Tổng hợp Quản trị danh mục đầu tư
ngân hàng
, Tháng năm
CHƯƠNG I : PHÂN TÍCH TÌNH HÌNH VĨ MÔ VIỆT NAM
1.Môi trường kinh tế
1.1 Tăng trưởng kinh tế
Nguồn: MHBS tổng hợp
Tổng sản phẩm trong nước (GDP) chín tháng năm 2010 tăng trưởng 6,52% so với chín
tháng năm 2009,và dự kiến cả năm sẽ đạt 6.7%, vượt qua mục tiêu 6.5% của chính phủ.
trong đó quý I tăng 5,83%; quý II tăng 6,4% và quý III tăng 7,16%. Đây là mức tăng khá
cao so với mức tăng 4,62% của cùng kỳ năm trước.
Trong mức tăng trưởng chung của toàn nền kinh tế chín tháng năm nay, khu vực nông, lâm
nghiệp và thủy sản tăng 2,89%, đóng góp 0,49 điểm phần trăm; khu vực công nghiệp và xây
dựng tăng 7,29%, đóng góp 3,02 điểm phần trăm; khu vực dịch vụ tăng 7,24%, đóng góp
3,01 điểm phần trăm. Trong tổng sản phẩm trong nước chín tháng, khu vực nông, lâm nghiệp
và thủy sản chiếm 21,09%; khu vực công nghiệp và xây dựng chiếm 40,85%; khu vực dịch
vụ chiếm 38,06%
Tốc đọ tăng tổng sản phẩm trong nước 9 tháng 2009 so với 9 tháng 2010
Tốc đọ tăng trưởng so với 9
tháng năm trước
9 tháng năm
2009(%)
9 tháng năm
2010(%)
Tổng số 4.62 6.52 6.52
Nông,lâm nghiệp thủy sản 1.58 2.89 0.49
Công nghiệp và xây dựng 4.64 7.29 3.02
Dịch vụ 5.90 7.24 3.01
Nguồn:Tổng cục thống kê
Chính phủ đặt mục tiêu tăng trưởng kinh tế năm 2011 là 7.5%, đây là mức trung bình
nghìn tỷ đồng, tăng 19,8% so với cùng kỳ năm 2009, bao gồm: Khu vực Nhà nước đạt 226,8
nghìn tỷ đồng, chiếm 37,6% tổng vốn và tăng 30,2%; khu vực ngoài Nhà nước 222 nghìn tỷ
đồng, chiếm 36,8% và tăng 17%; khu vực có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài 154 nghìn tỷ
đồng, chiếm 25,6% và tăng 10,7%.
Vốn đầu tư xã hội thực hiện 9 tháng năm
2010
Nghìn tỷ
đồng
Cơ
cấu
(%)
So với cùng
kỳ năm trước
(%)
TỔNG SỐ 602,8 100,0 119,8
Khu vực Nhà nước 226,8 37,6 130,2
Khu vực ngoài Nhà nước 220,0 36,8 117,0
Khu vực có vốn đầu tư trực tiếp nước
ngoài
154,0 25,6 110,7
Nguồn: Tổng cục thống kê
Tỷ lệ vốn đầu tư/GDP ngày càng gia tăng trong khi tốc độ tăng trưởng GDP đang có xu
hướng chậm lại. Đây là một dấu hiệu không mấy tích cực đối với chất lượng tăng trưởng
của kinh tế Việt Nam. Nguyên nhân là do sự ưu tiên phát triển kinh tế theo chiều rộng và
hiệu quả đầu tư khá thấp của khu vực kinh tế nhà nước so với khu vực tư nhân và vốn đầu
tư nước ngoài. Chúng tôi kì vọng trong thời gian tới, chính sách định hướng phát triển
kinh tế sẽ có thay đổi theo hướng tập trung vào chiều sâu và có hiệu quả hơn.
1.3 Nợ công
Theo báo cáo mới nhất của Bộ trưởng Bộ Tài chính trong phiên họp với Uỷ ban thường
vụ quốc hội, tính đến 31/12/2009 tổng số dư nợ công bằng 52,6%GDP – cao hơn rất
hàng hoá trong dân cư thường tăng lên vào dịp cuối năm;
(3) Nhiều công trình, dự án tiếp tục đẩy nhanh tiến độ giải ngân để hoàn thành kế hoạch
năm.Trong khi đó,giá nhóm hàng nhà ở và vật liệu xây dựng đã tăng 9,82% kể từ đầu
năm đến nay, trung bình mỗi tháng tăng 1,05% - 1.1%. Việc điều tiết giá cả các mặt hàng
nhóm này tương đối khó khăn do nó phụ thuộc vào giá cả trên thị trường thế giới.
