skkn thiết kế quá trình đọc - hiểu văn bản để tăng cường hiệu quả giờ dạy văn ở lớp 9 thcs (qua tác phẩm mùa xuân nho nhỏ của thanh hải) - Pdf 24

PHẦN MỞ ĐẦU
I. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI:
Giáo án là một công cụ, phương tiện không thể thiếu của người giáo viên
khi lên lớp. Thế nhưng trên thực tế vẫn có những giáo viên nghĩ rằng: sách tham
khảo, sácg giáo viên, sách thiết kế bài giảng nhiều, nên không cần coi trọng
khâu soạn bài, giáo án lên lớp chỉ là hình thức. Theo tôi thì ngược lại. Người GV
lên lớp dứt khoát phải có giáo án - giáo án do chính bản thân người thầy soạn
thảo. Bởi giáo án không chỉ chứa đựng kiến thức, mà nó còn thể hiện sự lựa
chọn kiến thức. Ngoài ra, nó còn chứa sự nghiên cứu, tìm tòi, suy nghĩ của giáo
viên (GV) về những phương pháp, biện pháp, những gợi ý, định hướng dẫn dắt
học sinh (HS) trong quá trình dạy - học một cách đầy đủ, trọn vẹn và hệ thống
nhất. Giáo án là sự thể hiện kế hoạch hoá quá trình giảng dạy của GV trên lớp.
Vì vậy, việc nâng cao nhận thức về vai trò của giáo án là rất quan trọng và cần
thiết đối với người GV, đặc biệt là GV dạy Ngữ văn, nhằm nâng cao hiệu quả
giờ dạy trên lớp. Thông qua giáo án, ta dễ dàng thấy rõ năng lực, trình độ của
người soạn: người ấy đã thành thạo đến đâu, còn lúng túng ở khâu nào, phần nào
trong quá trình lên lớp ở một bài cụ thể. Có thể nói: giáo án là một phương tiện
giao tiếp để đánh giá người dạy.
Ngoài ra, để có giờ dạy văn tốt theo tinh thần đổi mới phương pháp dạy
học, người GV phải vất vả hơn nhiều trong việc thiết kế và điều hành giờ Đọc -
Hiểu văn bản. Mỗi GV chúng ta không ai muốn mình chỉ có một giờ dạy tốt, mà
ai cũng muốn rằng tất cả các giờ lên lớp của mình đều thành công và đó là một
sự cố gắng rất lớn. Chính GV phải thực sự chủ động, sáng tạo thì mới có thể
khơi dậy được sự hoạt động tích cực, sáng tạo của mọi HS trong lớp. Bởi vì mỗi
tác phẩm văn chương được lựa chọn đưa vào chương trình học đều là một sáng
tạo nghệ thuật của tác giả. Mỗi cá nhân HS lại là một chủ thể tiếp nhận cá biệt,
nên sự áp đặt cách hiểu, cách cảm nhận của GV với HS là chưa đúng với bản
chất dạy và học. Như vậy, để có giờ Đọc - Hiểu văn bản theo đúng tinh thần đổi
mới
1
phương pháp dạy học, GV phải chuẩn bị chu đáo hoàn chỉnh một thiết kế giờ

I. GIÁO ÁN:
- Giáo án là sự thể hiện mục tiêu cần đạt của từng bài dạy, từng giờ dạy
tác phẩm cụ thể, đó là nội dung tư tưởng mà giờ lên lớp cần mang lại cho HS,
hay nói khác đi là phần nội dung GV phải truyền đạt đến HS thông qua bài học.
Trong giáo án còn thể hiện những yêu cầu của tác phẩm văn chương mà bài dạy
cần đạt được. Đó là việc làm của GV để HS nắm được, hiểu được và giáo dục
cho HS tư tưởng tình cảm nào đó. Trong giáo án, yêu cầu còn là quá trình hướng
dẫn cần đạt để HS rèn luyện thông qua bài học.
- Giáo án Đọc - Hiểu văn bản là sự thể hiện những kiến thức cơ bản, kiến
thức trọng tâm của tác phẩm văn học mà giờ học mang đến, và nó cũng là sự
phân định phương pháp dạy học trong giờ Đọc - Hiểu văn bản ấy.
II. THIẾT KẾ GIỜ DẠY:
Nói đến thiết kế giờ dạy ta chú ý đến việc làm của GV trên lớp, chia ra
từng "hoạt động một", "hoạt động hai" khi GV cùng HS làm việc trên lớp.
Thiết kế giờ dạy chú ý đến từng chi tiết, từng thao tác cụ thể mà người GV sẽ
thể hiện trên lớp. Đó là lao động chuẩn bị được nâng lên một bước toàn diện về
giáo án.
Ta có thể thấy rõ sự khác nhau giữa giáo án và thiết kế giảng dạy trong
giờ
Đọc - Hiểu văn bản như sau:
Giáo án giờ dạy: Thiết kế giờ dạy:
- Chỉ chú ý đến hoạt động làm việc
của người thầy và một vài định hướng
của trò.
- Thể hiện các hoạt động của cả thầy
lẫn trò, đó là hoạt động song phương
đối thoại cùng tác phẩm.
3
- Kiến thức trong giáo án là kiến thức
tĩnh.

