Phong trào Đông Du Bắc Kỳ
1. Hoàn cảnh lịch sử
- Thất bại của phong trào yêu nước trước đó
- Chuyển biến xã hội
- Chuyển biến tư tưởng yêu nước :
- + Ảnh hưởng tư tưởng dân chủ tư sản : Nhật Bản, Trung Quốc…
2. Khái quát phong trào Đông Du ( 1905 – 1909)
Trải qua quá trình vận động từ Bắc vào Nam, Phan Bội Châu đã có sự
chuyển biến mạnh mẽ về tư tưởng cách mạng vào năm 1904. Tháng 4 –
1905, Phan Bội Châu đã cùng các đồng chí thành lập Duy Tân Hội. Mục
đích của hội là
Hoạt động
Lực lượng
Biện pháp đấu tranh của hội
Sang năm 1905, Phan bội Châu, Đặng Tử Kính, Tăng Bạt Hổ đi sang
Nhật cầu viện. Chuyến cầu viện này đã đánh dấu bước chuyển về tư tưởng
cảu Phan Bội Châu từ cầu viện sang cầu học. Sự chuyển biến này xuất phát
từ hai nguyên nhân chính, thứ nhất là do trong chuyến cầu viện lần này,
Phan Bội Châu đã gặp Lương Khải Siêu tại Nhật Bản. Lương Khải Siêu
khuyên Phan Bội Châu không nên để quân đội Nhật vào nước ta mà nên
chuẩn bị cho toàn dân để mọi người cùng sẵn sàng nổi dậy khi có thời cơ tốt.
Chính lưòi khuyên của Lương Khải Siêu đã giúp Phan Bội Châu nhận thấy
giáo dục và thức tỉnh nhân dân trong nước trước những tiến bộ bên ngoài để
tự giải phóng là điều quan trọng nhất, vì vậy phải thực hiện trước tiên. Thứ
hai là do sự thất vọng của Phan Bội Châu khi gặp các chính khách Nhật Bản.
khi Phan Bội Châu đưa ra đề nghị giúp đỡ, họ đã thoái thác, từ chối những
đề nghị cảu Phan Bội Châu. Từ đó, Phan Bội Châu đã chuyển từ tư tưởng
cầu viện sang cầu học. Ông cũng rút ra bài học từ đất nước Nhật Bản về
phong trào Duy Tân, đó là do quá trình du học, chú trọng bồi dưỡng nhân
tài. Trong bài “ Khuyến dân tự trợ du học văn”, Phan Bội Châu đánh giá cao
vai trò du học của Nhật Bản : Do từ lúc đầu họ biết cử người đi du học nước
Sự bóc lột nặng nề về kinh tế cũng là một điều kiện dẫn tới người dân
Bắc Kỳ tham gia phong trào. Đây là vùng đất rất giàu có về tài nguyên thiên
nhiên, một tên chính khách Pháp đã nói “ Không có nơi nào trên thế giới có
nhiều nguồn lợi như ở nơi đây, chính quốc tha hồ bòn rút của cải đầy tay để
đưa về nước”.
Về xã hội, vào những năm đầu thế kỉ XX, ở Bắc Kỳ đã có sự chuyển biến
sâu sắc về xã hội : Nông dân và thợ thủ công bị bần cùng hoá nghiêm trọng,
địa chủ có điều kiện phát triển mạnh. Cùng với sự chuyển biến về kinh tế, ở
thành thị, giai cấp tư sản đầu tiên đã xuất hiện. Cùng với đó, tầng lớp tiểu tư
sản cũng ra đời. Những giai cấp, tầng lớp này tích cực tham gia vào cuộc
vận động cứu nước, giải phóng dân tộc. Vì vậy, họ là một động lực chính
trong phong trào yêu nước nói chung, phong trào Đông Du nói riêng.
Sự thất bại của phong trào yêu nước theo khuynh hướng phong kiến cũng
dẫn lối cho người dân Bắc Kỳ tham gia vào một phong trào cách mạng với
nhưữn khuynh hướng mới. Khi phong trào Cần Vương bùng nổ ( 1885) với
“ Chiếu Cần vương” của vua Hàm Nghi do Tôn Thất Thuyết soạn thảo, nhân
dân Bắc Kỳ đã tích cực hưởng ứng phong trào, nhưng Pháp đã đàn áp dã
man, vì vậy, dù phong trào diễn ra sôi nổi nhưng cuối cùng cũng bị Pháp đàn
áp đẫm máu. Vì vậy, khi phong trào Đông Du bùng nổ, nhân dân Bắc Kỳ đã
tích cực hưởng ứng.
