phong trào nông dân ở bắc kỳ dưới triều nguyễn nửa đầu thế kỷ xix - Pdf 23

Lời cảm ơn

Được sự đồng ý của Khoa Sử - Địa trường Đại học Tây Bắc, cùng với sự
đồng ý của thầy giáo TS Phạm Văn Lực em đã thực hiện đề tài “Phong trào
nông dân ở Bắc Kỳ dưới triều Nguyễn nữa đầu thế kỉ XIX”.
Để hoàn thành khoá luận này, cùng với sự nỗ lực, cố gắng của bản thân,
em đã nhận được sự giúp đỡ to lớn và quý báu của các thầy, cô giáo trong khoa
Sử - Địa, đặc biệt là sự giúp đỡ của thầy giáo TS Phạm Văn Lực.
Lời đầu tiên, em xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành và sâu sắc nhất đến TS
Phạm Văn Lực - người thầy đã trực tiếp hướng dẫn, dìu dắt và chỉ bảo những
kiến thức về chuyên môn thiết thực, đã tạo mọi điều kiện để giúp đỡ em hoàn
thành khoá luận này.
Em cũng xin gửi lời cảm ơn chân thành, sâu sắc tới các thầy, cô trong
khoa Sử - Địa, đặc biệt là cô giáo chủ nhiệm Tống Thanh Bình, Phòng Nghiên
cứu Khoa học, Thư viện trường Đại học Tây Bắc, Thư viện tỉnh Sơn La đã giúp
đỡ, tạo điều kiện tốt nhất cho em trong quá trình thực hiện khoá luận này.
Cuối cùng, em xin bày tỏ lòng biết ơn tới đấng sinh thành là bố mẹ đã
nuôi dưỡng với bao nỗi vất vả, nhọc nhằn, các bạn bè thân yêu trong lớp, những
người luôn ở bên chia sẻ, động viên và giúp đỡ tôi trong thời gian qua.
Em xin chân thành cảm ơn!
Sơn La, tháng 5 năm 2014
Tác giả

Lê Thị Hồng Yến
MỤC LỤC

TÀI LIỆU THAM KHẢO……………………………………………………55
PHỤ LỤC ẢNH

1
MỞ ĐẦU

1. Lí do chọn đề tài
Triều Nguyễn (1802 - 1945) là triều đại phong kiến cuối cùng trong lịch
sử Việt Nam được thành lập trên cơ sở lật đổ vương triều Tây Sơn làm chủ toàn
bộ lãnh thổ Đàng Trong - Đàng Ngoài cũ, Nguyễn Ánh đặt niên hiệu là Gia
Long lập nên triều Nguyễn. Triều Nguyễn trải qua các đời vua: Gia Long
(Nguyễn Ánh), Minh Mạng, Thiệu Trị, Tự Đức kế tiếp nhau xây dựng và củng
cố nền thống trị, bảo vệ chế độ phong kiến khủng hoảng, suy yếu. Tuy nhiên,
trong hơn nửa thế kỉ tồn tại dưới triều Nguyễn, xã hội Việt Nam hầu như không
phát triển lên được theo chiều hướng tiến bộ của thời đại, đời sống nhân dân
cùng cực, mâu thẫn xã hội làm bùng nổ hàng loạt các cuộc khởi nghĩa lớn nhỏ
của nông dân chống lại triều đình phong kiến phong kiến thối nát, khủng hoảng.
Trong nửa đầu thế kỉ XIX, có rất nhiều cuộc khởi nghĩa của nông dân đã nổ ra
và trải dài từ Bắc đến Trung và Nam Kì. Trong các cuộc khởi nghĩa đó, đáng
chú ý hơn cả là các cuộc khởi nhĩa của nông dân chống lại triều đình phong kiến
nhà Nguyễn. Sự bùng nổ của phong trào nông dân nửa đầu thế kỉ XIX nói chung
và ở Bắc Kì nói riêng có ý nghĩa vô cùng lớn đối với tiến trình lịch sử dân tộc.
Khởi nghĩa nông dân là động lực phát triển của lịch sử phong kiến, do vậy nó có
vai trò quan trọng trong học tập và nghiên cứu lịch sử.
Trên tinh thần đổi mới Sử học, cho đến nay vẫn còn nhiều ý kiến và nhận
định đánh giá về triều Nguyễn rất khác nhau, đặc biệt về phong trào nông dân
dưới triều Nguyễn. Vì thế việc lựa chọn “Phong trào nông dân ở Bắc Kỳ dưới
triều Nguyễn nửa đầu thế kỷ XIX” làm đề tài nghiên cứu có ý nghĩa khoa học
và thực tiễn sau:
* Về mặt khoa học:

