ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
---------------------------------
PHAN THỊ THU HẰNG
TƯ TƯỞNG CHÍNH TRỊ - XÃ HỘI CỦA MINH MỆNH
VÀ ẢNH HƯỞNG CỦA NÓ ĐỐI VỚI CHẾ ĐỘ PHONG KIẾN
VIỆT NAM DƯỚI TRIỀU NGUYỄN
LUẬN ÁN TIẾN SĨ TRIẾT HỌC
HÀ NỘI – 2015
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
---------------------------------
PHAN THỊ THU HẰNG
TƯ TƯỞNG CHÍNH TRỊ - XÃ HỘI CỦA MINH MỆNH
VÀ ẢNH HƯỞNG CỦA NÓ ĐỐI VỚI CHẾ ĐỘ PHONG KIẾN
VIỆT NAM DƯỚI TRIỀU NGUYỄN
Chuyên ngành: CNDVBC & CNDVLS
Mã số:
62.22.80.05
LUẬN ÁN TIẾN SĨ TRIẾT HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU ........................................................................................................ 3
Chương 1. TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐỀ TÀI
LUẬN ÁN ...................................................................................................... 9
1.1. Những công trình nghiên cứu liên quan đến cơ sở hình thành tư tưởng
chính trị - xã hội của Minh Mệnh ..................................................................... 9
1.2. Những công trình nghiên cứu liên quan đến nội dung tư tưởng chính trị
- xã hội của Minh Mệnh ................................................................................... 14
1.3. Những công trình nghiên cứu liên quan đến ảnh hưởng của tư tưởng
chính trị - xã hội Minh Mệnh đến chế độ phong kiến Việt Nam dưới triều
Nguyễn .............................................................................................................. 20
Chương 2. CƠ SỞ HÌNH THÀNH TƯ TƯỞNG CHÍNH TRỊ - XÃ HỘI CỦA
MINH MỆNH .............................................................................................. 27
2.1. Điều kiện kinh tế - xã hội cho sự hình thành tư tưởng chính trị - xã hội
của Minh Mệnh ................................................................................................ 28
2.1.1. Bối cảnh thế giới và khu vực nửa đầu thế kỷ XIX ..........................28
2.1.2. Bối cảnh lịch sử xã hội Việt Nam nửa đầu thế kỷ XIX ....................30
2.2. Tiền đề tư tưởng cho sự hình thành tư tưởng chính trị - xã hội của
Minh Mệnh ...................................................................................................... 35
2.2.1. Ảnh hưởng của Nho giáo đến tư tưởng chính trị - xã hội của Minh Mệnh .36
2.2.2. Giá trị truyền thống yêu nước với tư tưởng chính trị - xã hội của
Minh Mệnh ..........................................................................................38
2.3. Điều kiện chủ quan cho sự hình thành tư tưởng chính trị - xã hội của
Minh Mệnh ................................................................................................................... 45
2.3.1. Con người và sự nghiệp của Minh Mệnh.......................................45
2.3.2. Các tác phẩm chủ yếu của Minh Mệnh .........................................48
Chương 3. MỘT SỐ NỘI DUNG CƠ BẢN TRONG TƯ TƯỞNG CHÍNH
TRỊ - XÃ HỘI CỦA MINH MỆNH ............................................................ 51
3.1. Tư tưởng của Minh Mệnh về đạo trị nước............................................... 52
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Triều Nguyễn là vương triều cuối cùng của chế độ phong kiến Việt Nam
trước khi đất nước diễn ra cuộc cách mạng tháng Tám năm 1945, bước vào
giai đoạn hiện đại. Đây là giai đoạn lịch sử mà đã để lại nhiều bộ sử liệu quý
giá cho đến ngày nay và được nhiều học giả quan tâm nghiên cứu Tuy nhiên
trước thời kỳ Đổi mới, xu hướng nghiên cứu chủ yếu nhấn mạnh đến sự bất
cập, hạn chế của vương triều Nguyễn để tập trung phê phán nó. Từ sau những
năm Đổi mới cho đến nay, công tác nghiên cứu về triều Nguyễn đã có sự
chuyển biến đáng kể, xuất hiện những quan điểm đa chiều, khách quan, toàn
diện về vương triều này. Các cuộc hội thảo với quy mô liên ngành, liên tỉnh
hay quốc gia, quốc tế về triều Nguyễn và các nhân vật lịch sử trong thời kỳ
này như Phan Thanh Giản, Tôn Thất Thuyết, Nguyễn Văn Tường, Nguyễn
Trọng Hợp... đã được tổ chức ở nhiều địa phương. Công tác dịch thuật, xuất
bản và tái bản các thư tịch thời Nguyễn như bộ Khâm Định Đại Nam hội điển
sự lệ, Minh Mệnh chính yếu, Tự Đức văn tập, Châu bản triều Nguyễn... cùng
với việc khảo cứu dựa trên các tài liệu địa bạ, hương ước... ngày càng được
đẩy mạnh, làm phong phú thêm kho tư liệu nghiên cứu về triều Nguyễn.
Không chỉ vậy, nhiều công trình nghiên cứu của một số học giả nước
ngoài về thời kỳ này cũng được dịch và xuất bản tại Việt Nam. Có thể kể tên
hai công trình tiêu biểu sau đây: Y.Tsuboi (1990), Nước Đại Nam đối diện với
Pháp và Trung Hoa (1847 – 1885) của NXB Thành phố Hồ Chí Minh và Choi
Byung Wook (2011), Vùng đất Nam Bộ dưới triều Minh Mạng của NXB Thế
giới. Tình hình học thuật trên đây đã tạo điều kiện thuận lợi cho các học giả
3
trong và ngoài nước tiếp tục đi sâu nghiên cứu về vương triều Nguyễn và lịch
sử tư tưởng Việt Nam ở giai đoạn này. Việc đánh giá triều Nguyễn do đó có
nhiều thay đổi, xuất hiện các quan điểm, nhận định khoa học mang tính xác
Nguyễn làm đề tài nghiên cứu cho Luận án tiến sĩ triết học của mình.