Ngoài ra, Bắc Kỳ cũng là vùng đất nổi tiếng với truyền thống hiếu học và
yêu nước trong suốt chiều dài lịch sử. Chính điều đó là điều kiện giúp phong
trào phát triển rất sớm ở Bắc Kỳ.
3.2. Diễn biến phong trào Đông Du ở Bắc Kỳ
3.2.1. Nguyên nhân người dân Bắc Kỳ tham gia phong trào Đông Du
Phong trào Đông Du chuyển từ cầu viện sang cầu học là một hoạt động
có tính chất đột phá, mở đưởng ra nước ngoài học hỏi, tiếp nhận những cái
mới cho phong trào giải phóng dân tộc ở Việt Nam. Các sĩ phu nhận thấy
phong trào cứu nước bạo động theo Cần Vương phá sản, vi vậy cần phải
theo con đường mới để cứu nước “ khai dân trí, chấn dân khí, hậu dân sinh”.
Cùng với truyền thống cách mạng trong lịch sử cộng với lòng yêu nước
nồng nàn, long căm thù giặc Pháp cao độ, những năm đầu thế kỷ XX, Hà
Nội trở thành một trong những trung tâm mà hoạt động yêu nước diễn ra sôi
nổi và mạnh mẽ nhất. Hà Đông là cửa ngõ vào Hà Nội, là áo giáp che chắn
cho Hà Nội nên cũng chịu tác động từ những phong trào yêu nước ở Hà Nội,
vì vậy, Hà Đông, Hà Nội trở thành những địa bàn hoạt động quan trọng của
cách mạng Bắc Kỳ.
Theo tiếng gọi của phong trào Đông Du, ngay từ năm 1905, một số thanh
niên yêu nước ở Hà Nội, Hà Đông đã hăng hái xuất dương sang Nhật Bản
cầu học như anh em Lương Ngọc Quyến, Lương Nghị Khanh (con cụ Lương
Văn Can), Cao Trúc Hải, Hoiàng Đình Tuân, Vũ Mẫn Kiến, Phạm Chấn
Yêm, Nguyễn Điển, Nguyễn Hải Thần…trong đó, Lương Ngọc Quyến là
một trong số những người đầu tiên tham gia phong trào Đông Du. Trong
Phan Bội Châu niên biểu” đã chép “đã có 6 thanh niên nữa mới sang là anh
Lương Lập Nham ( tức Lương Ngọc Quyến) và Lương Nghị Khanh ( Hai
con của ông Lương Văn Can ở Hà Nội) và Nguyễn Hải Thần, Nguyễn Điển
ở Hà Đông với hai người nữa”. Có thể nói rằng, Hà Đông và Hà Nội là một
trong số những trung tâm tuyển chọn “du học sinh” cho phong trào Đông Du
cùng với Nam Định, Sài Gòn, Nghệ An, Vĩnh Long…
3.2.2.2. Phong trào Đông Du ở Nam Định và Thái Bình
Hai tỉnh Thái Bình và Nam Định có nhiều nét tương đồng về lịch sử và
văn hoá. Trong cuộc kháng chiến chống Pháp, quân dân Thái Bình và Nam
Định cùng kề vai sát cánh chiến đấu bảo vệ quê hương. Khi quân Pháp tấn
công thành Nam Định lần thứ nhất ( 1873), Nguyễn Mậu Kiến cùng các con
là Nguyễn Hữu Bản, Nguyễn Hữu Cương, Nguyễn Hữu Phu và cháu là
Nguyễn Công Úc, Nguyễn Năng Thố và cha con Tiến sĩ Doãn Khuê đưa
nghĩa binh Thái Bình vượt sông Hồng sang hỗ trợ quân dân thành Nam
chống Pháp. Năm 1883, quân Pháp tấn công Nam Định lần thứ hai, hai anh
em Nguyễn Hữu Bản, Nguyễn Hữu Phu một lần nữa lại dẫn quân vượt sông
sang chiến đấu cùng quân dân Nam Định. Thành Nam thất thủ, Đề đốc Lê
động thanh niên học máy móc, binh bị để nếu có dịp cướp lại chính quyền
cho xứ sở. Như vậy, cuối năm 1904, tại nhà cụ Đốc Trạch, phong trào Đông
Du chính thức được phát động.
