Bài tập lớn: Quản trị danh mục đầu tư 1
Trường Đại học Kinh tế
Đại học Đà Nẵng
QUẢN TRỊ DANH MỤC ĐẦU TƯ
Giáo viên hướng dẫn : Th.s Đặng Hữu Mẫn
Nhóm thực hiện : Nhóm 34K07.2
Các thành viên :
1. Nguyễn Thị Hồng Xuân
2. Dương Thị Ngọc Sáu
3. Nguyễn Thị Thanh Huyền
4. Ngô Thị Lành
5.Trần Thị Thảo
6. Đặng Thị Ngọc Nin
GVHD: Ths.Đặng Hữu Mẫn NSVTH: Nhóm – 34K07.2
Bài tập lớn: Quản trị danh mục đầu tư 2
MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU ........................................................................................................ 4
Chương 1: PHÂN TÍCH VĨ MÔ.................................................................................4
Chương 2: PHÂN TÍCH NGÀNH............................................................................24
Chương 3: PHÂN TÍCH CÔNG TY.........................................................................38
Chương 4: PHẦN TÍNH TOÁN...............................................................................58
Chương 5: ĐƯỜNG BIÊN HIỆU QUẢ....................................................................60
Chương 6: ÁP DỤNG THỰC TẾ.............................................................................61
Chương 7: KẾT LUẬN..............................................................................................66
PHỤ LỤC.................................................................................................................. 69
GVHD: Ths.Đặng Hữu Mẫn NSVTH: Nhóm – 34K07.2
Bài tập lớn: Quản trị danh mục đầu tư 3
LỜI MỞ ĐẦU
Kể từ khi Việt Nam tiến hành đường lối đổi mới kinh tế vào năm 1986, sau hơn 20
Bài tập lớn: Quản trị danh mục đầu tư 4
Chương 1: PHÂN TÍCH VĨ MÔ
1.1 Phân tích vĩ mô thế giới
1.1.1 Kinh tế thế giới sau khủng hoảng
Nền kinh tế thế giới đã trải qua cuộc khủng hoảng tồi tệ nhất trong lịch sử. Khủng
hoảng tài chính bùng phát tại Mỹ và lan rộng toàn cầu, kéo theo sự sụp đổ đồng loạt các
định chế tài chính khổng lồ. Thị trường chứng khoán khuynh đảo. Kinh tế thế giới suy
thoái. Thị trường hàng hoá biến động khôn lường. Dưới đây là một số thống kê của WB
về các chỉ số kinh tế chính của thế giới trong ba năm 2007, 2008, 2009.
Bảng 1 : Thống kê một số chỉ số kinh tế chính của WB
Thương mại thế giới
Kim ngạch thương mại của hầu hết các quốc gia trên thế giới đều sút giảm mạnh.
Theo thống kê của Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO), tính hết Q3/2009 thương mại
hàng hóa thế giới theo giá hiện hành vẫn giảm 26.4% so với cùng kỳ năm trước (tính
theo năm). Tại Mỹ, xuất khẩu giảm 21.5%, nhập khẩu giảm 29.1%. Trong khi đó, xuất
khẩu Nhật Bản giảm 24.4%, nhập khẩu giảm 30.6%. Xuất khẩu của Trung Quốc giảm
20.5%, nhập khẩu giảm 11.8%. Kim ngạch thương mại ở các quốc gia phát triển cũng
giảm mạnh.
Kim ngạch thương mại thế giới giảm mạnh phần lớn đều do sự giảm giá của các
hàng hóa, đặc biệt là các mặt hàng nhiên, nguyên vật liệu như dầu thô, sắt thép… Theo
ước tính của WB, nếu loại trừ yếu tố giá thì kim ngạch thương mại năm 2009 chỉ sụt
giảm 2.1%, trong khi kim ngạch thương mại các nước đang phát triển tăng trưởng 2.1%.
GVHD: Ths.Đặng Hữu Mẫn NSVTH: Nhóm – 34K07.2
Bài tập lớn: Quản trị danh mục đầu tư 5
Tuy nhiên, có một tín hiệu lạc quan là thương mại thế giới đang có chiều hướng
tăng lên khá mạnh, nhập khẩu tháng sau thường cao hơn tháng trước. Ngoài sức cầu
đang tăng trở lại, thương mại thế giới còn được hưởng lợi từ sự tăng giá của nhiều hàng
hóa. Tuy vậy, lo ngại lại đến từ việc các quốc gia dường như đang tăng cường hơn các
chính sách bảo hộ để bảo vệ hàng hóa trong nước. Những vụ kiện thương mại và các
tăng gấp đôi lên trên mức 70 USD/thùng.