(4) Tỷ giá giữa VNĐ và USD được điều chỉnh tăng, ảnh hưởng đến giá hàng nhập khẩu
làm tăng chi phí đầu vào trong sản xuất hàng hoá.Từ đầu năm đến nay, NHNN đã 2 lần
điều chỉnh tỷ giá bình quân liên ngân hàng nhằm bình ổn thị trường ngoại hối. Tuy nhiên,
trước tình hình nhập siêu, thâm hụt ngân sách nhà nước, lạm phát cuối tháng 9/2010, tỷ
giá VND/USD giao dịch trên thị trường tự do có lúc lên 19.700, cảnh báo về áp lực mới
có thể diễn ra trên thị trường ngoại hối
(5) Nguy cơ thiên tai, dịch bệnh trên cây trồng và vật nuôi còn tiềm ẩn, nếu xảy ra trên
quy mô lớn cũng sẽ tác động đến nguồn cung lương thực và thực phẩm phục vụ nhu cầu
tiêu dùng, đây là nhóm hàng hoá chiếm tỷ trọng lớn trong tiêu dùng của dân cư.
Diễn biến CPI
(Nguồn: NHNN và tổng hợp của Ocean Securities)
Dự báo CPI năm 2010 có thể được kiểm soát
quanh mức 8.7% đến 9%. Đây thực sự không
phải là tín hiệu khả quan vì mức này cao hơn rất
nhiều so với hầu hết các nền kinh tế khác. Mặc
dù vậy, mức tăng này có thể chấp nhận được
trong bối cảnh của nền kinh tế Việt Nam hiện
nay và nằm trong kỳ vọng của nhiều người
1.5 Lãi suất
So với những tháng đầu năm, lãi suất trên thị trường hiện nay đã giảm nhiều. Việc NHNN
cho phép các ngân hàng được huy động và cho vay với lãi suất thỏa thuận đã tạo ra những
hiệu ứng tích cực, khi không xuất hiện một cuộc đua lãi suất nào và thực tế lãi suất đã
giảm mạnh so với trước đó. Ngoài ra, thị trường tài chính đã được vận hành một cách
minh bạch và linh hoạt hơn.
Trong 6 tháng đầu năm 2010, tăng trưởng tín dụng ở mức khá thấp (6 tháng 10.5%) và
Chính phủ. Với việc ”room” tín dụng còn lại cho 3 tháng chỉ là 4.6%, lãi suất trên thị
trường trong thời gian tới rất khó để tiếp tục giảm xuống mạnh mẽ. Ngoài ra, hệ thống
ngân hàng cũng phải chịu một loạt sức ép như việc tăng vốn, quy định tại Thông tư 13,
chi phí từ trích lập dự phòng. Những sức ép đó cũng làm cho mục tiêu giảm lãi suất càng
thêm khó thực hiện.
Những biện pháp hành chính trong điều hành lãi suất dường như không mang lại hiệu quả
thực tế. Trong khi đó các giải pháp có tính chất thị trường như việc tiếp tục bơm tiền để
kích thích tăng trưởng tín dụng không còn nhiều không gian để áp dụng, khi mà sức ép về
lạm phát đang khá lớn. Như vậy, khả năng lãi suất tiếp tục giảm mạnh là khó xảy ra.
Chúng tôi cho rằng lãi suất có thể giảm thêm với điều kiện là lạm phát được không chế ở
mức dưới 7% trong năm 2011. Về dài hạn để lãi suất vừa thấp mà không nhiều sức ép lên
lạm phát chỉ có con đường tái cấu trúc nền kinh tế để tăng hiệu quả đầu tư.
1.6 Xuất nhập khẩu và thâm hụt thương mại
Xuất khẩu tiếp tục đà tăng trưởng. Kim ngạch xuất khẩu tháng 9/2010 ước tính đạt 6.1 tỷ
USD, giảm hơn 10% so với tháng trước nhưng lại chủ yếu là do sự chênh lệch từ xuất
khẩu vàng. Tính chung trong 9 tháng xuất khẩu đạt 51.5 tỷ đồng, tăng 23.2% so với cùng
kỳ, vượt xa mục tiêu 10% của năm nay.