Cuối năm 1905, Tăng Bạt Hổ - một yếu nhân cảu phong trào Đông Du từ
Trung Quốc về tiền trạm dò đường đã về tới Nam Định. Tại đây, Tăng Bạt
Hổ đã gặp nguyễn Thượng Hiền, lúc đó đang làm đốc học tỉnh Nam Định
thống nhất tổ chức và tuyển chọn một số thanh niên yêu nước ở Bắc Kỳ sang
Nhật Bản học tập.
Năm 1906, Nguyễn Thượng Hiền đã về làng Hành Thiện lấy cớ thăm
người thân - do Nguyễn Thượng Hiền có người anh đồng hao là Tiến sĩ
Nguyễn Ngọc Liên, hai ông đều là con rể Tôn Thất Thuyết – nhưng thực
chất là để vận động những thanh niên yêu nước ở đây xuất dương du học.
Sau khi nghe Nguyễn Thượng Hiền, một yếu nhân của Hội Duy Tân, tuyên
truyền về phong trào Đông Du, Tiến sĩ Nguyễn Ngọc Liên đã giới thiệu cho
Nguyễn Thượng Hiền bốn học trò xuất sắc nhất của mình tham gia phong
trào Đông Du. Bốn thanh niên yêu nước đầu tiên của Hành Thiện tham gia
du học sang Nhật Bản là Đặng Hữu Bằng ( tự Đoàn Bằng) 23 tuổi, Đặng Tử
Mẫn (Đặng Huy Dật) 21 tuổi), Đặng Quốc Kiều 14 tuổi và Nguyễn Xuân
Thức 18 tuổi. Họ đã máng ang Nhật Bản hơn 1000 đồng Đông Dương, trị
giá bằng 50 lạng vàng của gia đình để ăn học và ủng hộ anh em Đông Du.
Số tiền khá lớn này được Phan Bội Châu sử dụng đóng học phí và sinh hoạt
phí cho an hem Đông Du, ngoài ra còn dung để chi phí về nước làn thứ hai.
Từ chuyến xuất dương đó đã có them một số thanh niên Nam Định khác
xuất dương như Đặng Vũ Nhã, Đặng Văn Giá…Năm 1907, ông Vũ Văn
Thuỵ ( quê ở làng Thanh Cầu, Nam Định) đã tổ chức một đoàn thanh niên
xuất dương sang Nhật Bản do Đoàn Thám Hài ( Tức Tú Tuyết) đứng đầu.
Thật không may, chuyến xuất dương này bị thực dân Pháp phát hiện nên cả
nhóm bị bắt, chỉ có Đinh Trọng Khiêm trốn thoát sang Xiêm hoạt động. Ông
Bùi Trình Khiêm, một nhà giáo ở làng Vân Tập ( xã Minh Tân, huyện Vụ
Bản) đã dùng văn thơ cổ động thanh niên xuất dương du học.
Trong khi phong trào Đông Du phát triển mạnh mẽ thì ở Bắc Kỳ xuất
hiện thêm một phong trào yêu nước mới dưới hình thức vận động văn hoá –
Phong trào Đông Kinh Nghĩa Thục. Nhận thấy đây là một phong trào yêu
nước tiến bộ nên nhân dân Nam Định – Thái Bình đã hưởng ứng phong trào
Nghĩa Thục ngay từ khi mới thành lập. Một số sĩ phu Nam Định – Thái Bình
còn là sáng lập viên của trường Đông Kinh Nghĩa Thục ở Hà Nội như Đặng
Kinh Luân, Đặng Ngọc Đỉnh, Đặng Xuân Mậu, Đặng Xuân Viện, Đặng
Kinh Bang (Ở Nam Định), Đào Nguyên Phổ, Ngô Quang Đoan, Phạm Tư
Trực ( Thái Bình). Ông Lương văn Can đã nhiều lần tới ngôi nhà số 7 phố
Bến Ngự, thành phố Nam Định và nhà ông Nguyễn Hữu Cương để gặp gỡ
các sĩ phu yêu nước ở đây bàn về việc phát triển phong trào Nghĩa Thục trên
đất Nam Định, tại các nhà giáo, sĩ phu như Bùi Trình Khiêm, Lương Văn
Thăng…đã sử dụng văn thơ của Đông Kinh Nghĩa Thục để tuyên truyền,
vận động học sinh và thanh niên. Tại Thái Bình, các trường, lớp Nghĩa Thục
được mở khắp các huyện trong tỉnh, tiêu biểu như Quỳnh Phụ, Kiến Xương
và Hưng Hà.
