Ảnh hưởng của Nho giáo đến một số lĩnh vực chủ yếu trong xã hội phong kiến Việt Nam dưới triều Nguyễn nửa đầu thế kỷ XIX - Pdf 25

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
* * * PHẠM THỊ KIM CƯƠNG ẢNH HƯỞNG CỦA NHO GIÁO ĐẾN MỘT SỐ LĨNH
VỰC
CHỦ YẾU TRONG XÃ HỘI PHONG KIẾN VIỆT
NAM
DƯỚI TRIỀU NGUYỄN NỬA ĐẦU THẾ KỶ XIX
LUẬN VĂN THẠC SỸ TRIẾT HỌC Chuyên ngành: Triết học
Mã số : 60.22.80
HÀ NỘI - 2007

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN


Trang
MỞ ĐẦU 2
NỘI DUNG 8
Chương 1 8
BỐI CẢNH XÃ HỘI PHONG KIẾN VIỆT NAM DƯỚI TRIỀU NGUYỄN
NỬA ĐẦU THẾ KỶ XIX VÀ VẤN ĐỀ TÁI ĐỘC TÔN NHO GIÁO 8
1.1. Khái lược về Nho giáo và vị trí, vai trò của Nho giáo ở Việt Nam trước
thế kỷ XIX 8
1.1.1. Nho giáo và những tư tưởng cơ bản của Nho giáo 8
1.1.2. Vài nét về Nho giáo Việt Nam trước thế kỷ XIX 22
1.2. Triều Nguyễn nửa đầu thế kỷ XIX và sự tái độc tôn Nho giáo 30
1.2.1. Bối cảnh xã hội phong kiến Việt Nam nửa đầu thế kỷ XIX 30
1.2.2. Vị trí, vai trò của Nho giáo dưới triều Nguyễn nửa đầu thế kỷ XIX 41
Chương 2 47
NHỮNG ẢNH HƯỞNG CHỦ YẾU CỦA NHO GIÁO DƯỚI TRIỀU
NGUYỄN NỬA ĐẦU THẾ KỶ XIX 47
2.1. Ảnh hưởng của Nho giáo trong việc hoạch định đường lối cai trị và
quản lý xã hội 47
2.1.1. Ảnh hưởng của Nho giáo trong việc xây dựng hệ tư tưởng và đường lối
cai trị 48
2.1.2. Vai trò của đạo làm vua trong cai trị và quản lý xã hội 58
2.1.3. Quan niệm về dân và vai trò của dân 60
2.2. Ảnh hưởng của Nho giáo trong lĩnh vực giáo dục - khoa cử 68
2.3. Ảnh hưởng của Nho giáo tới việc xây dựng và thi hành pháp luật 79
2.4. Giá trị chủ yếu và hạn chế cơ bản của Nho giáo triều Nguyễn trong
giai đoạn nửa đầu thế kỷ XIX 92
2.4.1. Những giá trị chủ yếu của Nho giáo dưới triều Nguyễn nửa đầu thế kỷ XIX92
2.4.2. Những hạn chế cơ bản của Nho giáo dưới triều Nguyễn nửa đầu thế kỷ XIX93
KẾT LUẬN 96

thời kỳ trước đây của chế độ phong kiến Việt Nam, tư tưởng Nho giáo là công
cụ chủ yếu để bảo vệ địa vị thống trị, lợi ích và uy quyền của giai cấp phong
kiến thống trị. Nhà Nguyễn lựa chọn Nho giáo như là cứu cánh duy nhất để
phục hưng chế độ phong kiến cũng như củng cố tham vọng xây dựng triều đại
bền vững, hùng mạnh. Nhưng dưới triều Nguyễn, các yếu tố tiêu cực nhất
trong Hán Nho, Tống Nho được triều Nguyễn khai thác và sử dụng triệt để.
Những quan niệm về Thiên mệnh, Tam cương, Ngũ thường với những hạn