biên đã đề cập đến những cuộc nổi dậy của nông dân chống lại triều đình phong
kiến nhà Nguyễn nhưng chưa đi sâu vào khai thác một cách cụ thể mà chỉ dừng
lại ở mức độ khái quát [15].
+ Trong cuốn “Một số chuyên đề Lịch sử Việt Nam, Lịch sử thế giới và
phương pháp dạy học lịch sử” do TS. Phạm Văn Lực chủ biên cũng đã đề cập
tới các cuộc khởi nghĩa nông dân chống triều Nguyễn nửa đầu thế kỉ XIX
nhưng mới chỉ dừng lại ở việc kể tên các cuộc khởi nghĩa các cuộc khởi

3
nghĩa, chưa đi sâu vào nghiên cứu, phân tích làm rõ các cuộc khởi nghĩa nông
dân nổ ra thời kì này [14].
Vấn đề này đã được đề cập trong một số công trình nhưng chưa có công trình
nào đề cập một cách hệ thống, hoàn chỉnh. Tuy vậy, tất cả những công trình nghiên
cứu đó đã định hướng cho tôi đi vào tìm hiểu nghiên cứu vấn đề này và là nguồn tài
liệu tham khảo quý để tôi tiếp tục nghiên cứu, làm rõ một số vấn đề khoa học mà
những công trình trước chưa có điều kiện thực hiện và hoàn chỉnh.
3. Đối tƣợng, phạm vi nghiên cứu, đóng góp của đề tài
3.1. Đối tƣợng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của khóa luận là “Phong trào nông dân ở Bắc Kỳ
dưới triều Nguyễn nửa đầu thế kỉ XIX”.
3.2. Phạm vi nghiên cứu
- Về thời gian: Khóa luận tập trung làm rõ phong trào khởi nghĩa của nông
dân ở Bắc Kì chống lại triều đình phong kiến nhà Nguyễn từ khi Nguyễn Ánh
lên ngôi (1802) đến khi thực dân Pháp xâm lược Việt Nam (1858).
- Về không gian: Khóa luận tập trung nghiên cứu sự phát triển của phong
trào nông dân ở Bắc Kì chống lại triều đình phong kiến triều Nguyễn.
3.3. Đóng góp của đề tài
- Khóa luận góp phần khôi phục một cách hoàn chỉnh, hệ thống và chính
xác tình hình nước ta nửa đầu thế kỉ XIX. Đặc biệt, khóa luận tái hiện một cách
sinh động về phong trào nông dân ở Bắc Kì với các phong trào cụ thể.

5
Chƣơng 1
TÌNH HÌNH TRIỀU NGUYỄN NỬA ĐẦU THẾ KỈ XIX

Trong lịch sử châu Á nói chung và lịch sử Việt Nam nói riêng, thế kỉ XIX
là thời kì đầy biến động. Quan hệ tiếp xúc Đông - Tây đã chuyển từ thương mại
tự do sang đối địch. Thay vì tôn trọng chủ quyền, thiết lập mối quan hệ buôn
bán như trước đây, các nước tư bản châu Âu bắt đầu thực hiện chính sách “ngoại
giao pháo hạm”, sử dụng vũ lực để từng bước thực hiên ý đồ thực dân. Trong
bối cảnh đó, các nước châu Á bị đặt trước những thử thách vô cùng hiểm nghèo.
Ý thức được hiểm họa đó, Nhật Bản và trong một chừng mực nào đó là Xiêm đã
chọn con đường duy tân đất nước để tự cứu mình. Trong khi đó, ở Việt Nam,
sau khi đánh bại triều Tây Sơn, năm 1802, triều Nguyễn được thành lập đã tỏ ra
lúng túng, chỉ lo xây dựng và củng cố nền thống trị, bảo vệ chế độ phong kiến
trong bối cảnh khủng hoảng, suy vong không bắt kịp với thời đại, làm cho đất
nước ngày càng lún sâu vào tình trạng lạc hậu, trì trệ. Tình hình đó đã làm mâu
thuẫn xã hội ngày càng trở nên gay gắt, không kiểm soát được. Tình trạng này
kéo dài đã làm bùng nổ hàng loạt các cuộc khởi nghĩa lớn nhỏ của nông dân, các