ổn định; vốn kiến thức ngôn ngữ, đặc biệt là các từ khó hiểu như từ Hán Việt, từ
cổ, thuật ngữ còn hạn chế, nên hoạt động này rất quan trọng.
- Tuỳ theo dộ dài ngắn và thể loại của văn bản mà cho HS đọc từng phần
hay toàn bộ. Yêu cầu chung của bước này là qua âm vang ngôn ngữ, giúp HS có
4
thể phần nào hiểu và cảm nhận được âm hưởng chung bao trùm tác phẩm, giúp
các em thâm nhập vào thế giới hình tượng và mạch cảm xúc của văn bản.
Bước 2: GV hướng dẫn HS tìm hiểu văn bản.
Ta có thể chia bước này thành những bước nhỏ sau:
- Tìm hiểu hoàn cảnh ra đời của văn bản:
Tức là xem xét tác phẩm nằm ở vị trí nào trong sự nghiệp sáng tác của
tác giả, trong trào lưu văn học, giai đoạn văn học, giai đoạn lịch sử nào (đây là
những vấn đề có ý nghĩa và liên quan trực tiếp tới sự ra đời của tác phẩm).
- Tìm hiểu giá trị nội dung và nghệ thuật của tác phẩm:
GV hướng dẫn HS tìm hiểu bằng cách tổ chức dẫn dắt, nêu vấn đề và
hướng giải quyết vấn đề. Ơ đây, hệ thống câu hỏi đóng vai trò hết sức quan
trọng. Vấn đề cần quan tâm là: hỏi gì? hỏi như thế nào? hỏi lúc nào? Cũng như
việc sử dụng kết hợp các phương pháp, phương tiện dạy học như thế nào cho
đúng lúc, đúng chỗ để tạo nên hiệu quả cao cho giờ Đọc - Hiểu văn bản.
Yêu cầu chung của bước này là GV phải tổ chức dẫn dắt HS chủ động,
tích cực học tập, tìm hiểu thâm nhập văn bản, tạo cho các em được suy nghĩ,
được hoạt động, được nói nhiều hơn, tránh sự tích cực giả tạo hay học tập thụ
động trong các giờ dạy - học văn.
Bước 3: GV hướng dẫn HS luyện tập, củng cố, nâng cao sự hiểu biết
và cảm nhận về các giá trị nội dung và nghệ thuật của tác phẩm.
Đây là hoạt động không thể thiếu trong giờ Đọc - Hiểu văn bản ở trường
THCS, vì khả năng khái quát, tổng hợp của các em còn hạn chế. Hiện nay, hoạt
động này thường được nhiều GV đưa vào phần tổng kết chung, còn HS chỉ nghe
và ghi chép. Theo chúng tôi, về hướng đổi mới phương pháp, GV có thể hướng
dẫn HS tự đúc kết, khái quát bằng hệ thống câu hỏi có tính gợi mở, dẫn dắt. Và