3
chế và tính chất tiêu cực của nó đều biến thành công cụ, phương tiện hữu hiệu
nhất nhằm củng cố ngôi vua, duy trì và bảo vệ địa vị thống trị cùng những lợi
ích của giai cấp phong kiến thống trị.
Nửa đầu thế kỷ XIX, dưới triều Nguyễn là giai đoạn tư tưởng Nho giáo
và hệ tư tưởng phong kiến cực quyền giữ vai trò thống trị tuyệt đối trong bối
cảnh chế độ phong kiến Việt Nam ngày càng trì trệ, khủng hoảng và dần suy
vong.
Sự độc tôn tuyệt đối của Nho giáo dưới triều Nguyễn chứng tỏ rằng,
nhà Nguyễn tái địa vị độc tôn của Nho giáo trong kiến trúc thượng tầng của
xã hội phong kiến Việt Nam, tuyệt đối hoá vai trò chi phối của Nho giáo trong
mọi mặt, mọi lĩnh vực của đời sống xã hội và con người là chủ yếu nhằm khôi
phục và củng cố chế độ phong kiến, địa vị thống trị của giai cấp phong kiến
Việt Nam, ngay cả khi chế độ này đang có nguy cơ sụp đổ do những nguyên
nhân chủ quan và khách quan, do quy luật của sự vận động, phát triển xã hội
đầu thế kỷ XIX ở Việt Nam quy định.
Nghiên cứu ảnh hưởng của Nho giáo đối với chế độ phong kiến Việt
Nam là một trong những nội dung cốt lõi của tư tưởng Việt Nam nửa đầu thế
kỷ XIX. Có nhiều vấn đề đặt ra xung quanh chủ đề này như: Tại sao triều
Nguyễn lựa chọn Nho giáo là quốc giáo? Nho giáo thời kỳ này ảnh hưởng
như thế nào đối với xã hội Việt Nam? Tại sao Nho giáo không thể vực dậy
chế độ phong kiến mục ruỗng thối nát? Mặt khác, bên cạnh việc chỉ ra

thiệu các nội dung nghiên cứu của nhiều tác giả trong cuộc Hội thảo: “Nho
giáo trong lịch sử và tàn dư của nó trong xã hội Việt Nam”. Cuốn sách là bản
tổng tập những tham luận nghiên cứu về lịch sử tư tưởng Việt Nam nói chung
và Nho giáo Việt Nam nói riêng. Trong đó có một số bài tham luận đề cập
đến lịch sử của Nho giáo nói chung và lịch sử phát triển của Nho giáo tại Việt
Nam nói riêng, ảnh hưởng của Nho giáo trong lịch sử nói chung và từng lĩnh
vực văn hoá, tư tưởng nói riêng tại Việt Nam. Đó là một công trình lớn song
chưa thật sự đi sâu nghiên cứu và có hệ thống về một giai đoạn phát triển của
Nho giáo cũng như những ảnh hưởng của nó đến xã hội phong kiến Việt Nam
nửa đầu thế kỷ XIX.
Trong cuốn Lịch sử tư tưởng Việt Nam, tập 2, tác giả Lê Sỹ Thắng đã
chỉ ra những ảnh hưởng sâu rộng và nổi bật của Nho giáo trong lịch sử tư
tưởng, văn hoá, xã hội nước ta trong thế kỷ XIX. Tác giả cuốn sách này đã có
những đóng góp to lớn về mặt tư liệu trong việc nghiên cứu lịch sử tư tưởng
Việt Nam nói chung và lịch sử tư tưởng Việt Nam thế kỷ XIX nói riêng. Song
đó chưa phải là công trình nghiên cứu chuyên sâu về những ảnh hưởng của
Nho giáo đến xã hội Việt Nam nửa đầu thế kỷ XIX…

5
Luận án Tiến sĩ Học thuyết chính trị xã hội của Nho giáo và sự thể hiện
của nó ở Việt Nam (từ thế kỷ XI đến nửa đầu thế kỷ XIX) của tác giả Nguyễn
Thanh Bình đã trình bày một cách có hệ thống những nội dung cơ bản của
học thuyết chính trị xã hội của Nho giáo, sự thể hiện của Nho giáo trong đời
sống tinh thần con người Việt Nam và phân tích vai trò của Nho giáo trong
việc hoạch định đường lối của chế độ phong kiến. Đây là một công trình
nghiên cứu với phạm vi rộng và bao quát toàn bộ các giai đoạn phát triển của
chế độ phong kiến Việt Nam từ thế kỷ XI đến nửa đầu thế kỷ XIX chịu ảnh
hưởng của Nho giáo với những mức độ đậm nhạt khác nhau tuỳ từng thời kỳ
cụ thể. Trong luận án này, những ảnh hưởng chủ yếu của Nho giáo đối với xã
hội phong kiến Việt Nam nửa đầu thế kỷ XIX chỉ được đề cập đến ở một mức