Quảng Bình và Quảng Nam được gọi là các trực doanh nằm dưới sự cai quản
trực tiếp của triều đình. Tiếp đó là các trấn đặt dưới sự kiểm soát gián tiếp của
kinh sư gọi là các cơ trấn. Phía Bắc có Nghệ An, Thanh Hóa, phía Nam có
Quảng Ngãi, Bình Định, Bình Hòa (Khánh Hòa). Ở cả hai đầu đất nước, Gia
Long đặt ra hai kỳ (Bắc và Nam), giao phó quyền hành cho hai quan tổng trấn
tại Bắc Thành và Gia Định thành được phép thay mặt Hoàng đế định đoạt mọi
việc. Năm 1831-1832, Minh Mạng bỏ cơ cấu hành chính tản quyền, bãi bỏ chức
Tổng trấn, chia cả nước thành 30 tỉnh và một phủ (Thừa Thiên). Tất cả đều trực
thuộc chính quyền trung ương [15, tr.190].
Chính quyền địa phương được đặt lại. Các liên tỉnh do Tổng đốc đứng đầu
và kiêm nhiệm, tỉnh còn lại do tuần phủ đứng đầu. Dưới Tổng đốc và tuần phủ
có hai ty:
Bố chính ty phụ trách các vấn đề thuế khóa, ruộng đất, hộ khẩu …của tỉnh;
án sát ty phụ trách an ninh, tư pháp…của tỉnh. Các chức quan ở hai ty phụ chịu
trách nhiệm trước Tổng đốc và tuần phủ [18, tr.97].

7
Dưới tỉnh là cấp phủ (tri phủ đứng đầu), huyện (tri huyện đứng đầu) châu
(tri châu đứng đầu) rồi đến tổng (chánh tổng đứng đầu), xã (do lý trưởng, phó lí
phụ trách) [18, tr.97].
Đối với vùng thượng du, đặc biệt là ở các tỉnh phía Bắc, từ năm 1829,
Minh Mạng bỏ lệ thế tập của các thổ ty, lang đạo, cho phép quan địa phương
chọn các hào mục thanh liêm, tài năng cần cán làm Thổ tri châu, Thổ tri huyện
và thiết lập chế độ lưu quan, đưa quan miền xuôi lên cai quản miền ngược, làm
việc với các thổ ty, lang đạo [18, tr.97].
Ban đầu, nhà Nguyễn dùng những người có công trong cuộc chiến tranh
chống Tây Sơn làm các chức quan trọng trong triều đình cũng như ở các địa
phương. Về sau, nhà Nguyễn mở khoa thi tài (năm 1822 mở khoa thi hội đầu
tiên, chọn người bổ xung vào các chức và được hưởng lương theo phẩm hàm.
Bộ máy quan lại thời Nguyễn nói chung không cồng kềnh cũng không

đình, lại mô phỏng luật nhà Thanh nên những quy định về xử phạt rất hà khắc,
nhất là những tội gây phương hại đến chính quyền.
Quy định của nhà nước được tổ chức chặt chẽ ngay từ thời chiến tranh
chống Tây Sơn. Nhà Nguyễn chủ trương xây dựng một quân đội thường trực
mạnh.Vào cuối thời Gia Long, nhà Nguyễn có hơn 20 vạn quân, chia ra làm bốn
binh chủng (bộ binh, thủy binh, pháo binh và tượng binh). Binh lính phục vụ
trong quân đội được hưởng các chế độ ưu đãi. Mỗi người được nhận lương bằng
ruộng với diện tích từ bảy sào đến một mẫu. Ngoài ra, họ còn được nhận thêm
ruộng khẩu phần ở quê. Tuy nhiên chế độ binh dịch nặng nề, vũ khí không có
điều kiện đổi mới. Chẳng hạn, theo thống kê, số đinh năm 1820 là 620240, năm
1840 là 970516 thế nhưng số lính lại nhiều tới 212290 người. Tinh thần và chất
lượng quân đội ngày càng xa sút [16, tr.443].
Về chính sách đối ngoại: Nhà Nguyễn một mặt tỏ ra thần phục nhà Thanh.
Sau khi đánh bại được triều Tây Sơn, Gia Long cử sứ sang nhà Thanh cầu
phong, sau đó theo hạn 4 năm một lần cho người sang nộp 2 lần cống phẩm.
Những lần sứ thần Trung Quốc sang phong vương các vua Nguyễn phải tổ chức
tiếp đón rất tốn kém và phải tự thân ra tận Thăng Long để nhận. Tình hình đó
kéo dài mãi đến năm 1849, sứ bộ nhà Thanh vào tận Phú Xuân [18, tr.99]. Ngoài
ra mọi việc quan trọng trong quan hệ đối ngoại, nhà Nguyễn hầu như đều cho