Dù là tuổi hai mươi
Dù là khi tóc bạc.
Mỗi con người đều là một mùa xuân nho nhỏ tràn căng sức sống và lòng
6
yêu đời, yêu cuộc sống, cống hiến sức lực và cuộc đời làm nên mùa xuân của
thiên nhiên và của đất nước.
Đây cũng là nhân sinh quan của Thanh Hải: ý thức trách nhiệm dâng hiến
sức lực, cuộc đời của mỗi người cho mùa xuân chung của nhân loại.
3. Quá trình suy nghĩ, nghiên cứu, tìm tòi để thâm nhập tác phẩm thơ
"Mùa xuân nho nhỏ" của người GV:
3.1. Đọc:
Đọc trọn vẹn văn bản "Mùa xuân nho nhỏ" trong SGK Ngữ văn 9 - Tập
II, rồi đọc đến phần chú giải, phần hướng dẫn HS tìm hiểu bài. Đọc cả SGV Ngữ
văn 9 - Tập II và các tư liệu có liên quan tới bài thơ, để ngay chính người thầy
phải hiểu thấu đáo được tác phẩm.
3.2. Đọc và tìm hiểu chung:
Tiếp tục đọc để khắc sâu hình tượng và xác định mối quan hệ của kết cấu
bên trong tác phẩm - mạch ngầm của bài thơ. Trong bài thơ có ba dòng chảy:
thiên nhiên - đất nước - con người trong mùa xuân. Đó là những âm thanh, nhịp
điệu, hình tượng, chất Huế, chảy trong tác phẩm kết lại thành một chỉnh thể.
Đây là cái mới trong sáng tác của Thanh Hải và cũng là cái độc đáo của văn
chương, lần đầu tiên xuất hiện trong thơ ca: "Mùa xuân nho nhỏ" - một mùa
xuân có kích cỡ, có hình dáng và có cả sự chuyển dời "lặng lẽ".
Một quá trình đọc, vừa đọc vừa liên tưởng, tưởng tượng tạo nên mối quan
hệ giữa ngôn ngữ - hình tượng - quan điểm, là hết sức cần thiết cho việc đi sâu
khám phá bài thơ "Mùa xuân nho nhỏ".
3.3. Đọc và phân tích các yếu tố đặc sắc của tác phẩm:
Sự đọc này trên cơ sở đã thuộc từ hai lần đọc trước và dừng lại ở những
yếu tố có vấn đề để suy nghĩ, phân tích và tổng hợp lại, gắn kết thành mạch. Khi
phân tích, GV cần định hướng phân tích từ hình ảnh mùa xuân của thiên nhiên,

xuân, cuộc đời xuân và những ước nguyện đẹp như mùa xuân.
Bài thơ diễn tả mùa xuân thiên nhiên, đất nước, con người trong chiến đấu
và lao động. Nhưng có lẽ hay và đặc sắc hơn cả vẫn là những lời tâm niệm cảm
8
động, thiết tha của nhà thơ. Đó là ước nguyện dâng hiến cuộc đời mình cho mùa
xuân đất nước.
Trước tiên, mùa xuân của thiên nhiên, đất trời được hiện lên qua những
vần thơ thật độc đáo:
"Mọc giữa dòng sông xanh
Một bông hoa tím biếc
Ơi! Con chim chiền chiện
Hót chi mà vang trời
Từng giọt long lanh rơi
Tôi đưa tay tôi hứng."
Hình ảnh bông hoa tím biếc mọc lên giữa dòng sông xanh thật nổi bật, ấm
áp. Động từ "mọc" được đảo lên đầu câu khiến ta thấy rõ hơn sự vươn lên khoẻ
khoắn và sức sống mãnh liệt của bông hoa. Màu tím của hoa và màu tím của
dòng sông thật hài hoà, đó là những gam màu dịu mát gợi cảm giác êm ái, thanh
bình, yên ả. Trong khung cảnh thơ mộng đó vang lên tiếng hót lảnh lót của chú
chim chiền chiện:
"Ơi! Con chim chiền chiện
Hót chi mà vang trời "
Tiếng hót ấy làm cho mùa xuân quê hương thêm náo nức, rộn ràng. Âm
thanh tiếng chim thả vào không gian trong suốt của mùa xuân, lắng đọng và
ngưng tụ lại thành từng "giọt long lanh" khiến nhà thơ có thể có thể nhìn thấy
được và ông say sưa, ngây ngất đưa tay hứng nhận. Ơ đây nghệ thuật ẩn dụ
chuyển đổi cảm giác được Thanh Hải sử dụng tài tình đã góp phần gợi ra những
suy tưởng nhiều chiều cho người đọc. "Giọt" có thể là giọt sương hay giọt mưa
xuân long lanh, có thể là giọt âm thanh của tiếng chim chiền chiện và cũng có
thể là giọt hạnh phúc hay sự kết tinh long lanh của mùa xuân Chỉ bằng vài nét