Trong các mặt hàng xuất khẩu thì nhóm hàng Dệt may, Giày dép, Đồ gỗ, Thủy sản vẫn là
nhóm đứng đầu và đạt được sự tăng trưởng ấn tượng. Trong khi đó, dù kim ngạch xuất
khẩu dầu thô khá lớn nhưng đã giảm nhiều so với năm trước do phải dành một phần dầu
thô cho Nhà máy Lọc dầu Dung Quất. Động lực cho tăng trưởng xuất khẩu trong những
tháng vừa qua có sự đóng góp khá quan trọng của doanh nghiệp khu vực FDI.
Nhập khẩu tăng chủ yếu từ khu vực doanh nghiệp FDI. Kim ngạch xuất khẩu tháng
9/2010 đạt 7.15 tỷ USD, giảm nhẹ so với tháng trước nhưng đã tăng gần 10% so với cùng
kỳ năm 2009. Trong 9 tháng đầu năm, nhập khẩu đạt 60.08 tỷ USD, tăng 22.7%. Trong
các mặt hàng nhập khẩu, máy móc, thiết bị vẫn đứng đầu tiếp đến là xăng dầu, sắt thép,
vải Các doanh nghiệp FDI đứng đầu trong tăng trưởng nhập khẩu với mức tăng 42.4%,
khu vực trong nước chỉ tăng được 11.2%. Nhập khẩu từ Trung Quốc đạt 12.5 tỷ USD
(bằng 1/5 tổng kim ngạch nhập khẩu).
Nhập siêu thấp nhờ xuất khẩu vàng. Với số liệu về xuất nhập khẩu trên, nhập siêu hàng
Trong khi đó, cán cân tài khoản vốn trong năm nay gồm vốn đầu tư trực tiếp (FDI), vốn
đầu tư gián tiếp (FPI), vốn vay (ODA, vay thương mại của Chính phủ và doanh nghiệp)
lại thường chịu sức ép bởi tình hình kinh tế toàn cầu.
Theo số liệu của IMF, dự trữ ngoại tệ tính đến cuối tháng 6/2010 của Việt Nam chỉ còn
13.9 tỷ USD, tức là giảm 10 tỷ USD so với mức đỉnh điểm của dự trữ ngoại hối vào năm
2008. Tuy nhiên, theo số liệu của WB thì năm 2009 khoản mục sai số trong bảng tính cán
cân thanh toán quốc tế của Việt Nam đến 9.4 tỷ USD. Nếu loại trừ các khoản sai số này
thì thặng dự cán cân thanh toán quốc tế lên tới 2.7 tỷ USD. Nhiều người cho rằng nó chủ
yếu nằm dưới dạng dự trữ của người dân và một phần ngoại tệ thất thoát bất hợp pháp ra
bên ngoài.
Vào trung tuần tháng 7 vừa qua, NHNN công bố báo cáo trong đó khẳng định tổng cán
cân tài khoản vãng lai và tài khoản vốn của Việt Nam vẫn thặng dư 3.4 tỷ USD. Tuy
nhiên, trong báo cáo trình Quốc hội mới đây thì dự trữ ngoại tệ hiện tại của Việt Nam còn
khoảng 13.9 tỷ USD, giảm mạnh so với hồi đầu năm. Như vậy, có thể thấy khoản mục sai
số trong tính toán cán cân thanh toán tiếp tục bị âm ở mức khá lớn. Điều này đồng nghĩa
với một lượng ngoại tệ khá lớn có thể đang trôi nổi trong nền kinh tế hoặc được chuyển ra
nước ngoài mà không được thống kê.
Qua những phân tích trên chúng tôi cho rằng, áp lực về tăng tỷ giá tiếp tục ở mức khá cao
trong thời gian tới. Nguyên nhân quan trọng xuất phát từ sự đô la hóa của nền kinh tế và
tâm lý tích trữ ngoại tệ của người dân và doanh nghiệp. Sự mất cân đối cung cầu ngoại tệ
trong nước khiến nhu cầu tích trữ USD tăng lên, làm tăng khoản mục sai số dẫn đến mất
cân đối cán cân thanh toán tổng thể. Trong khi đó, tổng cán cân tài khoản vãng lai và tài
khoản vốn vẫn dương.