9
người sang xin ý kiến của nhà Thanh. Một trong những chính sách ngoại giao để
lại những hậu quả hết sức nặng nề về chính trị cũng như tài chính dưới triều
Nguyễn là việc các vua Nguyễn sử dụng lực lượng quân sự bắt Cao Miên và Lào
thuần phục. Năm 1813, nhà Nguyễn thiết lập chế độ bảo hộ ở Cao Miên. Năm
1835, Minh Mạng lập ra trấn Tây Thành, định xáp nhập đất Cao Miên vào hẳn
lãnh thổ Việt Nam. Nhưng sau khi Minh Mạng qua đời vào năm 1840, Thiệu Trị
đã từng bước phải rút lui khỏi Cao Miên.
Với các nước phương tây, nhà Nguyễn khước từ mọi tiếp xúc. Trước khi
nhắm mắt, Gia Long đã phải căn dặn Minh Mạng “việc khủng bố tín ngưỡng

được chia ruộng công ở làng xã, quý tộc vương tôn được cấp 18 phần, quan lại
nhất phẩm được 15 phần, tuần tự hạ mức cho đến dân nghèo được 4 phần. Cũng
theo lệ này thì các quan chức có phẩm hàm được nhận trước ruộng đất công, sau
là binh lính và cuối cùng là xã đinh và 3 năm tiến hành quân cấp một lần. Nông
dân bị trói buộc vào ruộng đất để nộp tô thuế và đi phu dịch cho nhà nước. Tuy
nhiên, chính sách quân điền không có tác dụng đáng kể, phần lớn ruộng đất vẫn
nằm trong tay địa chủ, dân nghèo không có ruộng đất. Chẳng hạn như tình hình
ở Bình Định: Theo báo cáo của Tổng đốc Bình - Phú là Vũ Xuân Cẩn năm 1838,
ở đây ruộng đất công chỉ có trên 5000 mẫu, ruộng tư đến 17.0000 mẫu, mà
ruộng tư thì bị hào phú chiếm cả, người nghèo không nhờ cậy gì [16, tr.447]. Do
vậy, chế độ quân điền không có tác dụng phát triển nông nghiệp và ổn định đời
sống nhân dân.
Đứng trước thất bại của việc giải quyết vấn đề ruộng đất, triều Nguyễn đã
chuyển sang phương thức quen thuộc là khuyến khích nông dân đi khai hoang
và lập đồn điền, nhất là ở vùng đất mới Bắc Kì… Diện tích canh tác được mở
rộng và tại những vùng đất mới khai phá triều Nguyễn cho thành lập làng ấp cả
dân khai hoang. Do đó, hàng trăm làng xã mới ra đời trên cả nước.
Năm 1828, Nguyễn Công Trứ được cử làm Doanh điền xứ. Ông chiêu mộ
dân lưu vong khi phá miền ven biển, lập nên hai huyện mới: Tiền Hải (Thái Bình)
với 18.970 mẫu và 2350 đi; Kim Sơn (Ninh Bình) với 114.620 mẫu và 1260 đinh
[16, tr.448]. Cùng với nó là sự xuất hiện hai hình thức tư điền thế nghiệp và tư điền
quân cấp. Hàng trăm đồn điền được lập rải rác ở các tỉnh Nam Kì.

11
Việc khai hoang đã tăng thêm diện tích canh tác. Năm 1847 diện tích lên
4.273.013 mẫu [16, tr.448]. Nhưng ruộng đất bỏ hoang vốn nhiều, vì nông dân
bị địa chủ, cường hào cướp mất ruộng đất. Mâu thuẫn cơ bản trong xã hội phong
kiến Việt Nam vẫn không được giải quyết.
Cùng với công tác khai hoang, trị thủy và thủy lợi cũng là việc làm
thường xuyên của triều Nguyễn. Vào năm 1803, lần đầu tiên vua Gia Long

