nh hối hả
Tất cả nh xôn xao."
Từ những cảm nhận về sức sống của mùa xuân đất nớc, nhà thơ suy ngẫm
về đất nớc:
"Đất nớc bốn ngàn năm
Vất vả và gian lao
Đất nớc nh vì sao
Cứ đi lên phía trớc."
Phạm Thanh Yên - Tổ Xã hội - Trờng THCS Chất lợng cao Dơng Phúc T.
9
Thiết kế quá trình Đọc - Hiểu văn bản để tăng cờng hiệu quả giờ dạy văn ở lớp 9THCS
Đất nớc Việt Nam thật đẹp, toả sáng nh vì sao lung linh, đất nớc đang
thẳng tiến đến tơng lai bằng sức mạnh của "bốn ngàn năm vất vả và gian lao"nh
bà mẹ hiền tần tảo mà đầy mạnh mẽ, can trờng. Bốn câu thơ bộc lộ niềm cảm
phục một dân tộc gian khổ mà anh hùng, niềm tin tởng vào tơng lai của Tổ quốc.
Từ rung cảm thiết tha trớc mùa xuân đẹp của quê hơng, đất nớc, Thanh
Hải bộc lộ nguyện ớc chân thành:
"Ta làm con chim hót
Ta làm một cành hoa
Ta nhập vào hoà ca
Một nốt trầm xao xuyến."
Không mơ ớc những gì to tát, cao siêu, nhà thơ chỉ ớc đợc làm một tiếng
chim hót góp phần làm cho mùa xuân quê hơng thêm âm thanh rạo rực; ông
nguyện làm một cành hoa nhỏ bé tô điểm thêm cho hơng sắc của mùa xuân; và
giữa bản hòa ca tơi vui đầy sức sống của cuộc đời, nhà thơ khiêm nhờng xin làm

Dù là khi tóc bạc."
"Tuổi hai mơi" và "khi tóc bạc" ở đây là hai hình ảnh hoán dụ giàu sức
gợi. Nó không những chỉ một đời ngời từ trẻ đến già mà còn chỉ mọi thế hệ: già
cũng nh trẻ, gái cũng nh trai. Điệp ngữ "dù là" đợc láy lại nh một lời hứa, lời
khẳng định của nhà thơ: sống là cống hiến. Phải chăng đó chính là lẽ sống đầy
trách nhiệm mà Thanh Hải muốn gửi gắm tới chúng ta?
Bài thơ kết thúc bằng âm điệu dân ca xứ Huế với câu Nam ai, Nam bình
hoà với nhịp phách tiền vanh rộn. Đây chính là hồn nhạc dân gian xứ Huế. Đó là
âm thanh mùa xuân đất nớc muôn đời trẻ trung, vấn vít, xao xuyến lòng ngời:
"Mùa xuân - ta xin hát
Câu Nam ai, Nam bình
Nớc non ngàn dặm mình
Nớc non ngàn dặm tình
Nhịp phách tiền đất Huế."
Có thể nói, bài thơ "Mùa xuân nho nhỏ" là tiếng lòng tha thiết yêu mến
và gắn bó với đất nớc, với cuộc đời, thể hiện ớc nguyện cống hiến chân thành
của nhà thơ, muốn góp "mùa xuân nho nhỏ" của mình vào mùa xuân lớn cho dân
tộc. Bài thơ viết theo thể năm tiếng, có nhạc điệu trong sáng gần gũi với dân ca,
có nhiều hình ảnh đẹp, giản dị gợi cảm cùng những so sánh và ẩn dụ sáng tạo
Giữa các khổ, các phần của bài thơ có sự gắn kết tự nhiên, chặt chẽ, vừa luyến
láy vừa đợc nâng cao. Nó có sức lay động tâm hồn chúng ta bởi chất họa gợi
cảm, chất nhạc vấn vơng, quyến luyến, bởi tâm niệm tha thiết chân thành Có lẽ
vì thế, cái nguyện ớc "lặng lẽ dâng cho đời" một "mùa xuân nho nhỏ" kia không
còn là của riêng Thanh Hải nữa mà nó đã trở thành tiếng lòng của nhiều thế hệ
bạn đọc.
II. Hớng thiết kế giờ dạy "Mùa xuân nho nhỏ" trên giáo án
của ngời giáo viên:
A. Mục tiêu cần đạt:
Giúp HS:
- Cảm nhận đợc những xúc cảm của tác giả trớc mùa xuân của thiên