Nam đã góp phần làm sáng tỏ hơn, cụ thể hơn về vị trí, vai trò và ảnh hưởng
của Nho giáo trong xã hội phong kiến Việt Nam và đưa ra những gợi mở mà
người nghiên cứu sau có thể kế thừa, phát huy. Song vẫn còn những vấn đề,
những nhận định trong các công trình này cần được tiếp tục nghiên cứu; vẫn
còn có những phương diện cần phải bổ sung và cần phải làm rõ, đặc biệt là
những ảnh hưởng chủ yếu của Nho giáo trong xã hội phong kiến Việt Nam
dưới triều Nguyễn nửa đầu thế kỷ XIX.
3. Mục đích và nhiệm vụ của đề tài
Mục đích
Thông qua việc phân tích những ảnh hưởng chủ yếu của Nho giáo trong
một số lĩnh vực của xã hội phong kiến Việt Nam dưới triều Nguyễn nửa đầu
thế kỷ XIX, luận văn chỉ ra những đóng góp và hạn chế chủ yếu của nó trong
xã hội phong kiến Việt Nam giai đoạn này.
Nhiệm vụ
Xuất phát từ lý do chọn đề tài, tình hình nghiên cứu và mục đích nghiên
cứu của đề tài, luận văn trình bày và phân tích những nội dung sau:
- Bối cảnh xã hội Việt Nam nửa đầu thế kỷ XIX và vấn đề tái độc tôn
Nho giáo.
- Những ảnh hưởng chủ yếu của Nho giáo trong xã hội phong kiến Việt
Nam dưới triều Nguyễn nửa đầu thế kỷ XIX ở một số lĩnh vực chủ yếu như:
chính trị, giáo dục, pháp luật.
- Những giá trị chủ yếu và hạn chế cơ bản của Nho giáo dưới triều
Nguyễn nửa đầu thế kỷ XIX.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu:
Nho giáo Việt Nam nửa đầu thế kỷ XIX và ảnh hưởng của nó trong xã
hội phong kiến Việt Nam thời kỳ này.

7
Phạm vi nghiên cứu:

8
NỘI DUNG

Chương 1
BỐI CẢNH XÃ HỘI PHONG KIẾN VIỆT NAM DƯỚI TRIỀU NGUYỄN
NỬA ĐẦU THẾ KỶ XIX VÀ VẤN ĐỀ TÁI ĐỘC TÔN NHO GIÁO
1.1. Khái lược về Nho giáo và vị trí, vai trò của Nho giáo ở Việt Nam trước
thế kỷ XIX
1.1.1. Nho giáo và những tư tưởng cơ bản của Nho giáo
Nho giáo là một học thuyết triết học, chính trị - xã hội, đạo đức ra đời
và phát triển trong xã hội phong kiến Trung Quốc thời kỳ Xuân Thu - Chiến
quốc. Nho giáo do Khổng Tử (551-479 TCN) sáng lập, nhưng tư tưởng Nho
giáo đã có trước Khổng Tử. Các tư tưởng cơ bản của Nho giáo nằm trong các
bộ kinh: Thi, Thư, Lễ, Nhạc, Dịch, được Khổng Tử san định lại với tinh thần
“thuật nhi bất tác” nhằm tiếp thu, hệ thống lại và khẳng định những nguyên
tắc cai trị, nguyên lý cơ bản của Nho giáo. Kinh điển của Nho giáo bao gồm
Tứ thư (Đại học, Trung Dung, Mạnh Tử, Luận Ngữ) và Ngũ kinh (Thi, Thư,
Lễ, Dịch, Xuân Thu). Trong hơn hai nghìn năm tồn tại với tư cách là dòng
chính của văn hoá Trung Quốc, Nho giáo đã gìn giữ và làm giàu di sản văn
hoá Trung Quốc, văn hoá Phương Đông. Quá trình phát triển của Nho giáo có
thể khái quát thành hai giai đoạn chính: Nho giáo Tiên Tần và Nho giáo từ
nhà Hán đến nhà Thanh.
Nho giáo Tiên Tần hay còn gọi là Nho giáo nguyên thuỷ với các nhà tư
tưởng tiêu biểu như: Khổng Tử (551 - 479 TCN) sáng lập, Mạnh Tử (372 -
289 TCN), Tuân Tử (313 - 238 TCN) kế thừa và phát triển. Trong thời kỳ
“Bách gia tranh minh”, “Bách gia chư tử” này, Nho giáo chưa có được ưu thế
song nó đã thể hiện tính hệ thống và mang nhiều tính tích cực, nhân bản. Với
lý tưởng thiết lập lại trật tự lễ pháp nhà Chu, hướng tới một thiên hạ bình trị,
Nho giáo chủ trương dùng Nhân trị, Đức trị để giáo hoá, quản lý xã hội. Nho
giáo đã đưa ra hàng loạt các chuẩn mực như: Nhân, Lễ, Nghĩa, Hiếu, Trung…