không vượt ra khỏi phương thức sản xuất cổ truyền để góp phần ổn định xã hội.
Trong khi đó thiên tai, mất mùa, dịch hại xảy ra liên miên đã ảnh hưởng nghiêm
trọng đến đời sống của nhân dân [16, tr.450].
Một trong những hoạt động kinh tế có ý nghĩa quan trọng trong thời kì này
là khai khoáng. Cho đến trước năm 1858, tổng số mỏ được khai thác là 139.
Phần lớn số mỏ này (gần 50%) được giao cho các thương nhân (chủ yếu là Hoa
Kiều), các tù trưởng miền núi lĩnh trưng, hàng năm nộp thuế cho nhà nước. Đối
với một số mỏ quan trọng, nhà Nguyễn trực tiếp tổ chức khai thác. Phương thức
sản xuất mà không xuất phát từ chính sách đẩy mạnh và phát triển ngành khai
mỏ mà chỉ muốn kiếm lợi. Do vậy, trong quá trình khai thác, nếu thuận lợi thì
tiếp tục tiến hành, còn nếu khó khăn thì giao lại cho tư nhân. Dù có ưu thế về
vốn liếng và nhân công nhưng các mỏ do nhà nước khai thác kém hiệu quả và
thường chỉ hoạt động trong một thời gian ngắn sau đó lại giao cho tư nhân lĩnh
trưng. Trong nhân dân, các nghề thủ công và làng nghề thủ công cổ tiếp tục
phát triển đất nước bình yên đã tạo điều kiện thuận lợi cho các ngành nghề thủ
công tăng cường hoạt động. Các nghề ươm tơ, dệt lụa, làm đồ sành sứ, rèn sắt,
đúc đồng, làm giấy, làm đường, sơn mái, in thanh, làm nỏ, khắc bản in,…Về thủ
công nghiệp, theo đà phát triển của các thế kỉ trước, thủ công nghiệp có điều
kiện phát triển thêm. Nhà Nguyễn thiết lập được nhiều quan xưởng đúc tiền, đúc
súng, đóng tàu ở kinh đô Huế, Hà Nội, Gia Định… Năm 1803, vua Gia Long
cho lập xưởng đúc tiền ở Thăng Long gọi là “Bắc thành tiền cục”. Từ 1812, nhà
Nguyễn cho đúc thêm tiền kẽm, giao cho thương nhân Trung Quốc quản lĩnh
theo quy thức nhà nước, cứ 130 quan tiền mới đúc đổi lấy 100 quan tiền đồng
trong kho [16, tr.450]. Thợ giỏi các địa phương được tập trung sản xuất trong
các xưởng nhà nước.

13
Thợ đóng tàu nước Việt Nam có tay nghề khá cao, biết ứng dụng kĩ thuật
châu Âu. Một người Mỹ đến Việt Nam năm 1820 là Gion Hoaite (J.While) viết:
“Người Việt Nam quả là những người đóng tàu thành thạo. Họ hoàn thành công

cảng” đóng cửa không giao lưu với bên ngoài [14, tr.109]. Mặc dù nước ta có vị
trí thuận lợi, bờ biển dài, có nhiều cửa biển thuận tiện cho hoạt động thông
thương với bên ngoài, nhưng nhà nước chỉ cho phép mở một vài cửa biển để
thông thương với nước ngoài nhập những mặt hàng phục vụ cho sinh hoạt của
hoàng tộc nhà Nguyễn, còn các hoạt động buôn bán khác đều bị kiểm soát chặt
chẽ, tàu buôn nước ngoài không thể vào buôn bán được. Chính sách bế quan toả
cảng của triều đình phong kiến Nguyễn đã kìm hãm sự giao lưu buôn bán với
nước ngoài, số lượng tàu bè ra vào cửa biển vắng vẻ, nguồn thu thuế quan giảm
sút, trước có tổng số 60 sở đến năm 1851 chỉ còn 21 sở… [14, tr.110].
Sự phát triển chậm chạp của công thương nghiệp ở nửa đầu thế kỉ XIX không
tạo ra được những điều kiện cần thiết cho sự biến chuyển xã hội Việt Nam.
Cùng với sự suy thoái của kinh tế thương nghiệp, các đô thị ngày càng kém
sự phồn vinh. Từ năm 1802, Thăng Long mất vị trí thủ đô, trở thành thủ phủ của
Bắc Thành và đến năm 1831 bị đổi thành tỉnh Hà Nội. Các đô thị khác như Phố
Hiến, Thanh Hà, Hội An sa sút không phục hồi lại được. Cho đến giữa thế kỉ XIX,
kinh tế đất nước trở nên hết sức trì trệ. Trong khi đó, thiên tai, mất mùa liên tiếp
xảy ra. Nạn đói thường xuyên đe dọa đời sống của người dân. Theo lời tâu của
Nguyễn Công Trứ vào năm 1833, dân đói đến tỉnh Hải Dương kiếm ăn có tới
27.000 người. Trận bão đổ bộ vào tỉnh Nghệ An năm 1842 đã làm 40.753 ngôi nhà
bị đổ, 5.240 người bị chết. Cùng với đói kém, dịch bệnh là lụt lội. Trận dịch tả xảy
ra năm 1840, riêng ở Bắc Kì, số người chết đã lên tới 67.000. Trong lúc kinh tế bế
tắc, đời sống nhân dân khốn cùng, nhà Nguyễn không những không đưa ra được
biện pháp hữu hiệu nào để giải quyết tình hình mà trái lại, bộ máy chính quyền
ngày càng quan liêu tha hóa. Vua thì không muốn biết sự thật về đời sống của dân,
ra sức vơ vét thuế khoá tiêu phí tiền của vào việc xây dựng cung điện, đền đài, lăng
tẩm. Đội ngũ quan lại thì bất tài, tham nhũng. Năm 1827, Shenho đã nhân xét:
“Dân chúng vô cùng đói khổ, vua quan bóc lột thậm tệ. Công lí là một món hàng
mua bán. Kẻ giàu có thể công khai sát hại người nghèo vì tin chắc rằng với tiền, lẽ