3. Yêu cầu HS tìm hiểu cách vận dụng thể thơ 5 chữ trong bài thơ của
Thanh Hải.
4. Hớng dẫn HS tìm hiểu mạch cảm xúc về mùa xuân của tác giả trong
bài thơ.
- Bài thơ bắt đầu bằng những xúc cảm trực tiếp trớc vẻ đẹp và sức sống
của mùa xuân thiên nhiên; từ đó mở rộng thành hình ảnh mùa xuân của đất nớc.
- Từ cảm xúc, mạch thơ chuyển sang biểu hiện suy nghĩ và ớc nguyện
của nhà thơ muốn đợc hoà nhập, đóng góp cho cuộc đời chung.
- Bài thơ kết thúc bằng sự trở về với những cảm xúc thiết tha, tự hào về
quê hơng, đất nớc qua điệu dân ca xứ Huế.
5. Trên cơ sở mạch cảm xúc, yêu cầu HS nêu bố cục của bài thơ.
- Khổ đầu (6 dòng): Cảm xúc trớc mùa xuân thiên nhiên, đất trời.
- Hai khổ tiếp (10 dòng): Cảm xúc về mùa xuân đất nớc.
- Hai khổ tiếp theo (8 dòng): Suy nghĩ và ớc nguyện của nhà thơ trớc
mùa xuân đất nớc.
Phạm Thanh Yên - Tổ Xã hội - Trờng THCS Chất lợng cao Dơng Phúc T.
12
Thiết kế quá trình Đọc - Hiểu văn bản để tăng cờng hiệu quả giờ dạy văn ở lớp 9THCS
- Khổ cuối (5 dòng): Lời ca ngợi quê hơng đất nớc qua điệu dân ca xứ
Huế.
(III). Hoạt động 3: Phân tích. (20 phút).
1. H ớng dẫn HS tìm hiểu hình ảnh mùa xuân của thiên nhiên, đất n ớc
qua cảm xúc của nhà thơ.
Ơ phần này, GV có thể nêu một số câu hỏi để dẫn dắt HS phân tích đúng
hớng, đúng cách nh:
- Cách miêu tả mùa xuân của tác giả có gì độc đáo?
- Mùa xuân ở khổ đầu đợc dùng với ý nghĩa gì?
- Hình ảnh mùa xuân của thiên nhiên, đất trời đợc phác họa ra sao?
- Cảm xúc của tác giả về mùa xuân thiên nhiên đợc thể hiện nh thế
nào?

cũng nh nghệ thuật của 3 khổ thơ cuối.
Cho HS suy nghĩ, trao đổi thảo luận nhằm tìm hiểu những suy nghĩ về bổn
phận cá nhân của tác giả cũng nh của mỗi con ngời trong cuộc đời.
GV có thể dẫn dắt hoạt động thảo luận của HS bằng một số câu hỏi định
hớng nh:
- Mạch thơ ở 3 khổ cuối?
- Tâm niệm của nhà thơ đợc thể hiện qua những hình ảnh nào? Nét
đặc sắc của những hình ảnh ấy là gì?
- Sự sáng tạo đặc sắc nhất của Thanh Hải trong bài thơ là gì?
- Bình luận mối quan hệ giữa nhan đề bài thơ với ớc nguyện "lặng
lẽ dâng cho đời" của tác giả?
- Cách lựa chọn chi tiết và cấu tứ lặp lại của đoạn thơ có ý nghĩa gì?
- Đoạn thơ gợi cho em những cảm nghĩ gì về nguyện ớc của tác giả
và ý nghĩa cuộc sống cá nhân?
* Yêu cầu HS trả lời đ ợc các ý sau:
+Từ cảm xúc về mùa xuân của thiên nhiên, đất nớc, mạch thơ
chuyển một cách tự nhiên sang bày tỏ những suy ngẫm và tâm niệm của nhà thơ
trớc mùa xuân đất nớc.
+ Điều tâm niệm ấy đợc thể hiện một cách chân thành trong những
hình ảnh thơ đẹp, tự nhiên, giản dị. Giữa mùa xuân của đất nớc, tác giả xin làm
một "con chim hót", làm "một nhành hoa"; giữa bản "hoà ca" vui tơi, đầy sức
sống của cuộc đời, nhà thơ xin làm "một nốt trầm xao xuyến".
+Sự sáng tạo đặc sắc nhất của Thanh Hải trong bài thơlà ở hình ảnh
"mùa xuân nho nhỏ". Nhà thơ nguyện làm một mùa xuân, nghĩa là sống đẹp,
sống với tất cả sức sống tơi trẻ của mình nhng rất khiêm nhờng là làm một mùa
xuân nho nhỏ góp vào mùa xuân lớn của đất nớc, của cuộc đời chung.
+Sự lặp lại các chi tiết, hình ảnh (bông hoa và tiếng chim hót) đã tạo
ra sự đối ứng chặt chẽ cho bài thơ. Những hình ảnh chọn lọc ấy trở lại đã mang
một ý nghĩa mới: niềm mong muốn dợc sống có ích, cống hiến cho đời là một lẽ
tự nhiên nh con chim mang đến tiếng hót, bông hoa toả hơng sắc cho cuộc đời