Theo ước tính của chúng tôi, tổng cán cân thành toán và cán cân tài khoản vãng lai năm
2010 vẫn dương 4 tỷ USD. Điều này cho thấy có thể có một lượng ngoại tệ khá lớn đang
được ”cất giữ” trong nền kinh tế. Ngoài ra, tỷ giá hối đoái thực của VND cũng không
còn quá cao sau khi đã mất giá khá mạnh so với các đồng tiền khác. Do đó, chúng tôi cho
rằng rất có thể sẽ không có thêm việc nới rộng tỷ giá trong năm 2010, dù điều này có thể
diễn ra vào đầu năm 2011.
1.8 Thâm hụt ngân sách
tổng số vốn giải ngân đạt 8.05 tỷ USD, tăng 4,8% so với cùng kỳ năm 2009. Như đã đề
cập trong bản tin tháng trước, chúng tôi vẫn chưa tìm được số liệu thống kê cho con số
thực tế bao nhiêu là giải ngân từ nước ngoài (chủ đầu tư) và bao nhiêu là huy động từ
nguồn vay trong nước để từ đó có thể tính toán thiếu hụt trong giải ngân FDI sẽ gây áp
lực như thế nào đến cán cân thanh toán tổng thể.
Nguồn: GSO và Tổng hợp của Sacombank Securities
2. Môi trường pháp lý
Cải cách thủ tục hành chính đạt được những bước tiến mới với việc Chính phủ công bố cơ
sở dữ liệu quốc gia về thủ tục hành chính trên mạng internet.Các Bộ, ngành, tỉnh, thành
phố đã công khai bộ thủ tục hành chính của Bộ, ngành, địa phương mình.Đề án 30 với
nội dung cắt giảm 30% quy định hiện hành về thủ tục hành chính được triển khai đã giúp
đơn giản hóa các thủ tục hành chính phát sinh trong quan hệ giữa cơ quan hành chính nhà
nước với người dân và doanh nghiệp, Mô hình một cửa, một cửa liên thông, ứng dụng
công nghệ thông tin và tiêu chuẩn ISO trong giải quyết thủ tục hành chính đang được tích
cực triển khai tại các cơ quan hành chính nhà nước. Các cuộc họp, đối thoại trực tuyến đã
góp phần nắm bắt nhanh tình hình, tháo gỡ kịp thời hơn các vướng mắc và tiết kiệm chi
phí. Chức năng, nhiệm vụ và cơ cấu tổ chức của các cơ quan, đơn vị thuộc Bộ, cơ quan
chuyên môn cấp tỉnh, huyện tiếp tục được rà soát, kiện toàn.
Việt Nam đã thực hiện đồng bộ nhiều giải pháp để phòng chống tham nhũng và đạt được
những kết quả thiết thực trên cả 2 mặt phòng và chống. Các hoạt động thanh tra, kiểm tra
và điều tra, xử lý các vụ tham nhũng được thực hiện theo đúng quy định của pháp luật.
Chính quyền các cấp giải quyết được khoảng 84% các vụ việc khiếu nại, tố cáo của công
dân, trong đó có những vụ việc phức tạp, tồn đọng kéo dài. Việc thực hành tiết kiệm,
chống lãng phí được triển khai tích cực gắn với cuộc vận động học tập và làm theo tấm
gương đạo đức của Chủ tịch Hồ Chí Minh
Trong tương lai,Việt Nam tiếp tục xây dựng và tổ chức thực hiện tốt hệ thống pháp luật,
các cơ chế, chính sách để thúc đẩy hình thành nhanh và đồng bộ thể chế kinh tế thị
trường; hoàn thiện hệ thống pháp luật về cạnh tranh, tạo lập môi trường cạnh tranh bình
đẳng giữa các thành phần kinh tế.
3.Môi trường chính trị
Dân số
Theo kết quả của cuộc tổng điều tra dân số quốc gia năm 2009 thì dân số Việt Nam có
85.846.997 người.Trong đó nam giới có 42.413.143 người, chiếm 49,4%. Tính từ cuộc
Tổng điều tra trước đó, số dân Việt Nam tăng thêm 9.523 nghìn người (bình quân mỗi
năm tăng 952 nghìn người).