Giá cao su cũng tăng lên khá mạnh sau khi đạt mức đáy vào tháng 12/ 2008. Tính
từ mức đáy cho đến nay giá cao su đã tăng hơn gấp 2 lần và hiện đang dao động quanh
mức 1.3 USD/pound. Giá các mặt hàng nông sản, đường, cà phê, ngô và các kim loại
cũng tăng lên khá mạnh.
1.1.2 Kinh tế thế giới năm 2010
Tăng trưởng kinh tế
Theo ước tính của IMF, trong quý I/2010, tốc độ tăng trưởng kinh tế toàn cầu đạt
4,3%, cao hơn mức kỳ vọng và gần sát mức đỉnh điểm 5% trước khủng hoảng; tuy
nhiên, khả năng tăng trưởng có thể yếu dần vào giai đoạn nửa sau của năm 2010, phụ
thuộc mức độ phục hồi của khu vực tư nhân, sự ổn định của khu vực tài chính, đặc biệt
là khu vực đồng Euro. Dự báo cả năm 2010, kinh tế toàn cầu tăng trưởng 4,25%, cao
hơn nhiều so với mức -0,6% của năm 2009.
Tốc độ tăng trưởng kinh tế không đồng đều giữa các khu vực, trong đó các nền
kinh tế đang phát triển và mới nổi đạt tốc độ tăng trưởng mạnh nhất là 7,6% trong Quý
GVHD: Ths.Đặng Hữu Mẫn NSVTH: Nhóm – 34K07.2
Bài tập lớn: Quản trị danh mục đầu tư 7
I/2010, riêng Trung Quốc đạt tốc độ tăng trưởng tới 11,9%. Đối với các nước phát triển,
Mỹ đang có tốc độ phục hồi nhanh hơn so với khu vực Châu Âu và Nhật Bản, mặc dù
cuộc khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế toàn cầu từ cuối năm 2008 bắt nguồn từ
Mỹ.
Lạm phát và thất nghiệp
Lạm phát toàn cầu trong nửa đầu năm 2010 tăng so với năm 2009 những vẫn duy
trì ở mức thấp và trong tầm kiểm soát. Cùng với việc tăng trưởng kinh tế mạnh hơn thì
lạm phát tại các nước đang phát triển và mới nổi cũng tăng nhanh hơn so với các nước
phát triển do ảnh hưởng của các biện pháp mở rộng cung tiền mạnh mẽ tại các nước này
trong năm 2009 (tỷ lệ lạm phát tháng 4/2010 tại Trung Quốc là 2,8% so với cùng kỳ
năm 2009, trong đó tại Mỹ là 2,2% và Khu vực Châu Âu là 1,5%). Riêng Nhật Bản vẫn
tiếp tục rơi vào tình trạng giảm phát (-1,2%). Trong 4 tháng đầu năm, tỷ lệ thất nghiệp
tăng ở nhiều quốc gia, trong đó tỷ lệ tại Mỹ là 9,9%, khu vực Châu Âu là 10,1% và Nhật
Trong 6 tháng đầu năm 2010, đồng USD tăng giá mạnh so với đồng Euro, GDP và
AUD trong khi lại giảm giá đối với hầu hết các đồng tiền chủ chốt Châu Á. Nguyên
nhân chính của việc đồng USD tăng giá mạnh so với đồng Euro, GDP và AUD là do
cuộc khủng hoảng nợ tại Hy Lạp, Bồ Đào Nha gây ra. Trong khi, tình trạng thâm hụt
ngân sách và thâm hụt thương mại tăng cao tại Mỹ trong quý I/2010 đã khiến đồng USD
giảm giá so với các đồng tiền Châu Á – khu vực có tốc độ tăng trưởng kinh tế mạnh.