lao"như bà mẹ hiền tần tảo mà đầy mạnh mẽ, can trường. Bốn câu thơ bộc lộ
niềm cảm phục một dân tộc gian khổ mà anh hùng, niềm tin tưởng vào tương lai
của Tổ quốc.
10
Từ rung cảm thiết tha trước mùa xuân đẹp của quê hương, đất nước,
Thanh Hải bộc lộ nguyện ước chân thành:
"Ta làm con chim hót
Ta làm một cành hoa
Ta nhập vào hoà ca
Một nốt trầm xao xuyến."
Không mơ ước những gì to tát, cao siêu, nhà thơ chỉ ước được làm một
tiếng chim hót góp phần làm cho mùa xuân quê hương thêm âm thanh rạo rực;
ông nguyện làm một cành hoa nhỏ bé tô điểm thêm cho hương sắc của mùa
xuân; và giữa bản hòa ca tươi vui đầy sức sống của cuộc đời, nhà thơ khiêm
nhường xin làm "một nốt trầm xao xuyến". Điệp ngữ "ta làm" được lặp lại nhiều
lần như càng nhấn mạnh những ước nguyện tuy bình dị, đơn sơ nhưng không
kém phần da diết, trăn trở của nhà thơ.
Nếu như ở những khổ trên, nhà thơ xưng "tôi" thì đến khổ này này nhà
thơ lại xưng "ta"; đó là biểu tượng cho sự gặp gỡ giữa cái chung và cái riêng.
"Ta" vừa là số ít (nhà thơ), vừa là số nhiều (tất cả). Dường như ước nguyện của
mỗi cá nhân đã hoà với dòng chảy của muôn người: tất cả đều muốn cống hiến
một phần công sức nhỏ bé của mình cho quê hương đất nước!
"Một mùa xuân nho nhỏ
Lặng lẽ dâng cho đời"
Đến đây ta mới thấm thía ý nghĩa của nhan đề bài thơ. Trước Thanh Hải
quả chưa từng có hình ảnh thơ vừa lạ, vừa hồn nhiên, thân thương này. Hình ảnh
"mùa xuân nho nhỏ" chứa đựng sự khiêm nhường mà tự tin, tự hào biết mấy của
con người ý thức sâu sắc về giá trị cuộc đời, về hạnh phúc của hiến dâng và đón
nhận. "Nốt trầm xao xuyến" của "mùa xuân nho nhỏ" này cứ tự nhiên hoà vào
mùa xuân lớn của thiên nhiên, đất nước nhờ sự chiếu ứng giữa hai phần của bài

ca, có nhiều hình ảnh đẹp, giản dị gợi cảm cùng những so sánh và ẩn dụ sáng
tạo Giữa các khổ, các phần của bài thơ có sự gắn kết tự nhiên, chặt chẽ, vừa
luyến láy vừa được nâng cao. Nó có sức lay động tâm hồn chúng ta bởi chất họa
gợi cảm, chất nhạc vấn vương, quyến luyến, bởi tâm niệm tha thiết chân thành
12
Có lẽ vì thế, cái nguyện ước "lặng lẽ dâng cho đời" một "mùa xuân nho nhỏ"
kia không còn là của riêng Thanh Hải nữa mà nó đã trở thành tiếng lòng của
nhiều thế hệ bạn đọc.
II. HƯỚNG THIẾT KẾ GIỜ DẠY "MÙA XUÂN NHO NHỎ" TRÊN GIÁO ÁN
CỦA NGƯỜI GIÁO VIÊN:
A. MỤC TIÊU CẦN ĐẠT:
Giúp HS:
- Cảm nhận được những xúc cảm của tác giả trước mùa xuân của thiên
nhiên, đất nước và khát vọng đẹp đẽ muốn làm "một mùa xuân nho nhỏ" dâng
hiến cho cuộc đời. Từ đó mở ra những suy nghĩ về ý nghĩa, giá trị của cuộc sống
của mỗi cá nhân là sống có ích, có cống hiến cho cuộc đời chung.
- Rèn luyện kỹ năng cảm thụ, phân tích hình ảnh thơ trong mạch vận
động của tứ thơ.
B. CHUẨN BỊ:
- GV: SGK, SGV, Thiết kế bài giảng Ngữ văn 9 và một số tư liệu liên
quan đến bài thơ "Mùa xuân nho nhỏ"
- HS: Đọc kỹ bài thơ "Mùa xuân nho nhỏ" và soạn bài bài theo câu hỏi
hướng dẫn trong SGK.
C. TIẾN TRÌNH LÊN LỚP:
C.1. ÔN ĐỊNH TỔ CHỨC: (1 phút).
C.2. KIỂM TRA BÀI CŨ: (4 phút).
GV yêu cầu HS (2 em) trả lời một số câu hỏi kiểm tra kiến thức về văn
bản "Con cò" của Chế Lan Viên.
C.3. BÀI MỚI:(40 phút)
(I). HOẠT ĐỘNG 1: Giới thiệu tác giả - tác phẩm. (4 phút).