15


16
hạn thi không cố định. Tài liệu học tập, nội dung thi không có gì thay đổi.
Trường Quốc Tử Giám đặt ở Huế, lấy con em quan chức, các thổ quan, người
học giỏi ở địa phương vào học. Giáo dục thời Nguyễn sa sút về nhiều mặt so với
các triều đại trước. Một điểm chú ý là, năm 1836, vua Minh Mạng cho thành lập
“Tứ dịch quán” để dạy tiếng nước ngoài (Pháp, Xiêm…).
Cũng như ở các thế kỉ trước, văn học chữ Hán không còn chiếm ưu thế nữa
nữa mặc dầu vẫn còn nổi lên các nhà thơ, nhà văn lỗi lạc như Lê Qúy Đôn, Ngô Thời
Sĩ, Ngô Thì Nhậm, Phan Huy ích, Bùi Huy Bích, Đoàn Nguyễn Thục, Nguyễn
Thiếp, Trịnh Sâm, Ngô Thế Lân v.v… của thế kỉ XVIII và Cao Bá Quát, Nguyễn
Văn Siêu, Tự Đức, Minh Mạng, Tùng Thiên Vương và Tuy Lý Vương v.v của thế
kỉ XIX. Trong thời kì này xuất hiện một số tập thơ mới như: Toàn Việt Thi tập,
Hoàng Việt văn hải của Lê Quý Đôn… cùng một số tác phẩm thuộc thế kỉ sư như
Thượng kinh kí sự của Lê Hữu Trác, Hoàng Lê Nhất thống trí của tác giả họ
Ngô, Văn học dân gian tiếp tục phát triển với nhiều thể loại khác nhau và trở thành
vũ khí chống áp bức bóc lột phong kiến của nhân dân. Các thể thơ Nôm như lục bát,
song thất lục bát trở nên phổ biến và ngày càng điêu luyện. Thơ ca dân gian đã ảnh
hưởng sâu sắc đến các thi sĩ Nho gia. Tác phẩm tiêu biểu như: Chinh phụ ngâm của
Đoàn Thị Điểm và đặc biệt là tác phẩm Truyện Kiều của Nguyễn Du…
Về khoa học và kĩ thuật: Về sử học, ngay sau khi lên ngôi, năm 1811, vua
Gia Long ra lệnh cho các quan thu tìm trong dân gian những sách dã sử nói về
nhà Lê và nhà Tây Sơn để sửa lại quốc sử. Sang đầu thế kỉ XIX, sử học phát
triển mạnh mẽ. Thành tựu chủ yếu của thời kì này là sự ra đời của bộ sử và sách
biên khảo đồ sộ. Năm 1820, vua Minh Mạng cho lập Quốc sử quán làm nhiệm vụ
thu thập và biên soạn sách sử. Sau nhiều năm biên soạn công phu, cơ quan này đã
hoàn thành nhiều bộ sử lớn như: Khâm định sử Việt thông giám cương mục, Đại
Nam thực lục. Bên cạnh các công trình của triều đình còn xuất hiện những bộ sách
có giá trị của cá nhân như: Lịch triều tạp kỉ của Ngô Cao Lãng, Sử học bị khảo của
Đặng Xuân Bảo, Quốc sử di biên của Phan Thúc Trực và nhất là bộ bách khoa Lịch