Tính đến ngày 31/5/2010, đồng USD tăng 16,4% so với đồng EURO, tăng 11,22% so
với GDP, tăng 5,93% so với AUD và giảm 1,89% so với JYP
Diễn biến lãi suất của Ngân hàng trung ương các nước
Trong 6 tháng đầu năm 2010, NHTW của hầu hết các nước tiếp tục duy trì lãi suất
chủ chốt như cuối năm 2009 (0,25% tại Mỹ và Thuỵ Sỹ, 1% tại Châu Âu và Pháp, 0,5%
tại Anh, 0,1% tại Nhật Bản, 2% tại Hàn Quốc, 5,31% tại Trung Quốc, 1,25% tại Thái
Lan, 0,03% tại Singapore, 6,5% tại Indonesia,...), ngoại trừ NHTW Australia 3 lần tăng
lãi suất từ 3,75% lên 4,5%, NHTW Canada tăng từ 0,25% lên 0,5%, NHTW Na Uy tăng
từ 1,61% lên 1,75%.
1.1.3 Triển vọng và thách thức nền kinh tế thế giới trong những năm tới
Theo dự báo, tăng trưởng GDP toàn cầu sẽ giảm từ 4,4% năm 2010 xuống còn
3,6% năm 2011 khi các gói kích thích tài chính hết hiệu lực. Triển vọng của các thị
trường mới nổi cải thiện chút ít và các nhà đầu tư đang mua vào các tài sản có tính rủi ro
cao hơn. Điều này đang tạo ra những quan ngại về việc định giá đồng tiền có thể tạo ra
bong bóng giá tài sản và dù khả năng suy thoái kép chưa hiện hữu, song vẫn phải mất
GVHD: Ths.Đặng Hữu Mẫn NSVTH: Nhóm – 34K07.2
Bài tập lớn: Quản trị danh mục đầu tư 9
một thời gian khá dài để sự phục hồi toàn cầu tới mức an toàn. Giới phân tích cho rằng
sự phục hồi kinh tế toàn cầu có được là nhờ các gói kích thích tài chính vốn không bền
vững. Giờ đây, hiệu quả của các gói kích thích này bắt đầu mờ nhạt dần và các nền kinh
tế chủ chốt như Mỹ, Trung Quốc, Nhật Bản và khu vực đồng euro sẽ có mức tăng
trưởng chậm hơn trong năm 2011. Cụ thể :
Tại Mỹ, Thực trạng nền kinh tế Mỹ sẽ tạo ra nhiều thách thức cho tăng trưởng
toàn cầu năm 2011 với GDP của Mỹ dự kiến tăng 2,3% năm 2010, song sẽ giảm còn
nhu cầu nguyên liệu thô từ Trung Quốc. Năm 2011, tăng trưởng tại các khu vực này vẫn
duy trì ở mức 4,5%.
Từ những phân tích ở trên, ta có thể thấy kinh tế thế giới trong những năm tới sẽ
tiếp tục phục hồi tuy vẫn còn nhiều trở ngại. Tuy nhiên nhà đầu tư hoàn toàn có quyền
hi vọng về một tương lại sáng sủa của nền kinh tế, nhất là ở các quốc gia đang phát triển
như Trung Quốc hay Việt Nam bởi những quốc gia này đang có tốc độ phát triển
nhanh hơn hẳn các nước phát triển.
1.2 Phân tích vĩ mô Việt Nam
1.2.1 Phân tích các yếu tố theo mô hình PESTEL
Nhóm chúng tôi đã sử dụng mô hình PESTEL để nghiên cứu, đánh giá sự tác động
cũng như dự báo sự thay đổi của các nhân tố vĩ mô đến các ngành kinh tế. Các yếu tố
này là các yếu tố bên ngoài của của doanh nghiệp và ngành, và ngành phải chịu các tác
động của nó đem lại như một yếu tố khách quan. Các doanh nghiệp dựa trên các tác
động sẽ đưa ra những chính sách, hoạt động kinh doanh phù hợp.
1.1.1.1 Môi trường chính trị - luật pháp (Political)
Sự ổn định về chính trị
Việt Nam là một đất nước ổn định, an toàn về chính trị- xã hội và đây là một trong
những yếu tố quan trọng, góp phần làm cho các nhà đầu tư trên thế giới ngày càng
hướng sự chú ý vào Việt Nam. Sự ổn định chính trị là một trong những yếu tố không thể
thiếu, góp phần giúp Việt Nam có thể kiên trì chính sách phát triển kinh tế. Nền chính trị
ổn định tạo cho Việt Nam có được một nền hoà bình và thịnh vượng. Nếu nhìn sang một
số quốc gia trong khu vực, dễ thấy rằng, trừ Singapore, thì từ năm 1990 trở lại đây, hầu
hết các nước khu vực đều trải qua các cuộc đảo chính hay khủng hoảng chính trị. Trong
khi đó, nền chính trị của Việt Nam luôn ổn định, đây là một đảm bảo cho sự gắn kết để
thực hiện chính sách kinh tế nhất quán. Đây là một trong những điều kiện hết sức thuận
lợi cho các ngành kinh tế phát triển.