Ơ phần này, GV có thể nêu một số câu hỏi để dẫn dắt HS phân tích đúng
hướng, đúng cách như:
- Cách miêu tả mùa xuân của tác giả có gì độc đáo?
- Mùa xuân ở khổ đầu được dùng với ý nghĩa gì?
14
- Hình ảnh mùa xuân của thiên nhiên, đất trời được phác họa ra
sao? - Cảm xúc của tác giả về mùa xuân thiên nhiên được thể hiện như
thế nào?
- Hình ảnh đất nước qua khổ thơ thứ 2,3 có gì đặc biệt?
- Các biện pháp nghệ thuật và cách dùng từ mà Thanh Hải sử dụng
ở đây?
- Mạch cảm xúc của tác giả được phát triển như thế nào từ khổ 1
đến khổ 2,3?
GV cho HS suy nghĩ cá nhân và trình bày trước lớp > yêu cầu nhận
xét, bổ sung.
*Lưu ý cần làm rõ các vấn đề cơ bản sau:
- Về nội dung:
+ Khổ 1: Mùa xuân của thiên nhiên được phác họa qua một số hình
ảnh chọn lọc có ý nghĩa điển hình: Một dòng sông xanh, một bông hoa tím biếc,
âm thanh tiếng chim chiền chiện - Đó là một không gian cao rộng, tươi mát,
tràn đầy sức sống.
+ Khổ 2,3: Hình ảnh đất nước vào xuân được đặc tả qua một số nét
phác họa đặc trưng: Màu xanh tươi mới của lộc non theo bước chân người cầm
súng và người ra đồng đến mọi miền của Tổ quốc; qua nhịp điệu sống hối hả,
khẩn trương Tất cả tạo nên hình ảnh vươn lên, tiến về phía trước đẹp như vì
sao sáng lung linh của một đất nước gian khổ mà anh hùng.
- Về nghệ thuật: Thanh Hải sử dụng thành công các biện pháp: đảo
ngữ, điệp từ, so sánh, nhân hoá, từ ngữ chọn lọc, gợi cảm nhằm thể hiện cảm
xúc chân thành, cảm nhận tươi tắn, dào dạt niềm tin về mùa xuân, đất nước, dân
tộc.