Năm 1908, ở Hà Nội đã diễn ra vụ hà Thành đầu độc do nghĩa quân Yên
Thế của Hoàng Hoa Thám và một số nhân vật ở trường Đông Kinh Nghĩa
Thục của Hội Duy Tân phối hợp tổ chức. Nhân sự kiện đó, Nguyễn Hữu
cương định tổ chức thổ binh đánh úp tỉnh thái Bình nhưng không thành. Sau
đó một thời gian, ông và một số sĩ phu khác đã lãnh đạo nhân dân Thái Bình
nổi dậy đấu tranh chống thuế nhằm ủng hộ của cuộc đấu tranh chống thuế
của nhân dân Trung Kì ( 1908). Theo Nguyễn Hữu Cương, nông dân Thái
Bình phải bắt chước nông dân Quảng Nam chống thuế, phải kéo nhau lên
Toà Công sứ khiếu tố; nếu Toà Công sứ không trả lời thì cứ lên công đường
nằm lỳ ra đó không về vì không có lý do gì nhà nước giết hết dân được.
Cuộc đấu tranh chống thuế đã diễn ra mạnh mẽ từ làng Động Trung, sau đó
lan rộng ra nhiều làng khác như Xuân Vũ, An Bồi, Trình Phố, Cổ Ninh, Cổ
Am…Để đối phó lại phong trào chống thuế của nhân dân Thái Bình, thực
dân Pháp đã bắt giam nhiều người, trong đó có Nguyễn Hữu Cương, thủ lĩnh
trên quy mô toàn tỉnh mà tập trung diễn ra chủ yếu ở một số làng như làng
Hành Thiện ( Nam Định), làng Trình Phố, làng Động Trung ( Thái Bình). Rõ
ràng ở đây một lần nữa ta thấy rõ vai trò của làng đối với sự nghiệp bảo vệ
Tổ quốc. Từ những làng hạt nhân kể trên, những hoạt động Đông Du được
mở rộng sang nhiều làng khác nên nó có tính liên làng, đặc biệt là sự liên kết
giữa các làng Nho ở Nam Định – Thái Bình với nhau – Trình Phố, Động
Trung, Hành Thiện, trên thực tế đều là những làng khoa bảng và có rất đông
nho sĩ. Chính yếu tố làng và liên làng này đã tạo ra sự vững mạnh của phong
trào Đông Du Nam Định – Thái Bình.
Phong trào Đông Du ở Nam Định – Thái Bình nằm trong phạm trù ý thức
tỉnh, ý thức dân tộc mặc dù phong trào chống Pháp của Nam Định – Thái
Bình trước phong trào Đông Du đã có sự bắt mối và liên kết với các hoạt
động chống Pháp của các tỉnh khác như Hải Phòng, Hà Nam, Ninh Bình,
Thanh Hoá, Nghệ Tĩnh Phương pháp liên vùng nhưng trên thực tế nó vẫn
chỉ mang tính chất địa phương, liên vùng mà chưa đạt đến bình diện quốc
gia. Khi tham gia phong trào Đông Du, một phong trào có tính chất quốc
gia, phong trào chống Pháp ở Nam Định và Thái Bình đã vượt qua ngưỡng
chủ nghĩa địa phương để hoà mình vào chủ nghĩa quốc gia. Sự thức tỉnh ý
thức dân tộc còn được biểu hiện rõ nét qua việc các sĩ phu Nam Định và
Thái Bìnhđã gắn kết hoạt động Đông Du với hoạt động Nghĩa Thục và phối
hợp với nghĩa quân Yên Thế tổ chức vụ đầu độc binh lính Hà Thành. Hoạt
động yêu nước ở đây dựa trên tinh thần vừa bạo động đánh Pháp vừa khai
mở những ý tưởng canh tân đất nước.