nhân trị, quân tử và tiểu nhân, v.v… Những cái ấy được tất cả hay số đông
các nhà Nho các thời xem là chân lý vĩnh cửu: chân lý vĩnh cửu trời cho, đó
cũng gọi là “đạo”, “thiên địa chi thường hình, cổ kim chi thông nghị” và
“thiên địa bất biến, đạo diệc bất biến”. Đó là những loại mắt kính mà tất cả
hay hầu hết các nhà Nho đều mang vào để nhìn mọi hiện thực, xét mọi sự
việc” [24, tr. 95].

10
Có rất nhiều công trình nghiên cứu về Nho giáo và tư tưởng cơ bản của
Nho giáo. Mỗi giai đoạn phát triển của Nho giáo lại có sự kế thừa, bổ sung
các tư tưởng trước đó, song tựu trung lại, tư tưởng cơ bản của Nho giáo đề
cập đến những vấn đề: nguồn gốc thế giới, con người; vị trí, vai trò của con
người trong thế giới, trong đó phần lớn nội dung của Nho giáo là những tư
tưởng về chính trị, xã hội.
* Lý giải về nguồn gốc thế giới và vạn vật, quan niệm của Nho giáo có
hai xu hướng cơ bản. Theo quan niệm duy tâm, trong Kinh Lễ, mọi vật có
nguồn gốc do trời sinh ra: “Vạn vật bản hồ thiên, nhân bản hồ tổ”. Nguồn gốc
của vũ trụ, theo khuynh hướng duy tâm, xét đến cùng là trời. Khổng Tử và
các học trò của ông không nói rõ ràng, hệ thống về “trời”. Có khi trời được
quan niệm như là quy luật, trật tự của vạn vật: “Trời có nói gì đâu mà bốn
mùa cứ vận hành, vạn vật cứ sinh hoá mãi”; có khi trời lại được nhìn nhận
như là một thực thể có nhân cách, có ý chí, có quyền năng vô hạn đối với vạn
vật và con người. Sống - chết, giàu - nghèo…, theo Khổng Tử đều do trời quy
định, đều là do “mệnh trời”, con người với nỗ lực chủ quan không thể thay
đổi được mệnh trời mà chỉ có thể hiểu, phục tùng và làm theo mệnh trời.
Thậm chí, theo Khổng Tử, Đạo có thể lưu hành hay không cũng là do mệnh
trời.
Cũng trong quan niệm về thế giới, Khổng Tử coi quỷ thần là khí thiêng
của trời đất, là không minh chứng được, không nhìn thấy, không nghe thấy,
không có vai trò đối với con người. Song ông lại chủ trương, đối với quỷ thần

là ngọn. Theo hai ông, Lý, Thái cực và trời là đồng nhất; vạn vật đều chỉ là
một lý trời. Đó là cái tinh thần vũ trụ độc lập với con người, là gốc vạn vật.
Theo họ, Lý còn là đạo đức, luân lý làm người. Các quan hệ vua-tôi, cha-con,
vợ-chồng… tất cả đều là lý trời.
Trên cơ sở phát triển quan niệm Lý, Khí của Nhị Trình, Chu Hy cho
rằng: Lý, Khí cùng tồn tại, mọi vật trong vũ trụ đều do Lý, Khí hình thành.
Ông cho rằng, nếu không có cái Lý ấy thì dù có cái Khí nào đó tồn tại thì
cũng không thể sinh ra muôn vật, con người, nếu không có cái Khí ấy ngưng
tụ lại thì cái Lý ấy cũng không có cái treo mắc và mất tác dụng. Lý và Khí
thống nhất mới có thể biểu hiện được tác dụng sinh thành và tồn tại của tạo
hoá. Trong sự thống nhất của Lý (tính) và Khí (hình thể) thì Lý là cái có
trước, là cái cơ bản. Lý làm nên bản tính của sự vật và làm cho sự vật chính là
nó.