sống với tất cả sức sống tươi trẻ của mình nhưng rất khiêm nhường là làm một
mùa xuân nho nhỏ góp vào mùa xuân lớn của đất nước, của cuộc đời chung.
+Sự lặp lại các chi tiết, hình ảnh (bông hoa và tiếng chim hót) đã
tạo ra sự đối ứng chặt chẽ cho bài thơ. Những hình ảnh chọn lọc ấy trở lại đã
mang một ý nghĩa mới: niềm mong muốn dược sống có ích, cống hiến cho đời là
16
một lẽ tự nhiên như con chim mang đến tiếng hót, bông hoa toả hương sắc cho
cuộc đời
+ Bằng giọng tâm sự nhỏ nhẹ, sâu lắng, ước nguyện của Thanh Hải
đã đi vào lòng người đọc, và lung linh trong sáng của một nhân sinh quan tươi
đẹp: Mỗi người phải mang đến cho cuộc đời chung một nét đẹp riêng, phải cống
hiến phần tinh tuý nhất, dù là nhỏ bé, cho đất nước, và đó phải là sự cống hiến
thầm lặng suốt cả cuộc đời.
(IV). HOẠT ĐỘNG 4: Tổng kết (5 phút).
- GV giao nhiệm vụ cho cả lớp suy nghĩ những vấn đề chính về nội
dung và nghệ thuật của bài thơ.
- GV gọi 1-2 HS trả lời > cho lớp nhận xét, rút ra ý cần tổng kết.
- GV chốt và nhấn mạnh những ý cơ bản cần ghi nhớ.
* Cho HS đọc phần ghi nhớ (Tr. 58 - SGK).
C.4. CỦNG CỐ: (3 phút)
Yêu cầu HS nêu cảm nhận về một số hình ảnh đặc sắc trong bài
thơ.
C.5. HƯỚNG DẪN VỀ NHÀ: (2 phút)
- Hướng dẫn HS học bài "Mùa xuân nho nhỏ" và làm bài tập thực
hành (Bình giảng một khổ thơ trong bài mà em yêu thích).
- Nhắc HS chuẩn bị Đọc - Hiểu văn bản "Viếng lăng Bác" của
Viễn Phương.
C. KẾT QUẢ ỨNG DỤNG SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM:
Với việc áp dụng đề tài "Thiết kế quá trình Đọc - Hiểu văn bản để tăng
cường hiệu quả giờ dạy Văn ở lớp 9 THCS (Qua tác phẩm "Mùa xuân nho

nhận thức cảm thụ và ứng dụng các kiến thức, kỹ năng văn học, GV không còn
là người chỉ biết truyền thụ kiến thức, kỹ năng tới HS mà còn cần có cả vai trò
tổ chức, hướng dẫn HS tích cực tìm tòi khám phá để hiểu, để cảm và để vận
dụng các kiến thức kỹ năng đúng hướng, đúng cách, tránh suy diễn, phỏng đoán
hay áp đặt. Từ đó HS sẽ được hiểu, cảm cái hay, cái đẹp của tác phẩm văn học;
bộc lộ sự hiểu, cảm ấy bằng ngôn ngữ, tình cảm của lứa tuổi mình; các kỹ năng
đọc, phân tích, bình giá, diễn đạt bằng ngôn ngữ nói - viết của các em sẽ được
hình thành chắc chắn và bền vững.
* Tóm lại, để để góp phần đổi mới và tăng cường hiệu quả giờ dạy Văn ở
lớp 9 bậc THCS, GV phải đáp ứng được những yêu cầu sau:
- Nắm chắc nội dung bài giảng và những kiến thức liên quan đến tác giả
- tác phẩm. GV lên lớp phải thực sự hiểu và rung động với tác phẩm mình sẽ
dạy.
- Có kỹ năng sư phạm để có thể vận dụng linh hoạt các phương pháp,
hướng dẫn quá trình học tập của HS một cách có hiệu quả.
- Biết lắng nghe thông tin từ phía HS: "nghe" để chuẩn bị và điều chỉnh
cách dạy; "nghe" để uốn nắn quá trình tiếp nhận , cảm thụ văn học của HS đi
đúng hướng
- Rèn luyện cho HS khả năng bộc lộ suy nghĩ tình cảm của mình về tác
phẩm qua hoạt động trao đổi, thảo luận với GV và bè bạn.
19
Với những yêu cầu trên, người GV phải có nhận thức đúng về vai trò của
giáo án. Giáo án như là một công cụ, một phương tiện không thể thiếu của GV
khi lên lớp. Giáo án được xem là một thiết kế của người GV, nó có thể quyết
định việc thành - bại cho công trình giảng dạy trên lớp. "Bản thiết kế" đó phải
được kiểm nghiệm trên thực tế và cần được bổ sung, điều chỉnh thường xuyên
cho phù hợp với đối tượng, điều kiện thực tế nhằm đạt hiệu quả và mục tiêu đề
ra một cách cao nhất.
II. LỜI KẾT:
Với kiến thức, kinh nghiệm đã tích luỹ được trong quá trình học tập và


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status