Hệ thống luật pháp
GVHD: Ths.Đặng Hữu Mẫn NSVTH: Nhóm – 34K07.2
Bài tập lớn: Quản trị danh mục đầu tư 11
Hệ thống pháp luật ngày càng phù hợp hơn với thông lệ quốc tế, chặt chẽ hơn về
hành chánh của Bộ Xây Dựng được hoàn thành trong năm nay là một bước tiến lớn,
GVHD: Ths.Đặng Hữu Mẫn NSVTH: Nhóm – 34K07.2
Bài tập lớn: Quản trị danh mục đầu tư 12
khẳng định xu thế tích cực. Các doanh nghiệp hoạt động trong ngành xây dựng và bất
động sản sẽ được hưởng lợi từ dự án này. (Nguồn: Dự án 30- Bộ Xây Dựng).
1.2.2 Môi trường kinh tế (Economics)
Hệ thống kinh tế
Kinh tế Việt Nam là nền kinh tế hỗn hợp với nhiều thành phần kinh tế. Nhà nước
đang xây dựng hệ thống kinh tế hòa nhập với hệ thống toàn cầu. Kinh tế Việt Nam là
một nền kinh tế vận hành theo cơ chế thị trường, nhiều nước và khối kinh tế bao gồm cả
một số nền kinh tế thị trường tiên tiến cũng công nhận Việt Nam là nền kinh tế thị
trường. Tuy nhiên, cho đến nay Hoa Kỳ, EU và Nhật Bản vẫn chưa công nhận kinh tế
Việt Nam là nền kinh tế thị trường. Tổ chức Thương mại Thế giới công nhận Việt Nam
là nền kinh tế đang phát triển ở trình độ thấp và đang chuyển đổi.
Mức ổn định tỉ giá hối đoái
Trong nhiều năm trở lại đây, Ngân hàng nhà nước (NHNN) kiên trì chính sách ổn
định đồng tiền Việt Nam so với đồng đô la Mỹ. Diễn biến tỷ giá trong năm 2009 là
tương đối phức tạp. Mặc dù NHNN đã điều chỉnh nâng tỷ giá liên ngân hàng và biên độ
từ + 3% lên + 5% vào tháng 4/2009, trên thị trường tự do giá ngoại tệ nhanh chóng áp
sát mức 18.300 đồng/đô la Mỹ và đến tháng 11 đã lên trên 19.000 đồng/đô la Mỹ.
Biểu đồ 2 : Diễn biến tỷ giá USD/VND 2008-2009
Biểu đồ cho thấy càng về cuối năm tỷ giá càng biến động và mất giá mạnh, thị
trường ngoại hối luôn có biểu hiện căng thẳng, đồng thời USD tín dụng thì thừa, USD
thương mại thì thiếu. Các ngân hàng không có ngoại tệ để bán cho doanh nghiệp và nếu
có bán thì mức tỷ giá cũng cao hơn mức tỷ giá trần do NHNN quy định. Những bất ổn
trên thị trường ngoại hối và tỷ giá hối đoái đã tiếp tục gây ra những khó khăn cho hoạt
GVHD: Ths.Đặng Hữu Mẫn NSVTH: Nhóm – 34K07.2
Bài tập lớn: Quản trị danh mục đầu tư 13
động xuất nhập khẩu. Hơn nữa, đồng tiền mất giá còn ảnh hưởng đến lạm phát trong
nước do giá hàng nhập khẩu tăng mạnh.
niêm yết và giao dịch cũng phần nào hạn chế tính sôi động của thị trường. Tính thanh
khoản của thị trường chưa cao, thông tin chưa thật sự minh bạch.
Những phân tích trên đây cho thấy thị trường tài chính nước ta chưa thực sự cung
cấp những yếu tố thuận lợi cho sự phát triển của các ngành kinh tế trong nước. Tuy
nhiên, trong thời gian tới với những chính sách đúng đắn trong việc ổn định kinh tế vĩ
mô của nhà nước, hi vọng thị trường tài chính sẽ có bước phát triển vượt bậc và bền
vững.
Cơ sở hạ tầng
Hiện nay, cơ sở hạ tầng của nền kinh tế nước ta còn rất nghèo nàn trong đó chi phí
thuê cơ sở vật chất cao còn ở mức cao, và đang được cải thiện.