Tham gia phong trào Đông Du ở Nam Định và Thái Bình đều do tầng lớp
sĩ phu yêu nước lãnh đạo và những thanh niên sang Nhật du học đều là con
em của họ.Phần lớn những yếu nhân của phong trào đều trực tíêp hoặc gián
tiếp tham gia các hoạt động chống Pháp nửa cuối thế kỉ XIX. Nguyễn Hữu
Cương từng lăn lộn trên chiến trường Nam Định và một số tỉnh khác ở Bắc
Kỳ. Năm 18 tuổi, Ngô Quang Đoan lên khu vực Yên Lập ( Phú Thọ) chịu
tang cha ( Ngô Quang Bích mất năm 1891), sau đó phối hợp với các chiến
chí phục quốc. Đặng Hữu Bằng đã tốt nghiệp Thủ khoa trường Chấn Võ và
được Thiên Hoàng Minh Trị trao tặng một chiếc đồng hồ có khắc tên và chữ
ký của nhà vua.
Các mối quan hệ bạn bè, thông gia, liên gia giữa các dòng họ yêu nước ở
Nam Định với Thái Bình cũng giữ một vai trò đáng kể trong phong trào
Đông Du. Tiến sĩ Doàn Khuê và Hoàng giáp Phạm Văn Nghị ( Nam Định )
có mối qun hệ thân giao với Nguyễn Mậu Kiến. Hai ông đã cử Nguyễn Mậu
Kiến làm quan trong triều Nguyễn và lên tới chức Án sát Lạng Sơn. Khi
Phạm Văn Nghị tổ chức lực lượng đánh Pháp ở Nam ĐỊnh, cha con Doãn
Khuê và Nguyễn Mậu Kiến đã sang trợ chiến cùng với nghĩa quân Phạm
Văn Nghị. Họ Nguyễn có quan hệ thông gia với họ Ngô ở Trình Phố.
Nguyễn Hữu Cương đã kết duyên với cô Ngô Thị Tảo ( là con gái của
Thượng Biện Ngô Đức Trạch, bạn thân của Nguyễn Mậu Kiến), mà ông
Trạch là anh ruột của Ngô Quang Bích. Nhờ mối quan hệ bạn bè, thông gia,
liên gia này mà phong trào Đông Du có thế đứng vững chắc ở Nam Định và
Thái Bình.
Làng và dòng họ ở Nam Định – Thái Bình cũng giữ một vị trí quan trọng
cho sự chuyển tiếp giữa phong trào yêu nước theo hệ tư tưởng phong kiến
sang hệ tư tưởng tư sản và vô sản. Sau khi phong trào Đông Du thất bại,
nhiều thanh niên Nam Định – Thái Bình đã tới Trung Hoa cùng Phan Bội
Châu thành lập Việt Nam Quang phục Hộ. Một số người về nước vận động
thanh niên xuất dương tham gia Việt Nam Quang phục Hội. Đông đảo thanh
niên Hành Thiện tham gia như Đặng Thế Mẫn, Đặng Quốc Kiều, Đặng Hữu
Quỳ, Đặng Vũ Giá, Nguyễn Xuân Thức, Nguyễn Xuân Khải, Đặng Kinh
Luân, Đặng Vũ Hoàn, Đặng Vũ Long, Đặng Mũ Mậu, Đặng Xuân Mậu,
Đặng Huy Quỳ, Đặng Văn Ngã, Đặng Ngọc Tỉnh…Trong số 12 người Thái
Bình xuất dương sang Trung Quốc tham gia Việt Nam Quang phục Hội, có
tới 8 người làng Động Trung như Nguyễn Nhị Kỳ, Nguyễn Công Năng,
Nguyễn Hồng Đính, Nguyễn Công Diệu, Nguyễn Công Chuẩn, Nguyễn
Công Viễn, Hoàng Chuyên, Phạm Tư Tề, ngoài ra còn có 4 người ở các địa
3.3.1. Đặc điểm của phong trào Đông Du ở Bắc Kỳ
3.3.2. Tác động của phong trào Đông Du với phong trào cách mạng Bắc
Kỳ đầu thế kỉ XX