18
Chƣơng 2
PHONG TRÀO NÔNG DÂN TIÊU BIỂU Ở BẮC KÌ

Mặc dù các vua triều Nguyễn có nhiều cố gắng, nhưng các mặt nông,
công, thương đều đình trệ, làm cho các tầng lớp nhân dân mà chủ yếu là nhân
dân lao động nghèo lâm vào cảnh sống cơ cực.
Chẳng những nhà Nguyễn không cải thiện được tình hình mà trái lại, ngày
càng thêm rối ren. Nạn chiếm đoạt và tập trung ruộng đất của giới địa chủ, nạn
nhũng nhiễu của giới quan lại, chế độ thu tô và lao dịch khắc nghiệt, thêm vào
đó là nạn thiên tai và ôn dịch luôn xảy ra… tất cả đã làm cho mâu thuẫn xã hội
ngày càng gay gắt, càng làm bùng lên làn sóng đấu tranh quyết liệt của các tầng
lớp nhân dân nghèo đói ở khắp mọi miền đất nước chống lại chế độ cai trị của
nhà Nguyễn.
Những cuộc nổi dậy của nông dân chống triều Nguyễn đã bùng lên từ rất
sớm. Ngay khi vua Gia Long vừa nối ngôi được mấy năm thì đã có nhiều cuộc
khởi nghĩa nông dân bùng nổ và lan rộng, mà trước hết là ở vùng đồng bằng Bắc
Bộ. Căn cứ vào sử biên niên của nhà Nguyễn, thì chỉ tính trong nửa đầu thế kỉ
XIX đã có gần 400 cuộc nổi dậy, trong đó riêng thời Minh Mạng có tới 254
cuộc, tiêu biểu nhất là các cuộc nổi dậy của: Phan Bá Vành (1821 - 1827), Cao
Bá Quát (1854 - 1855) và Lê Duy Lương (1832 - 1838) [19, tr.166 - 173].
2.1. Cuộc khởi nghĩa Mỹ Lƣơng của Cao Bá Quát (1854-1855)
Cao Bá Quát tự là Chu Thần, hiệu là Cúc Đường hiệu là Mẫn Hiên, sinh
năm 1808, quê làng Phú Thị, huyện Gia Lâm (Hà Nội). Làng Phú Thị cách trung
tâm kinh đô Thăng Long xưa, thủ đô Hà Nội ngày nay khoảng 17km về phía đông,
ngày trước là nơi làm ăn buôn bán thịnh vượng. Đầu thế kỉ XIX, Làng Phú Thị
thuộc tổng Kim Sơn, huyện Gia Lâm, phủ Thuân An, xứ Kinh Bắc. Làng Phú Thị
có tên nôm là làng Sủi. Làng Sủi - Phú Thị là vùng đất cổ, ở vào điểm giao lưu của
ba vùng đất nổi tiếng văn hiến, nổi danh khoa bảng của xứ Bắc Hà. Đó là Thăng
Long - Hà Nội, vùng Kinh Bắc - Bắc Ninh và Xứ Đông - Hải Dương.

người dân các tỉnh Bắc Kì. Ở kinh thành, hoàng tử Hồng Bảo mưu loạn, hàng
loạt người bị bắt giam, xử tử. Vào thời kì xã hội phong kiến, bất công xảy ra là