12
Chu Hy đã coi Lý là nguyên mẫu tối cao của trời đất. Theo ông, nếu
toàn bộ vũ trụ, vạn vật như một chỉnh thể thống nhất thì cũng cần có một Lý
cao nhất, bao trùm cái Lý của mỗi vật. Cái Lý đó là Thái cực, là cái tuyệt đối,
nguyên mẫu, là đạo của vạn vật, ngoài ra không có gì cả. Thái cực không
những là Lý của vũ trụ mà còn là Lý của từng sự vật đơn lẻ. Thái cực chỉ có
một, mỗi vật là sự bẩm thụ của nó mà sinh thành, mỗi vật bao chứa trong nó
cái duy nhất ấy.
Như vậy, tư tưởng của các nhà Nho thời Tống về nguồn gốc vũ trụ, vạn
vật được trình bày thông qua quan niệm về Lý, Khí. Mối quan hệ giữa Lý,
Khí là quan niệm mang tính chất duy tâm khách quan, thông qua đó đã lý giải,
cụ thể hoá và khẳng định những nguyên lý đạo đức của Nho giáo.
Đối lập với khuynh hướng duy tâm trong quan niệm về nguồn gốc thế
giới và vạn vật là khuynh hướng duy vật trong hệ thống triết học của Tuân
Tử, Chu Đôn Di, Trương Tải. Tuân Tử đã bác bỏ quan niệm duy tâm về trời,
mệnh trời, đồng thời ông khẳng định, toàn bộ thế giới gồm có ba bộ phận:

* Vấn đề con người là vấn đề trung tâm trong nhiều trường phái triết
học. Trong triết học Nho giáo, vấn đề con người được đề cập ngay từ đầu và
từ rất sớm, con người đã được đề cao, vai trò của con người cùng với trời đất
là tiêu biểu cho tam tài: Thiên, Địa, Nhân. Khi đề cập đến vấn đề con người,
các nhà Nho chủ yếu lý giải về nguồn gốc, bản tính và vai trò của con người.
Về nguồn gốc của con người, trong Nho giáo xuất hiện khuynh hướng
duy tâm, thần bí và khuynh hướng duy vật. Tiêu biểu cho khuynh hướng duy
tâm thần bí trong quan niệm nguồn gốc của con người là Khổng Tử, Đổng
Trọng Thư, Chu Hy. Theo Khổng Tử, trời sinh ra người, con người cũng như
vạn vật là sự giao cảm giữa âm và dương. Khổng Tử coi con người khác vũ
trụ, khác vạn vật là do con người có đạo đức (nhân, nghĩa, lễ, trí). Để duy trì
bản tính người ấy, con người phải biết kính trời, thờ trời, suy nghĩ, hành động
phải hợp đạo trời, phải luôn tu dưỡng đạo đức.
Đổng Trọng Thư đã tiếp thu và phát triển tính chất duy tâm thần bí
trong quan niệm về nguồn gốc con người của Khổng Tử đến mức độ cao.
Theo ông, trời là ông tổ của con người, không có trời thì con người không thể
sinh ra được. Trật tự xã hội, chính quyền của con người, các quan hệ trong
ngũ luân, những chuẩn mực đạo đức trong ngũ luân, ngũ thường, theo ông, tất
cả đều do trời sinh ra, do trời sắp đặt.

14
Lý học đời Tống cũng đặt ra và lý giải về nguồn gốc của con người
nhưng về cơ bản trên lập trường duy tâm thần bí. Theo Trình Hạo, Trình Di,
con người sinh thành là do sự tụ lại của Khí, mà Khí do Lý sinh ra. Do vậy,
nguồn gốc đầu tiên của con người là Lý, là Thái cực (Lý ở đây là Thiên Lý).
Đạo đức, nhân luân của con người cũng do Lý trời mà ra. Việc con người thi
hành đạo lý tam cương, ngũ thường cũng chính là thi hành đạo trời.
Chu Hy là người hoàn thiện tư tưởng của Nhị Trình nói riêng và Lý học
nói chung. Ông được coi là “tập đại thành” của khuynh hướng duy tâm thần
bí Tống Nho. Theo ông, con người là sự thống nhất của Lý và Khí, con người