khi cảm thụ văn bản. Các em đã phát hiện đợc những tầng ý nghĩa mới, vợt khỏi
những cách hiểu thông thờng, bổ sung, hoàn thiện thêm những giá trị thẩm mỹ,
đem tới cho văn bản một cách hiểu mới, một giá trị mới, đôi khi khá bất ngờ và
độc đáo.
Bằng việc khảo sát chất lợng bộ môn Ngữ văncủa HS lớp mình phụ trách
qua hai đợt kiểm tra (đợt I: tháng 9 - 2006; đợt II: tháng 3 - 2007), tôi nhận thấy
chất lợng bộ môn đợc nâng lên rõ rệt: tỉ lệ khá - giỏi tăng hơn và đã hạn chế
đáng kể tỉ lệ trung bình - yếu.
* Kết quả cụ thể nh sau:
Đợt
khảo sát
T. số
HS
Giỏi Khá Trung bình Yếu
TS % TS % TS % TS %
( I )
45
7
15,6
19
42,2
18
40,0
1
2,2
( II )
45
11
24,4
26

- Có kỹ năng s phạm để có thể vận dụng linh hoạt các phơng pháp, hớng
dẫn quá trình học tập của HS một cách có hiệu quả.
- Biết lắng nghe thông tin từ phía HS: "nghe" để chuẩn bị và điều chỉnh
cách dạy; "nghe" để uốn nắn quá trình tiếp nhận , cảm thụ văn học của HS đi
đúng hớng
- Rèn luyện cho HS khả năng bộc lộ suy nghĩ tình cảm của mình về tác
phẩm qua hoạt động trao đổi, thảo luận với GV và bè bạn.
Với những yêu cầu trên, ngời GV phải có nhận thức đúng về vai trò của
giáo án. Giáo án nh là một công cụ, một phơng tiện không thể thiếu của GV khi
lên lớp. Giáo án đợc xem là một thiết kế của ngời GV, nó có thể quyết định việc
thành - bại cho công trình giảng dạy trên lớp. "Bản thiết kế" đó phải đợc kiểm
nghiệm trên thực tế và cần đợc bổ sung, điều chỉnh thờng xuyên cho phù hợp với
đối tợng, điều kiện thực tế nhằm đạt hiệu quả và mục tiêu đề ra một cách cao
nhất.
II. Lời kết:
Với kiến thức, kinh nghiệm đã tích luỹ đợc trong quá trình học tập và
giảng dạy, cùng sự giúp đỡ tận tình của các bạn đồng nghiệp, trên đây tôi đã đa
ra một vài ý kiến nhỏ về việc "Thiết kế quá trình Đọc - Hiểu văn bản để tăng
cờng hiệu quả giờ dạy Văn ở lớp 9 THCS (Qua tác phẩm "Mùa xuân nho nhỏ"
của Thanh Hải)". Tuy rằng sau khi áp dụng đề tài này, thầy trò chúng tôi đã thu
đợc một số kết quả với những thành công nhất định trong việc dạy và học một số
tác phẩm văn chơng thuộc phần Đọc - Hiểu văn bản ở bộ môn Ngữ văn lớp 9,
nhng chắc hẳn còn nhiều vấn đề cha đề cập hết và hạn chế là điều khó tránh
khỏi. Vì vậy, tôi rất mong nhận đợc sự góp ý, phê bình, bổ sung của cấp trên
cùng các bạn đồng nghiệp, từ đó giúp tôi có sự điều chỉnh phù hợp trong quá
trình giảng dạy, để những năm học sau thầy trò chúng tôi đạt đợc kết quả dạy và
học tốt hơn.
Xin trân trọng cảm ơn!
Văn Lâm, ngày 02 tháng 3 năm 2007


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status