Theo đánh giá của Tổng cục Thống kê, cơ cấu dân số theo tuổi của Việt Nam thay đổi
theo hướng tích cực. Sau 10 năm, tỷ trọng dân số dưới 15 tuổi giảm từ 33,1% (năm
1999) xuống còn 24,5%. Ngược lại, tỷ trọng dân số nhóm tuổi 15 - 64 (là nhóm tuổi chủ
lực của lực lượng lao động) tăng từ 61,1% lên 69,1% và nhóm dân số từ 65 tuổi trở lên
tăng từ 5,8% lên 6,4%.
Cơ quan này cho rằng, đây là thời kỳ dân số nước ta có ưu thế về lực lượng lao động, còn
được gọi là thời kỳ của “cơ cấu dân số vàng”. Thời kỳ “vàng” bắt đầu từ năm 2003 và có
thể kéo dài từ 30 đến 50 năm. Điều này được đánh giá là lợi thế rất lớn đối với sự nghiệp
công nghiệp hoá và hiện đại hoá đất nước, nếu tận dụng được tính ưu việt về lực lượng
lao động
Lao động và việc làm
Theo kết quả tổng hợp về tình hình lao động việc làm 9 tháng năm 2010 của Tổng cục
Thống kê,hiện cả nước có 77,3% người từ 15 tuổi trở lên tham gia lực lượng lao động,
trong đó khu vực thành thị là 69,4%; khu vực nông thôn 80,8%.
Tỷ trọng lao động từ 15 tuổi trở lên đã qua đào tạo chuyên môn kỹ thuật là 14,6%, chủ
yếu là ở khu vực thành thị, chiếm khoảng 30%; khu vực nông thôn chỉ 8,6%.
Tổng hợp tình hình kinh tế xã hội trong 9 tháng năm 2010 của cơ quan này cũng cho thấy,
tỷ lệ thiếu việc làm của lao động trong độ tuổi hiện là 4,31%, trong đó khu vực thành thị
là 1,95%; khu vực nông thôn là 5,24%. Tỷ lệ lao động nữ thiếu việc làm cao hơn lao động
nam.
Trong khi đó, theo một báo cáo mới đây của Bộ Kế hoạch và Đầu tư, cả nước đã giải
quyết được gần 1,2 triệu việc làm trong 9 tháng đầu năm, song tỷ lệ thất nghiệp của lao
động trong độ tuổi vẫn ở mức khá cao.
Cụ thể, trong tháng 9, cả nước ước giải quyết việc làm cho khoảng 141.500 người, trong
đó xuất khẩu lao động ước đạt trên 6.500 người.
1.1.1 Tầm quan trọng của ngành thép
Sự ra đời của kim loại thép đã góp phần lớn vào quá trình phát triển của loài người.
Kể từ khi công nghệ luyện thép đạt đến tầm cao mới là lúc kết cấu của thép trở nên
vững chắc hơn, thép đã xuất hiện ngày càng nhiều trong các công trình xây dựng cầu
đường, nhà cửa và dần thay thế các nguyên liệu xây dựng khác như đá và gỗ bởi đặc tính
vững chắc và dễ tạo hình của thép. Hơn nữa, thép cũng là nguyên vật liệu chính cho
các ngành công nghiệp khác như đóng tàu, phương tiện vận chuyển, xây dựng nhà máy
và sản xuất máy móc thiết bị phục vụ hoạt động sản xuất tạo ra sản phẩm phục vụ đời
sống con người.
Nhận biết được tầm quan trọng của ngành thép, hầu hết các quốc gia đã
dành nhiều chính sách ưu đãi để phát triển ngành thép. Bởi thép được coi là nguyên vật
liệu lõi cho các ngành công nghiệp khác. Với mục tiêu đưa đất nước trở thành nước công
nghiệp hóa, hiện đại hóa. Việt Nam đã coi ngành sản xuất thép là ngành công nghiệp trụ
cột của nền kinh tế, đáp ứng tối đa nhu cầu về các sản phẩm thép của các ngành
công nghiệp khác và tăng cường xuất khẩu. Bên cạnh đó, Chính phủ dành nhiều
chính sách khuyến khích các thành phần kinh tế khác đầu tư vào ngành thép nhằm tận
dụng tối đa nguồn vốn và nhân lực còn rỗi của các ngành, thúc đẩy phát triển kinh tế, đảm
bảo công ăn việc làm cho người lao động.