quan, chất phác nhưng đó là tư tưởng tiến bộ trong hệ thống triết học Nho
giáo và triết học cổ đại nói chung.
Quan niệm về tính người của Nho giáo là một trong những nội dung cơ
bản của triết học Nho giáo vì vấn đề tính người không chỉ gắn bó chặt chẽ với
vấn đề nguồn gốc, bản chất người mà có còn là nguyên lý xuất phát để từ đó
các nhà Nho xây dựng học thuyết chính trị - đạo đức.
Vấn đề tính người trong triết học Nho giáo cũng có những cách lý giải
khác nhau. Khổng Tử là người đầu tiên đề cập đến tính người. Ông cho rằng,
bản tính con người gần giống nhau, do tập nhiễm mới khác xa nhau: “Tính
tương cận, tập tương viễn dã” [43, tr. 284]. Tức là tính của con người khi sinh
ra đều có bản tính lành do bẩm thụ ở trời; nhưng bản tính ban đầu ấy có thể bị
biến đổi bởi những điều kiện, yếu tố ngoại cảnh, bởi sự tu dưỡng của mỗi
người.
Mạnh Tử cũng cho bản tính con người là do trời phú, là tiên thiên, ông
khẳng định bản tính con người là thiện. Tính thiện của con người biểu hiện ở
bốn đức lớn là Nhân, Nghĩa, Lễ, Trí. Bốn đức lớn đó của con người bắt nguồn
từ Tứ đoan (bốn đầu mối của thiện) hay còn gọi là Tứ thiện đoan (lòng trắc ẩn
là đầu mối của nhân, lòng u tố là đầu mối của nghĩa, lòng từ nhượng là đầu
mối của lễ, lòng biết phải trái là đầu mối của trí). Tứ thiện đoan có sẵn ở trong
con người, nhiệm vụ của con người là giữ gìn, nuôi dưỡng nó, tức là phải “tồn
tâm, dưỡng tính” thiện.
Khác với Mạnh Tử, Tuân Tử xuất phát từ nhu cầu mang tính bản năng
và tự nhiên của con người là luôn suy nghĩ, hành động để thoả mãn dục vọng,
là tự tư tự lợi, cho nên ông cho rằng, nhân chi sơ tính bản ác. Tuân Tử cho
tính người là ác nhưng nó không bất biến mà có thể thay đổi, có thể trở thành
thiện. Để làm cho tính người từ ác thành thiện, theo ông, hoàn toàn phụ thuộc

16
vào tu dưỡng đạo đức làm người của mỗi cá nhân. Và phương thức tu dưỡng
tốt nhất là học tập, thực hành theo đạo đức (Nhân, Nghĩa, Lễ, Trí, Tín).


17
được bản chất của muôn vật. Trong quan hệ với trời, con người chỉ có thể
nhận thức và đem đạo trời, mệnh trời ra thi hành. Điều đó đã phủ nhận khả
năng nhận thức thế giới của con người. Đây là quan niệm duy tâm, bởi trước
trời, con người chỉ là lực lượng thụ động, lệ thuộc.
Về vai trò của con người trong xã hội. Trong học thuyết của Nho giáo,
chỉ chủ yếu tập trung bàn đến ba mối quan hệ cơ bản (còn gọi là tam cương)
trong ngũ luân, đó là: vua - tôi, cha - con, chồng - vợ. Quan hệ vua - tôi được
coi là quan hệ chính, bao trùm các quan hệ khác. Trong quan hệ này thể hiện
tính hai chiều: quân nhân thần trung. Bề tôi phải tận trung, tận hiếu; còn vua
làm theo mệnh trời, thay trời trị dân, nuôi dưỡng dân, giáo hoá dân. Theo đó,
vua phải có đạo đức, thường xuyên tu dưỡng đạo đức, thương yêu dân, hành
động hợp lòng dân, nghĩa là vua cần có các phẩm chất, đức tính: nhân, nghĩa,
lễ, trí, tín; bề tôi phải tuyệt đối trung thành, tuân thủ một cách vô điều kiện ý
chí, mệnh lệnh của vua, bởi đó cũng chính là ý chí, mệnh lệnh của trời.
Quan hệ cha - con cũng là quan hệ cơ bản của con người, theo chuẩn
mực đạo đức của Nho giáo, cha từ con hiếu. Cha mẹ là người sinh ra, nuôi
dưỡng, giáo dục con cái; con cái luôn kính trọng và chăm sóc cha mẹ. Trong
mối quan hệ này, Nho giáo đề cao vai trò của người cha, coi việc con cái có
hiếu là phải chăm sóc, phụng dưỡng, kính trọng và tuyệt đối phục tùng mệnh
lệnh của cha mẹ.
Trong quan hệ vợ - chồng, Nho giáo đưa ra chuẩn mực đạo đức phu
nghĩa phụ kính. Theo Nho giáo, vợ chồng là quan hệ hôn nhân, ràng buộc bởi
trách nhiệm và nghĩa vụ với nhau thông qua phạm trù Nghĩa, và cũng theo các
nhà Nho, người phụ nữ luôn phải giữ tiết hạnh, phẩm chất của Tam tòng (tại
gia tòng phụ, xuất giá tòng phu, phu tử tòng tử), Tứ đức (công, dung, ngôn,
hạnh). Do vậy, vai trò, vị trí của người phụ nữ trong xã hội cũng như trong gia
đình được nhìn nhận thấp hơn so với người đàn ông.
Như vậy, Nho giáo xuất phát từ các mối quan hệ xã hội cụ thể, từ