Theo tính toán Việt Nam sẽ cần khoảng gần 140 tỷ USD để đầu tư cho lĩnh vực cơ
sở hạ tầng (viễn thông, bến cảng, sân bay, đường bộ, đường sắt, hàng không) trong 5-10
năm tới. Chính phủ sẽ huy động tối đa các nguồn lực trong và ngoài nước cũng như
đóng góp từ khu vực kinh tế tư nhân để đáp ứng nhu cầu này.
Lực lượng lao động
Lực lượng lao động Việt Nam được đánh giá là mạnh về kỹ thuật tuy nhiên lại yếu
về trình độ quản lý.
Trong những năm đổi mới vừa qua, nền kinh tế nước ta luôn duy trì tăng trưởng ở
mức cao và ổn định (7,5%/năm), một trong những nhân tố quan trọng đóng góp cho
tăng trưởng là yếu tố lao động. Theo đánh giá của tổ chức quốc tế, yếu tố lao động Việt
Nam tham gia vào tăng trưởng khoảng 20%, yếu tố vốn 57,5%, yếu tố các nhân tố tổng
hợp 22,5%. Tuy nhiên, trong yếu tố lao động, vấn đề quyết định nhất là chất lượng lao
động thông qua giáo dục đào tạo. Trình độ văn hoá (học vấn) của lao động Việt Nam
được thế giới đánh giá vào loại khá; về cơ bản Việt Nam đã phổ cập tiểu học, đang triển
khai phổ cẩp Trung học cơ sở, đến hết 2004, cả nước có 25 tỉnh, thành phố đạt chuẩn
phổ cập giáo dục THCS. Đến năm 2005, 32,36% lực lượng lao động đã tốt nghiệp
THCS và 21,21% tốt nghiệp THPT. Đào tạo nghề nghiệp cho người lao động đang tăng
nhanh. Trong 5 năm qua, số học sinh tuyển mới vào các trường Cao đẳng, Đại học, sau
Đại học, công nhân kỹ thuật tăng từ 1,321 triệu người (năm 2001) lên 1,867 triệu người
(năm 2005), tăng 41,36%, bình quân mỗi năm tăng 10,34%. Đặc biệt, dạy nghề đã có
thể khai thác.
Tăng trưởng kinh tế
Việt Nam có tốc độ tăng trưởng kinh tế cao và ổn định nhiều năm liền. Ta có thể
thấy rõ điều này thông qua biểu đồ sau:
GVHD: Ths.Đặng Hữu Mẫn NSVTH: Nhóm – 34K07.2
Bài tập lớn: Quản trị danh mục đầu tư 16
Biểu đồ 3: Tốc độ tăng trưởng kinh tế Việt Nam qua các năm
Nguồn : Tổng cục thống kê
Tuy chịu tác động tiêu cực của cuộc khủng hoảng kinh tế nhưng năm 2010, tốc độ
tăng trưởng vẫn được ADB dự báo là 6,7%. Điều này càng khẳng định một điều rằng
kinh tế Việt Nam đang trên đà tăng trưởng ổn định, và điều này sẽ giúp nhiều doanh
nghiệp có thêm tự tin để triển khai các dự án đầu tư mới và mở rộng sản xuất trong năm
nay và các năm sắp tới.
Lạm phát
Nếu như năm 2008 là năm chứng kiến một tốc độ lạm phát cao kỷ lục trong vòng
hơn một thập kỷ qua thì năm 2009 lại chứng kiến một mức lạm phát ở mức dưới hai con
số. Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) cả nước qua 10 tháng đầu năm chỉ tăng 4,49% so với
tháng 12/2008. Đây là mức tăng chỉ số giá tiêu dùng khá thấp so với những năm gần đây
và là mức tăng hợp lý, không gây ảnh hưởng lớn đến đời sống và sản xuất của người
dân. Nhiều loại hàng hoá có ảnh hưởng mạnh trong rổ hàng hoá để tính CPI tăng thấp.
Chỉ số CPI lương thực tăng nhẹ trong 6 tháng đầu năm (0,59%) nhưng lại có xu hướng
giảm trong những tháng cuối năm. Như vậy, nếu như lương thực, thực phẩm luôn là đầu
tàu kéo lạm phát đi lên trong những năm 2007 và 2008 thì ở năm 2009 nhân tố này
không còn đóng vai trò chính nữa.