20
chuyện thường ngày, kẻ trên đối với người dưới theo kiểu “cá lớn nuốt cá bé”,
“người sang trói buộc người hèn” thì việc nổi lên phản kháng, chống lại cường
quyền là tư tưởng luôn tiềm ẩn trong dân chúng [15, tr.169].
Cao Bá Quát là bậc kì tài nổi tiếng, thông minh hiếm có, nên khi khoảng
13 tuổi ông đã cắp lều chõng đi thi hương. Ông là một nhà nho giỏi nhưng do
bản tính phóng khoáng, văn chương không chịu uốn theo chiều khuôn phép của
triều đình nên mãi tới khoa Tân Mão (1831) mới đỗ cử nhân, lúc này ông mới có
23 tuổi. Năm 1847, ông được bổ Vào Hàn Lâm Viện nhưng vì tính cương trực
nên Cao Bá Quát bị đuổi ra Bắc làm Giáo Thụ phủ Quốc Oai vào khoảng cuối
năm 1850 đến cuối năm 1853 ở các vùng Tuyên Quang, Cao Bằng, Thái
Nguyên, Lạng Sơn. Đây là nơi thường xuyên xảy ra các cuộc nổi dậy của nông
dân chống triều đình Huế, có tổ chức khá qui mô.
Căm ghét chính sách cai trị của nhà Nguyễn, nhìn thấy bao cảnh bất công
trong xã hội và đời sống đói khổ của người dân, bản thân ông rất đau buồn,
muốn đem tài năng ra thi thố giúp đời mà không thực hiện được. Ông đã quyết
định từ bỏ chức vị, lấy cớ về nhà nuôi mẹ già. Ông đã liên lạc với một số sĩ phu
Bắc Kì. Ở phủ Quốc Oai lúc bấy giờ thương xuyên xảu ra những cuộc nổi dậy
của nông dân chống đối triều đình Huế, có tổ chức qui mô khá lờn và thường
mượn danh nghĩa “phù Lê” để dễ dàng hiệu triệu dân chúng, thu phục nhân tâm
kẻ sĩ Bắc Hà. Chính trong thời gian này, Cao Bá Quát đã bí mật liên lạc và gia
nhập vào tổ chức nông dân khởi nghĩa của Lê Duy Cự, suy tôn Lê Duy Cự - một
người chắt rất xa của vua Lê lên làm minh chủ, Cao Bá Quát tự xưng là Quốc
Sư, dương cao lá cờ “Phù Lê” hợp với thổ mục Sơn Tây là Đinh Công Mỹ, Bạch
Côn Trần tập hợp nông dân và các dân tộc vùng trung du, định nổi dậy ở Hà
Nội, Bắc Ninh: “Tháng 8 năm Giáp Dần(1854), Cao Bá Quát ở Bắc Ninh họp
ngầm bộ lũ, mưu khởi nghịch (hẹn ngày tới thành Hà Nội khởi loạn), bị người tố

nhiễu, hoành hành, khoét sâu vào những chỗ ung độc của triều Nguyễn đã thối
nát càng thêm thối nát. Thêm nữa, trong hoàng tộc triều Nguyễn lại xảy ra biến
cố cực kì nghiêm trọng: Đó là việc Hoàng Bảo, anh của vua Tự Đức định cướp
ngôi vua nhưng thất bại, Hồng Bảo phải tự tử trong ngục (1854) do: Trước đây
vua Thiệu Trị (1841-1847), trước khi mất đã lập con thứ là Phúc Tuy Công
Hồng Nhậm lên làm vua, tức là vua Tự Đức (1848-1883). Vua Thiệu Trị phế bỏ

22
con trưởng là An Phong công Hồng Bảo do không có đủ tài và đủ đức. Tức giận,
Hồng Bảo họp một số người bất đắc chí và nhiều tham vọng âm mưu làm cuộc
đảo chính tại kinh thành. Hồng Bảo cử người vận động người phương Tây giúp
đỡ cả nhân lực và vũ khí. Khoảng đến tháng 3-1853, có một chiếc tàu Tây không
rõ quốc tịch đến đậu ở ngoài cửa biển Thuận An, trên có khá đông người Trung
Quốc, Xiêm La và Nam Kì. Trên tàu có trở thêm vũ khí, đạn dược và một số
người châu Âu. Tuy nhiên, đoàn người này đợi lâu không có động tĩnh gì liền nổ
neo chạy ra ngoài khơi. Sau đó, Hồng Bảo bị bắt và bị truy tố về tội âm mưu
phản nghịch nhưng vua Tự Đức nể tình thân đã kết án chung thân đối với Hồng
Bảo nhưng Hồng Bảo đã cắt cổ trong nhà giam. Việc cốt nhục tương tàn đủ làm
rung động trong triều và ngoài ra, tạo ra một kẽ hở cho bọn ngoại xâm dễ bề
nhòm ngó.
Dân chúng đứng trước một cuộc sống luôn bị đe dọa bởi mất mùa và đói
kém, giặc dã uy hiếp … đời sống có nay, không biết mai ra sao cho nên hễ một
tia hi vọng nào rọi đến họ liền hưởng ứng một cách nhiệt tình. Sự nhiệt tình ấy
đã được Cao Bá Quát và những người lãnh đạo khởi nghĩa nắm bắt, tập hợp họ
dưới lá cờ “Thang - Vũ cách mạng”.
Đứng trước sự lớn mạnh của phong trào, triều đình đã điều binh khiển
tướng đi đánh dẹp, thậm chí còn treo giải trưởng để bắt Cao Bá Quát (bắt sống
sẽ thưởng 500 lạng bạc, giết chết thưởng 300 lạng và định ra mức thưởng cho
quan chức nữa). Vì quân triều đìn đuổi đánh gấp rút nên thế lực của cuộc khởi
nghĩa dần dần suy nhược, tan rã, khó lòng thu thập được. Cao Bá Quát để ý,


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status