“Quân hành nhân chính, tư dân thân kỳ thượng, tử kỳ trưởng kỹ” (Nếu vua thi
hành nền chính trị nhân đức: ban ân huệ cho dân, khiến các quan chức trông
nom dân chúng thì dân sẽ thương mến người bề trên, dám liều chết vì kẻ bề
trên của mình) [98, tr. 70]. Tư tưởng Đức trị thể hiện ở các nội dung cụ thể
như sau:
Một là, tư tưởng Đức trị chính là việc thực hiện Nhân, Lễ, Chính danh
trong cai trị và quản lý xã hội.

19
Nhân, Lễ, Chính danh là ba phạm trù cơ bản của triết học chính trị Nho
giáo và có quan hệ biện chứng: Nhân được coi nội dung của Lễ; Lễ là hình
thức của Nhân; sự thống nhất của Nhân và Lễ là Chính danh.
Nhân là phạm trù cơ bản, quan trọng nhất của tư tưởng Đức trị. Khổng
Tử có nhiều cách nói, cách quan niệm về phạm trù Nhân thể hiện trong các
trường hợp cụ thể như “nhân là ái nhân”, “kỷ sở bất dục vật thi ư nhân”…,
song nhìn chung, trong triết học Nho giáo, Nhân có hai nghĩa: thứ nhất, đó là
phẩm chất đạo đức chủ yếu, cao nhất của con người, là chuẩn mực đạo đức cơ
bản để con người tu dưỡng và hoàn thiện nhân cách; thứ hai, là chỉ các đức
tính cần có của con người (rộng lượng với mọi người; hiểu biết để có thái độ
đúng đắn trong mọi hoàn cảnh; dũng cảm nhận trách nhiệm; giữ mình đúng
lễ…). Còn phạm trù Lễ cũng là một phạm trù đạo đức, chuẩn mực đạo đức.
Khi được sử dụng, nhìn nhận từ phương diện chính trị, phạm trù Lễ chỉ tôn ti,
trật tự của xã hội mà mọi người phải biết, phải tuân thủ. Trong xã hội có vua -
tôi, cha - con, chồng - vợ, việc trái - phải… do vậy cần có Lễ để phân minh rõ
ràng. Mỗi lời nói, hành động của con người theo Nho giáo, phải theo đúng Lễ.
Chính danh cũng là nội dung cơ bản trong tư tưởng Đức trị. Chính danh
là khái niệm được Khổng Tử đặt ra, đó là việc đặt đúng tên, gọi đúng tên của
sự vật sao cho đúng với thực chất của nó. Chính danh trong tư tưởng Đức trị
là yêu cầu mỗi người cần phải có phẩm chất tương xứng với địa vị xã hội của
mình, phải suy nghĩ, hành động đúng với vị trí ấy, không được tranh giành địa

dân là quý (dân vi quý); còn Tuân Tử cho rằng, “Vua là thuyền, thứ nhân là
nước. Nước chở thuyền, nước cũng có thể lật thuyền” [120, tr. 64]. Như vậy,
trong Nho giáo có những quan niệm về dân khác nhau, nhưng nhìn chung,
dân là lực lượng to lớn trong xã hội, là tầng lớp lao lực, có nghĩa vụ nuôi
dưỡng, chăm sóc kẻ lao tâm, phục vụ người cai trị. Đồng thời dân cũng chính
là gốc, là quý, là nền tảng của nước, là đối tượng của cai trị, nếu không có dân
thì không có người cai trị.
Coi dân là quý, có vai trò hết sức quan trọng, các nhà Nho đều chủ
trương phải giữ được dân thì mới giữ được địa vị thống trị của mình, giữ được
quyền lực, lợi ích của mình. Để giữ được dân thì theo Nho giáo, nhà cầm
quyền phải có những đường lối, chính sách cai trị hợp lòng dân. Tức là nhà
cầm quyền phải thích những điều dân thích, ghét những điều dân ghét và luôn
coi lòng dân, ý dân gắn liền với sự hưng vong, thịnh suy của triều đại. Nhưng
để hợp lòng dân, ý dân và được dân tin, theo Nho giáo, nhà cầm quyền phải
có chính sách dưỡng dân và giáo dân. Dưỡng dân là trách nhiệm của người