Biểu đồ 4 : Diễn biến lạm phát hàng tháng năm 2009
GVHD: Ths.Đặng Hữu Mẫn NSVTH: Nhóm – 34K07.2
Bài tập lớn: Quản trị danh mục đầu tư 17
Duy trì tốc độ tăng lạm phát và giá cả của năm 2009 ở mức một con số là một
điểm sáng nữa trên bức tranh kinh tế Việt Nam trong bối cảnh kinh tế thế giới chưa
thoát khỏi suy thoái kinh tế.
Hoạt động thương mại
Năm 2009, tình hình xuất nhập khẩu khẩu của Việt Nam gặp nhiều khó khăn do
khủng hoảng kinh tế toàn cầu dẫn đến sự đình trệ sản xuất và hạn chế tiêu dùng ở những
nước vốn là thị trường xuất khẩu lớn của Việt Nam như Mỹ, Nhật Bản, EU...
Tổng kim ngạch xuất khẩu năm 2009 ước đạt khoảng 56,5 tỷ USD, giảm 9,9% so
với năm 2008. Tình hình xuất khẩu như vậy không đến nỗi quá xấu nếu chúng ta nhìn
vào nguyên nhân của nó. Kim ngạch xuất khẩu giảm là do giá cả thế giới giảm (riêng
yếu tố giảm giá trong 9 tháng đầu năm làm kim ngạch xuất khẩu giảm trên 6 tỷ USD) -
một yếu tố ngoài tầm kiểm soát của chúng ta; trong khi đó khối lượng hàng hoá xuất
khẩu có sự tăng đáng kể giúp chúng ta giảm thiểu được đáng kể đến tốc độ tăng kim
ngạch xuất khẩu và xa hơn là giảm thiểu được tác động tiêu cực đến việc làm và thu
nhập của người lao động. Vấn đề tồn tại lớn nhất của xuất khẩu bộc lộ trong nhiều năm
qua là việc vẫn phụ thuộc nhiều vào các mặt hàng khoáng sản, nông, lâm, thuỷ, hải sản.
Các mặt hàng công nghiệp chế biến vẫn mang tính chất gia công. Như vậy, xuất khẩu
chủ yếu vẫn dựa vào khai thác lợi thế so sánh sẵn có mà chưa xây dựng được các ngành
công nghiệp có mối liên kết chặt chẽ với nhau để hình thành chuỗi giá trị gia tăng xuất
khẩu. Trong thời gian tới, xuất khẩu của Việt Nam sẽ chịu thách thức lớn hơn, nhất là
trong bối cảnh tác động của khủng hoảng những rào cản thương mại mới ngày càng
nhiều với các hành vi bảo hộ thương mại tinh vi tại các thị trường lớn sẽ dành cho các
mặt hàng xuất khẩu, nhất là các mặt hàng chủ lực của Việt Nam như khoáng sản, nông,
lâm, hải sản.
GVHD: Ths.Đặng Hữu Mẫn NSVTH: Nhóm – 34K07.2
Bài tập lớn: Quản trị danh mục đầu tư 19
Bảng 2: Hoạt động xuất nhập khẩu của Việt Nam thời kỳ 2006-2009
Tổng kim ngạch nhập khẩu năm 2009 ước đạt 67,5 tỷ USD, giảm 16,4% so với
năm 2008. Điều này phản ánh những khó khăn của sản xuất trong nước do suy giảm
kinh tế. Tuy nhiên, trong các tháng cuối năm, nhu cầu nhập khẩu có thể tăng lên khi các
biện pháp hỗ trợ sản xuất phát huy tác dụng. Mặc dù cả kim ngạch xuất khẩu và kim
ngạch nhập khẩu đều giảm sút, nhưng do tốc độ giảm kim ngạch xuất khẩu chậm hơn
tốc độ giảm kim ngạch nhập khẩu, nên nhập siêu năm 2009 giảm xuống chỉ còn khoảng
nghèo đến cuối năm 2009 giảm còn khoảng 11%. Tuy nhiên, tình hình suy giảm kinh tế
đã ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng giải quyết việc làm cho người lao động. Dự kiến
đến cuối năm 2009, có khoảng 1,51 triệu lượt lao động được giải quyết việc làm, đạt
88,5% kế hoạch năm và bằng 93,2% so với thực hiện năm 2008. Số lao động đi làm việc
ở nước ngoài năm 2009 ước đạt 7 vạn người, giảm đáng kể so với con số 8,5 vạn người
của năm 2008
1.1.1.3 Môi trường công nghệ (Technological)
Đầu tư phát triển khoa học và công nghệ sẽ là chiến lược trọng tâm cho cả quốc
gia và doanh nghiệp trong giai đoạn 2010- 2015. Công nghệ ngành xây dựng không có
đột biến trong giai đoạn này.