1.1.2 Ngành thép thế giới
Trong 5 tháng đầu năm 2009, tổng sản lượng thép thô sản xuất trên thế giới đạt
447,8 triệu tấn, giảm 22,6% so với cùng kỳ năm 2008; trong đó, Trung Quốc vẫn đóng
vai trò quan trọng nhất trong ngành công nghiệp thép thế giới. Tổng sản lượng thép
thô Trung Quốc sản xuất trong 5 tháng đầu năm nay đạt 216,6 triệu tấn, tăng 0,4% so với
cùng kỳ và chiếm đến 48,4% tổng sản lượng toàn cầu. Trái với xu hướng giảm giá và nhu
cầu tiêu thụ khá thấp trong quý 1, thị trường thép thế giới bắt đầu khởi sắc từ cuối tháng
04-2009. Hiện nay giá phôi thép trên thị trường thế giới đạt 450 USD/tấn, tăng 15,4%
so với mức 390 USD/tấn trung bình trong quý 1. Nhìn chung, giá thép ở hầu hết các nước
trên thế giới thời gian qua đều theo xu hướng tăng, do nhu cầu tiêu thụ bắt đầu được cải
thiện phần nào, đặc biệt trong lĩnh vực xây dựng và sản xuất ôtô. Bên cạnh đó, giá các
nguyên liệu đầu vào như thép phế, quặng sắt, dầu và than cốc cũng tăng lại trong thời
trong nước nên Việt Nam chọn phương án nhập khẩu thép để đáp ứng cho nhu cầu trong
nước, vì vậy mà ngành thép không phát triển. Sản lượng chỉ duy trì ở mức 40.000 –
85.000 tấn/năm. Do thực hiện chủ trương đổi mới kinh tế và chính sách mở cửa của
Chính phủ, thời kỳ 1989 – 1995, ngành thép bắt đầu có bước tăng trưởng đáng kể, sản
lượng thép sản xuất trong nước vượt ngưỡng 100.000 tấn/năm. Đánh dấu sự phát triển
vượt bậc của ngành thép Việt Nam là sự ra đời của Tổng công ty Thép Việt Nam vào
năm 1990. Tổng công ty được thành lập với mục đính thống nhất quản lý ngành thép quốc
doanh trong cả nước. Thời kỳ này, ngành thép Việt Nam như được thay da đổi thịt, xuất
hiện nhiều dự án đầu tư theo chiều sâu và liên doanh với đối tác nước ngoài được thực
hiện. Ngành thép Việt Nam cũng thu hút được sự quan tâm từ các ngành trọng điểm khác
của nền kinh tế như ngành cơ khí, xây dựng, quốc phòng… tham gia đầu tư dự án nhỏ sản
xuất thép để phục vụ sự phát triển của chính ngành mình. Sản lượng thép cán của ngành
Thép năm 1995 đạt 450.000 tấn/năm, tương đương tăng gấp 4 lần so với năm 1990.
Theo mô hình Tổng công ty 91, tháng 4/1995, Tổng công ty Thép Việt Nam được
thành lập trên cơ sở hợp nhất giữa Tổng công ty Thép Việt Nam và Tổng công ty kim
khí.
Giai đoạn 1996 – 2000, ngành thép Việt Nam tăng trưởng với tốc độ cao và có
nhiều dự án đầu tư mới theo chiều sâu, có thêm 13 dự án liên doanh, trong đó có 12
nhà máy liên doanh cán thép và gia công chế biến sau cán. Năm 2000, ngành Thép
đạt sản lượng 1,57 triệu tấn. Từ năm 2000 trở đi, do tác động của chính sách mở cửa
và hội nhập nền kinh tế, Việt Nam trở thành một trong những địa chỉ tiềm năng thu
hút nhiều dự án đầu tư từ phía đối tác nước ngoài. Theo đó, nhu cầu về thép xây
dựng cũng như thép dung trong các ngành công nghiệp khác tăng. Các doanh nghiệp Việt
Nam có điều kiện mở rộng hoạt động sản xuất kinh doanh, đầu tư theo chiều sâu các dự
án nhằm đáp ứng tối đa cho sự phát triển kinh tế đất nước. Trong một vài năm qua,
nhu cầu thép của Việt Nam đều tăng ở mức 2 con số mỗi năm. Đáp ứng mức tăng ấy,
sản lượng sản xuất thép của các doanh nghiệp trong nước tăng mạnh theo từng năm.