21
cầm quyền đối với dân, bao gồm việc chăm lo đời sống vật chất của nhân dân,
giúp dân đủ ăn, làm giàu, tức là làm cho dân được an cư lạc nghiệp; sai khiến
dân hợp lý; giảm thuế khoá và các đóng góp của dân, dùng của dân phải có
chừng mực; bảo vệ dân, đặc biệt phải quan tâm đến những người quan, quả,
cô, độc… Để thực hiện mục đích làm cho dân tin, sai khiến được dân thì vua
phải đem ân huệ cho dân, thực hành đường lối nhân nghĩa. Còn chính sách
giáo dân cũng là một trong những biện pháp lớn để trị thiên hạ. Bởi, dân nói
chung, theo các nhà Nho, họ chỉ là những người hèn kém về đạo đức và trí
tuệ, trọng lợi hơn nghĩa, do vậy nếu không được giáo hoá thì không có việc ác
nào mà họ không làm. Giáo dục, giáo hoá chủ yếu là để ngăn chặn hành động
hám lợi, gian tà của dân, đồng thời buộc dân tuân theo lễ giáo do chế độ
phong kiến đặt ra, để con người có được đạo làm người. Các nhà Nho rất coi
trọng việc giáo hoá dân, và việc giáo hoá ấy phải từ trong gia đình đến ngoài

Nam từ thời Bắc thuộc, qua từng giai đoạn phát triển, nó có vai trò và vị trí
nhất định trong lịch sử xã hội phong kiến Việt Nam:
Nho giáo du nhập vào Việt Nam bằng con đường xâm lược và giao lưu
văn hoá từ thời Bắc thuộc. Nho giáo vào Việt Nam theo gót giày quân xâm
lược phương Bắc, là công cụ chủ yếu của chúng nhằm nô dịch, thống trị, Hán
hoá người Việt, biến nước Việt Nam thành quận, huyện của Trung Hoa. Đồng
thời, Nho giáo cũng như mọi tư tưởng khác, không bao giờ tự đóng khung
phạm vi ảnh hưởng của nó trong một vùng lãnh thổ nhất định. Người Việt tiếp
nhận Nho giáo qua giao lưu văn hoá đã dần nhận ra rằng, Nho giáo là tri thức
cần thiết dạy đạo làm người, dạy cách ứng xử giữa người với người trong
cộng đồng. Ngoài ra, Nho giáo còn được du nhập vào nước ta thông qua
những hoạt động mang tính tự phát của khá đông Nho gia Trung Quốc thất
thế, bị đày hoặc tự động di cư lánh nạn sang nước ta. Nho giáo thời Bắc thuộc
có tác dụng nhất định đối với xã hội Việt Nam, làm xuất hiện hai lớp người
mới là thầy giáo và học trò, xuất hiện trường học, chữ viết Trung Quốc cũng
vì thế mà được du nhập vào Việt Nam, được sử dụng phổ biến và trở thành
văn tự chính thức trong một thời gian dài; hệ thống các phong tục, tập quán,
phép ứng xử, lễ nghi, quy phạm về đạo đức, định chế pháp luật cũng thâm
nhập vào Việt Nam và có tác dụng tích cực nhất định. Người Việt tiếp nhận
Nho giáo một cách tự nguyện với tư cách là tri thức dạy đạo làm người. Song
nó chưa ảnh hưởng sâu rộng đến đa số nhân dân bởi nó là công cụ của kẻ xâm
lược. Qua hơn 1000 năm Bắc thuộc, Nho giáo là công cụ của giai cấp thống

23
trị nô dịch nước ta, thời kỳ này Nho giáo được tiếp nhận một cách dè dặt và
chưa ảnh hưởng nhiều đến người Việt.
Thế kỷ XI, sau khi nước ta giành được độc lập, Nho giáo chính thức
được giai cấp phong kiến Việt Nam, cụ thể là triều Lý lựa chọn làm hệ tư
tưởng để tổ chức, quản lý xã hội trong cấu trúc Tam giáo đồng nguyên (hệ tư
tưởng Nho - Phật - Lão).


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status