Trong các yếu tố cần thiết để phát triển kinh tế, xã hội của một quốc gia như vốn,
nguồn nhân lực, hệ thống quản lý …thì khoa học và công nghệ được xem như là yếu tố
quan trọng nhất, tạo giá trị gia tăng cao cho các sản phẩm lao động, tạo động lực cho sự
phát triển bền vững và lâu dài. Cuộc cách mạng khoa học và công nghệ (KH&CN) hiện
đại với những bước tiến khổng lồ: “Một ngày bằng hai mươi năm” đang tác động toàn
diện đến mọi nền kinh tế, mọi chế độ xã hội trên phạm vi toàn cầu. Cuộc đua tranh giữa
các quốc gia trên mặt trận kinh tế đang diễn ra rất quyết liệt. Một xã hội thông tin, một
nền kinh tế tri thức đã bắt đầu hình thành. Đó là một nền kinh tế mà sản xuất, dịch vụ
dựa chủ yếu vào tri thức và công nghệ, khi mà ngành công nghệ thông tin chiếm tới 2/3
của GDP.
GVHD: Ths.Đặng Hữu Mẫn NSVTH: Nhóm – 34K07.2
Bài tập lớn: Quản trị danh mục đầu tư 21
Thế giới đã tổng kết và đi đến kết luận: “Đầu tư cho khoa học là đầu tư thông
minh”. Các nước phát triển đầu tư cho KH&CN vào khoảng từ 2 - 2,5% (cao nhất là 4-
5%) GDP. Nghị quyết của Bộ chính trị về chính sách KH&CN đã chỉ ra rất đúng đắn
rằng: “...trong điều kiện kinh tế càng khó khăn, trình độ sản xuất càng thấp kém, thì
càng phải chú trọng đầu tư cho các hoạt động khoa học kỹ thuật cho công tác đào tạo
cán bộ khoa học và kỹ thuật, công nhân kỹ thuật” và “cần nâng cao tỷ lệ đầu tư tài chính
cho hoạt động nghiên cứu và triển khai...”. Gần đây, Nhà nước đã quan tâm tăng mức
đầu tư cho khoa học, nhưng vẫn còn xa so với yêu cầu phát triển để theo kịp các nước
7 Số tài khoản mở tại CTCK 550.000 730.000
8. Hệ số P/E 9-10 15.8
Chỉ số Vn-Index từ 235,5 điểm (tháng 2/2009) lên 570 điểm vào tháng 8, rồi bật lên trên
633,21 điểm vào phiên 23/10 và nhanh chóng đảo chiều xuống 537,59 điểm vào phiên
ngày 11/11, và dưới ngưỡng 500 điểm vào phiên ngày 2/12. Số tài khoản lưu ký của nhà
đầu tư là 730.000, trong đó tài khoản của nhà đầu tư trong nước là 670.000, còn lại là tài
khoản của nhà đầu tư nước ngoài; giá trị giao dịch bình quân thị trường đạt 2.146 tỷ
đồng/ phiên, cá biệt có phiên đạt 5000 tỷ đồng, giá trị vốn hóa thị trường là 669.000 tỷ
đồng, tương đương với 55% GDP năm 2008, so với thời điểm đầu năm tăng gần 3 lần.