Tuy nhiên, thực trạng gần đây cho thấy, ngành Thép cung vẫn chưa đủ cầu, sản
xuất thép trong nước chưa đủ để đáp ứng nhu cầu xây dựng trong nước, với ngành đóng
tàu dường như phải nhập thép nguyên liệu hoàn toàn do trình độ kỹ thuật trong nước
được và phải nhập khẩu từ nước ngoài. Đóng góp phần lớn vào sự phát triển ngành
Thép Việt Nam phần nhiều do công sức đóng góp của doanh nghiệp ngoài nhà nước
như Hòa Phát, Thép Việt Ý, Thép Đình Vũ…. Các doanh nghiệp này phải tự bươn chải
tìm hướng ra trong điều kiện nguồn phôi thép phải nhập khẩu phần lớn, giá thành phụ
thuộc vào sự biến động của giá phôi thép thế giới. Hạn chế sự phụ thuộc vào phôi
thép thế giới, các doanh nghiệp Việt Nam dùng tới biện pháp là nhập phế liệu từ
nước ngoài về và sử dụng phế liệu cũ để tạo phôi thép. Chính vì vậy mà công nghệ cán
có trước công nghệ luyện. Đây là hướng đi tích cực trong khi nhà nước chưa có
nhiều chính sách ưu đãi thúc đẩy công nghệ sản xuất phôi thép. Ngành thép Việt
Nam vẫn ở tình trạng phân tán, thiếu bền vững. Sản phẩm các doanh nghiệp làm ra dùng
để tiêu thụ trong nước, các doanh nghiệp đã không hợp tác với nhau để cùng phát triển,
có hiện tượng cạnh tranh không lành mạnh khiến Thép lậu giá rẻ tràn vào chiếm
thị phần của Thép Việt.
Quy hoạch phát triển ngành Thép giai đoạn 2007 – 2015 có xét đến năm 2025 được
Thủ tướng Chính phủ phê duyệt, Việt Nam đặt ra mục tiêu sản xuất 15 – 18 triệu tấn. Từ
năm 2007 đến nay đã có nhiều dự án của nước ngoài đầu tư vào ngành Thép Việt
Nam, đã có một số dự án liên hợp thép được cấp phép đầu tư vào Việt Nam trong
đó có 2 dự án đã khởi công như Nhà máy liên hợp Thép Formasa-Sunco tại Vũng Áng
(Hà Tĩnh) công suất 15 triệu tấn/năm, và Tycoon-E.United tại Dung Quất (Quảng
Ngãi) vốn đầu tư trê 3 tỷ USD, công suất giai đoạn 1 là 3 triệu tấn/năm. Như vậy chỉ
tính sơ qua 2 dự án này đã có thể đáp ứng được toàn bộ mục tiêu sản lượng của
ngành Thép Việt Nam theo quy hoạch phát triển 2007 – 2015. Trong khi đó, còn
nhiều dự án do phía Việt Nam lập ra và nhà đầu tư nước ngoài đầu tư vào cùng với
các nhà máy sản xuất đã hoạt động. Tình trạng dư thừa thép tại thị trường Việt Nam
là điều không thể tránh khỏi, lo ngại về tác động xấu đến môi trường từ các dự án
ngành Thép hình thành.Do kinh tế thế giới và thị trường bất động sản chững
lại, mặt khác do sức tiêu thụ thép trong nước thời gian gần đây giảm, giá thép xây
dựng giảm khiến nhiều doanh nghiệp sản xuất phôi thép và thép gặp rất nhiều khó
khăn trong tiêu thụ sản phẩm.Phôi thép và thép thành phẩm tồn kho nhiều, các doanh
nghiệp
trong nước còn hạn chế, ngành Thép Việt Nam mới chỉ tập trung vào đầu tư sản xuất các
sản phẩm Thép dài để đáp ứng nhu cầu cấp bách trong nước.
