Chương 1: TỔNG QUAN VỀ NGÀNH
CÔNG NGHI
ỆP ĐÓNG TÀU TẠI
VIỆT NAM.
Ngành công nghiệp đóng tàu hiện đang nằm trong nhóm
hàng xuất khẩu mới của Việt Nam. Đây là ngành được đánh giá là
có ti
ềm năng và được sự đầu tư tập trung của nhà nước thông qua
nhiều dự án và khoản vay để đầu tư phát triển quy mô lớn.
Trong gần một thập kỷ qua, công nghiệp đóng tàu Việt Nam
đ
ã phát triển nhanh chóng với dự kiến cho tới năm 2010 có thể
xuất khẩu đạt giá trị 1,7 tỷ USD. Việt Nam đã liên doanh với Hàn
Qu
ốc xây dựng xưởng sửa chữa tàu lớn nhất Đông Nam Á,
Huyndai – Vinashin, có thể sửa chữa tàu có sức chở đến
100.000DWT. Bên cạnh đó các công ty đóng tàu Việt Nam đang
xây dựng các xưởng đóng mới có khả năng đóng các tàu có sức
chở đến 100.000DWT. Các công ty đóng tàu của Việt Nam đã
thành công trong vi
ệc cạnh tranh giành các hợp đồng đóng tàu của
các nước châu Á, như Nhật Bản, cũng như việc thâm nhập v
ào thị
trường châu Âu với các đơn đặt
hàng từ Anh, Đức.
Cho đến thời điểm n
ày công nghiệp tàu thủy Việt Nam đã
tri
ển khai thực hiện hàng loạt các dự án đầu tư nhằm đạt được năng
lực: tự sửa chữa đồng bộ (cả vỏ, máy, điện, điện tử, điều khiển tự
động…) các loại tàu có trọng tải đến 50.000DWT, tự đóng mới tàu
hoàn chỉnh công nghệ, thiết bị đóng và sửa chữa tàu lên mức hiện
đại trong khu vực, nâng cao tỷ lệ nội địa hóa trong ngành lên 60
đến 70%. Và trên cơ bản công nghiệp tàu thủy Việt Nam đã thiết
lập được các trung tâm đóng tàu lớn ở cả 3 miền: miền Bắc là Hải
Phòng, Quảng Ninh gồm các nhà máy đóng tàu Nam Triệu, Bạch
Đằng, Hạ Long, v
à sắp tới là Hải Hà; miền Trung có nhà máy đóng
tàu Dung Quất; miền Nam có nhà máy ở Sài Gòn, Hậu Giang, Cà
Mau.
Tháng 7/2007, Vinashin l
ại được Ngân hàng Thụy Sỹ cho
vay 600 triệu USD. Số tiền này sẽ được Vinashin cho các đơn vị
thành viên vay lại để phục vụ hoạt động sản xuất kinh doanh và
đầu tư các dự án lớn như dự án đóng tàu hơn 105.000 tấn tại Dung
Quất, kho nổi 150.000 tấn tại Nam Triệu, tàu chở ôtô tại Hạ Long,
tàu chở hàng 53.000 tấn cho chủ tàu Graig (Anh quốc), cùng các
tàu nhi
ều loại trọng tải cho chủ tàu Nhật Bản.
Tập đoàn CNTT Việt Nam (Vinashin) vừa ký hợp đồng đóng
mới 16 tàu VLCC 316.000DWT cho chủ tàu I-xra-en và Ấn Độ.
Đây là loại t
àu chở hàng lớn nhất từ trước đến nay sẽ được
Vinashin giao cho Công ty CNTT Dung Quất và Nhà máy đóng
tàu tại Khu kinh tế Hải Hà thực hiện.
Sau khi bàn giao hai tàu hàng 53.000DWT do Tổng công ty
CNTT Nam Triệu và Công ty Đóng tàu Hạ Long thi công, Tập
đoàn CNTT Việt Nam (Vinashin) đ
ã ký hợp đồng với chủ tàu Anh
đóng mới thêm 6 tàu hàng 53.000DWT đưa tổng số các tàu hàng
53.000DWT xuất khẩu lên 35 chiếc, trong đó có 27 chiếc được
ừng phát triển để đáp ứng các nhu cầu của xã hội.
Ở trong nước, mặc d
ù ngành công nghiệp đóng tàu đang phát
triển mạnh nhưng hiện tại công nghệ chế tạo nắp hầm hàng tàu vỏ
thép vẫn chưa được phát triển, mới chỉ có một cơ sở chế tạo nắp
hầm hàng được thành lập do sự hợp tác của Công ty MacGREGOR
(Đan Mạch) và Công ty đóng tàu Bến Kiền. Trước đây hầu như tất
cả các con tàu có tải trọng lớn đóng mới tại Việt Nam đều phải đặt
nắp hầm hàng từ nước ngoài. Điển hình như tại nhà máy đóng tàu
Bến Kiền đóng mới tàu container 564TEU phải đặt hàng chế tạo
nắp hầm hàng từ Công ty MacGREGOR. Nắp hầm hàng
MacGREGOR l
ắp trên tàu container 564TEU là loại nhiều tấm,
gấp lại được, được chế tạo tại một cơ sở của MacGREGOR tại
Thượng Hải, Trung Quốc. Tháng 12/2004 Vinashin đ
ã kí hợp đồng
với tập đoàn MacGREGOR cung cấp nắp hầm hàng cho hai tàu
ch
ở hàng 53.000DWT đầu tiên đóng tại Việt Nam thuộc loại gấp,
đóng mở bằng hệ thống thủy lực. Trọng lượng to
àn bộ nắp hầm
hàng khoảng 830 tấn. Qua đó cho thấy ở Việt Nam công nghệ chế
tạo nắp hầm hàng tàu vỏ thép đang rất cần được hoàn thiện và phát
tri
ển để đáp ứng nhu cầu phát triển chung của ngành.
1.3. GIỚI HẠN NỘI DUNG NGHIÊN CỨU.
1.3.1. Lý do chọn đề tài.
Hiện tại ở nước ta việc chế tạo nắp hầm hàng vẫn chưa phát
triển, chỉ mới có một cơ sở chế tạo nắp hầm hàng . Đó là một thực
trạng mà chúng ta cần phải giải quyết ngay nếu muốn đáp ứng