Các dòng vốn vào - ra thị trường có nhiều biến động. Do sự phục hồi kinh tế của các
Quốc gia những tháng đầu năm chậm, vì thế các nhà đầu tư nước ngoài trên TTCK chủ
yếu bán ròng tập trung vào trái phiếu Chính phủ và các loại cổ phiếu có tính thanh
khoản cao. Khi nền kinh tế Việt Nam có tín hiệu khởi sắc, dòng vốn vào lại tăng lên
(tháng 5: 54 triệu USD, tháng 7: 56 triệu USD). Xét về tốc độ tăng trưởng, TTCK Việt
Nam được coi là có tốc độ tăng trưởng rất cao, tới 60 – 70%, nhưng xem xét một cách
toàn diện thì TTCK rất bất ổn. Thị trường cổ phiếu lên xuống thất thường, thị trường
trái phiếu (TTTP) Chính phủ vẫn chưa phát triển, năm 2009 khối lượng trái phiếu Chính
phủ đã được phát hành là 20.000 tỷ đồng, đạt 14% kế hoạch của năm
(4)
. Sự biến động
của TTCK cũng như thị trường vàng, thị trường ngoại tệ ở Việt Nam chẳng theo một
quy luật nào đã cho thấy những bất ổn của thị trường phát sinh từ chính những yếu tố
GVHD: Ths.Đặng Hữu Mẫn NSVTH: Nhóm – 34K07.2
Bài tập lớn: Quản trị danh mục đầu tư 23
nội tại của thị trường như thiếu sự liên kết chặt chẽ giữa các bộ phận của TTCK (thị
trường sơ cấp, sở giao dịch, thị trường UpCoM, TTTP chuyên biệt), giữa TTCK với thị
trường ngoại hối, thị trường tín dụng và thị trường vàng. Thị trường tài chính bị phân
khúc, chưa có sự minh bạch trong quản trị điều hành và trách nhiệm giải trình của các
cơ quan quản lý, giám sát ở tầm vĩ mô, cũng như các thông tin thị trường chưa được cập
nhật một cách chuẩn xác đến các nhà đầu tư, trong khi yếu tố tâm lý luôn bị chi phối
tới. Ngoài ra việc giảm giá VNĐ sẽ đem lại doanh thu, lợi nhuận gia tăng cho các công
ty xuất khẩu. Bên cạnh đó, các công ty thủy sản, cao su tự nhiên…còn nhận được hỗ trợ
từ gói kích cầu thứ hai dành cho khu vực nông thôn, bao gồm cả hỗ trợ vay trung dài
hạn lãi suất 2/năm.
Trong báo cáo về triển vọng và cơ hội của thị trường chứng khoán Việt Nam 6
tháng cuối năm, bộ phân phân tích của Công ty chứng khoán Bảo Việt (BVSC) nhận
định, cổ phiếu bất động sản, tài chính, vật liệu cơ bản và hàng tiêu dùng đều có triển
vọng tốt và phục hồi nhanh khi nền kinh tế có chuyển biến tích cực. Nhưng trong nhóm
này, cổ phiếu bất động sản và vật liệu cơ bản như xi măng, sắt thép và bê tông đang
được đánh giá cao hơn.
Triển vọng lợi nhuận ngành ngân hàng, chứng khoán sẽ không được tích cực và
bất ngờ như thời gian vừa qua. Bởi thu nhập từ hoàn nhập dự phòng các khoản đầu tư
tài chính sẽ giảm do chứng khoán đang vào giai đoạn ổn định. Bên canh đó, Ngân hàng
Nhà nước khống chế tổng phương tiện thanh toán và dư nợ tín dụng đối với nền kinh tế
chỉ tăng khoảng 25% trong 2010, thấp hơn nhiều so với mức 37,73% năm 2009. Độ trễ
của chính sách hạn chế tăng trưởng tín dụng này sẽ là nguyên nhân khiến lợi nhuận
ngành ngân hàng không thể tăng cao trong thời gian tới. Cơ hội đầu tư từ việc lướt sóng
ở nhóm này sẽ ít, trừ khi thị trường có những biến động đột biến, tích cực.
Bất động sản vẫn hứa hẹn là ngành hấp dẫn, do doanh nghiệp điều tiết lợi nhuận
giữa các quý sao cho thuận lợi. Riêng những ngành có tính ổn định cao như dược,
điện... sẽ được chú ý hơn, khi thị trường khó có khả năng tăng trưởng mạnh.
Năm 2010, chính phủ ưu tiên cho đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng mạnh nên ngành
xây dựng cũng được xem là ngành có triển vọng tốt.
GVHD: Ths.Đặng Hữu Mẫn NSVTH: Nhóm – 34K07.2
Bài tập lớn: Quản trị danh mục đầu tư 25
Theo dự báo, cổ phiếu của các nhóm ngành như: vật liệu xây dựng – xây dựng cơ
bản; thực phẩm – đồ uống; sách – thiết bị giáo dục; và bất động sản là có khả năng giúp
NĐT sinh lời trong những tháng cuối năm.
Đối với cổ phiếu ngành vật liệu xây dựng và xây dựng cơ bản, theo phân tích, lĩnh
vực xây dựng là một trong những lĩnh vực đóng góp chủ đạo vào tốc độ tăng trưởng