1.2.3 Nguyên vật liệu
Để có thể duy trì hoạt động sản xuất kinh doanh và đáp ứng nhu cầu tiêu thụ
Thép trong nước, ngành Thép Việt Nam hiện tại phải nhập 60% phôi thép từ nước
ngoài, 40% là do trong nước tự chủ động được. Việt Nam được coi là nước có
thuận lợi hơn so với một số nước trong khối ASEAN khi có nguồn quặng sắt, trữ
lượng than
antraxit lớn. Tuy nhiên, do cơ chế chính sách ưu đãi thúc đẩy xây dựng nhà máy
phôi còn hạn chế và do vốn đầu tư xây dựng nhà máy luyện phôi luôn cao hơn
nhiều lần so với cán thép. Các doanh nghiệp chọn giải pháp dùng phế liệu trong
nước và cộng với nhập phế liệu từ nước ngoài về. Có hai doanh nghiệp nhà nước
được giao trách nhiệm luyện phôi là Gang thép Thái Nguyên và Thép Miền Nam,
gần đây có Tập đoàn Hòa Phát đầu tư nhà máy luyện phôi. 60% phôi cung cấp cho quá
trình sản xuất phải nhập khẩu từ nước ngoài. Các doanh nghiệp không thể chủ động
được nguồn nguyên vật liệu, khi giá phôi thế giới biến động nhiều, doanh nghiệp sẽ gặp
khó
khăn.
1.3 TÁC ĐỘNG NGÀNH
1.3.1 Phân tích các nhân tố ảnh hưởng
* Nhân tố chính trị
- Việt Nam có nền an ninh, chính trị ổn định. Các doanh nghiệp hoạt động trên
lãnh thổ Việt Nam không phải chịu rủi ro từ sự bất ổn về an ninh, chính trị;
- Các nước thường có chính sách bảo hộ cho ngành Thép trong nước mặc dù đã
tham gia WTO. Thời gian tới khi chính sách bảo hộ được chính phủ Việt Nam được xem
xét và đưa vào áp dụng, doanh nghiệp ngành Thép Việt Nam sẽ có thêm lợi thế cạnh
tranh trên sân nhà. Tuy nhiên, lợi thế cạnh tranh mạnh hay yếu lại tùy thuộc vào
cách thức xây dựng chính sách bảo hộ của chính phủ Việt Nam
- Luật doanh nghiệp có hiệu lực năm 2005 tạo sự công bằng trong môi trường
kinh doanh giữa các thành phần kinh tế, thúc đẩy sự phát triển chung của các ngành công
- Kết cấu dân số trẻ, tốc độ tăng trưởng nhanh dẫn đến nhu cầu xây dựng nhà ở
lớn;
- Tốc độ đô thị hóa cao do nền kinh tế Việt Nam nhận đượcnhiều dự án đầu tư do
vậy dẫn đến tăng cầu về xây dựng đô thị, nhà xưởng
Nhân tố công nghệ
- Đa dạng hóa kênh truyền thông tin đại chúng như đài tiếng nói, truyền hình giúp
các doanh nghiệp ngành Thép có thêm nhiều kênh để quảng bá hình ảnh của mình
- Tự động hóa trong lĩnh vực sản xuất ngày càng được các doanh nghiệp
ngành Thép quan tâm. Với tự động hóa trong sản xuất, sản phẩm làm ra có chất lượng
tốt hơn, ít hao tốn nguyên vật liệu và tiết kiệm chi phí nhân công thừa
1.3.2 .Mô hình PORTER
Đối thủ tiềm ẩn
- Dự án ngành Thép đòi hỏi lượng vốn lớn đầu tư cho công nghệ
- Chính phủ xem xét dành nhiều ưu đãi cho DN tham gia luyện phôi. Khả năng
khan hiếm phôi trong nước dần đựoc tháo bỏ
- DN mới dễ dàng tiếp cận nguồn phôi thép từ phía đối tác nước ngoài
- Nhu cầu ngành Thép là khó dự đoán, phụ thuộc vào sức khỏe nền kinh tế. Khi kinh
tế đi xuống, tình trạng dư thừa thép xảy ra.
- Hiện tại ngành Thép Việt Nam có sự tham gia của nhiều NĐT nước ngoài với
công suất hiện đại, vốn lớn. Tình trạng dư thừa thép cao
Nhà cung cấp
- Có rất nhiều nhà cung cấp phôi thép, các nhà cung cấp nước ngoài khó có kết
hợp để nâng giá bán phôi thép cho doanh nghiệp Việt Nam
- Nguyên liệu đầu vào cho quá trình sản xuất khác như than đá, xăng dầu đang
trong tình trạng khan hiếm và giá cả tăng nhanh
Khách hàng
- Mức độ tập trung của khách hàng không cao. Các đại lý phân phối dễ làm giá
trong trường hợp xảy ra tình trạng khan hiếm thép
- Chi phí để khách hàng chuyển đổi thấp
- Sản phẩm ngành Thép đóng vai trò thiết yếu đối với sự pháttriển ngành