2. Mục đích, nhiệm vụ của luận án
2.1. Mục đích nghiên cứu
Mục đích của luận án là làm rõ tư tưởng chính trị - xã hội của Minh
Mệnh, từ đó chỉ ra ảnh hưởng của tư tưởng này đến một số lĩnh vực thuộc đời
sống chính trị - xã hội trong các triều vua Nguyễn tiếp theo.
2.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục đích trên, luận án tập trung giải quyết các nhiệm vụ sau đây:
- Phân tích các cơ sở khách quan và chủ quan cho sự hình thành tư tưởng
chính trị - xã hội của Minh Mệnh.
- Hệ thống hóa các nội dung cơ bản trong tư tưởng chính trị - xã hội của
Minh Mệnh.
- Phân tích một số ảnh hưởng của tư tưởng chính trị - xã hội của Minh Mệnh
đến một số lĩnh vực thuộc đời sống chính trị - xã hội triều Nguyễn.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1. Về đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận án là tư tưởng chính trị - xã hội của
Minh Mệnh.
5
3.2. Về phạm vi nghiên cứu
Phạm vi nghiên cứu của luận án chủ yếu thông qua các sử liệu như Đại
Nam thực lục, Minh Mệnh chính yếu, Minh Mệnh ngự chế văn, Minh Mệnh
ngự chế thi...
Luận án tập trung nghiên cứu ảnh hưởng tư tưởng chính trị - xã hội đến
một số lĩnh vực thuộc đời sống chính trị - xã hội tập trung dưới thời Thiệu Trị
và Tự Đức.
4. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
của tư tưởng chính trị - xã hội Minh Mệnh đối với vương triều của ông và đối
với các vương triều Nguyễn tiếp sau đó trên một số lĩnh vực như: chính trị,
kinh tế, văn hóa, xã hội (rõ nhất là triều Thiệu Trị và Tự Đức). Từ đó phân
tích chỉ ra các mặt đóng góp, giá trị và cả những hạn chế của chúng.
6. Ý nghĩa của luận án
6.1. Ý nghĩa lý luận
Kết quả nghiên cứu của luận án bổ sung, góp phần vào việc làm sáng tỏ
hơn nhận thức về cơ sở và điều kiện lịch sử hình thành và nội dung cơ bản tư
tưởng chính trị - xã hội của Minh Mệnh dưới chế độ phong kiến triều Nguyễn.
Trên cơ sở đó góp phần làm sáng tỏ hơn về ảnh hưởng của tư tưởng đó đối
với xã hội Việt Nam. Những kết quả đó còn là gợi ý rút ra những bài học đối
với việc xây dựng tư tưởng chính trị - xã hội Việt Nam hiện đại.
7
6.2. Ý nghĩa thực tiễn
Luận án có thể làm tài liệu tham khảo cho người quan tâm đến về lịch
sử tư tưởng Việt Nam thời Nguyễn, góp phần vào giảng dạy và nghiên cứu
tư tưởng chính trị - xã hội cho sinh viên, học viên cao học và những người
quan tâm nghiên cứu về lịch sử triết học nói chung, lịch sử tư tưởng và tư
tưởng triết học Việt Nam nói riêng.
7. Kết cấu của luận án
Ngoài lời cam đoan, mục lục, mở đầu, kết luận, danh mục các bài viết
của tác giả đã công bố có liên quan đến luận án, danh mục tài liệu tham khảo,
nội dung chính của luận án bao gồm 4 chương, 13 tiết và kết luận các chương.
8
Tác giả Lê Thành Khôi trong sách Lịch sử Việt Nam từ nguồn gốc đến
giữa thế kỷ XX, Nxb Nhã Nam và Nxb Thế giới Thế giới xuất bản năm 2014
đã cho rằng triều Nguyễn đã xây dựng nền quân chủ chuyên chế mang tính
“bất động”. Sự bất động thể hiện ở việc nhà nước không khai thác các trào lưu
mới của thế giới để nâng cao đời sống người dân, kinh tế trì trệ, tư tưởng
hướng về quá khứ.
Tác giả phân tích bối cảnh thế giới và trong nước, cho rằng trong khi
xu hướng tư bản chủ nghĩa đang phát triển mạnh mẽ thì nhà Nguyễn lai bó
hẹp trong ý thức hệ Nho giáo:
Từ đầu thế kỷ, sự phát triển của chủ nghĩa tư bản tiếp theo sau cuộc
cách mạng kỹ nghệ đã đưa các cường quốc Tây phương tới chỗ chinh
phực các thị trường thế giới. (…) Nhưng triều đình Huế, thờ ơ đối với
diễn tiến của các biến cố thế giới, mặc dù chiến tranh Nha phiến đã nổ
ra như hồi còi báo động, do coi thường những “tên man di” và hồ nghi
đối với các kỹ thuật của họ, vẫn tiếp tục duy trì đất nước trong sự cô lập
được tô vẽ một cách lộng lẫy [46, tr. 458].
Một số học giả nghiên cứu về triều Nguyễn cũng có cùng quan điểm
với học giả Lê Thành Khôi trên đây. Đặc biệt khi lý giải nguyên nhân chậm
cải cách, canh tân đất nước của nhà Nguyễn trước đây, hầu hết các nghiên cứu
đều cho rằng, đó là do triều Nguyễn có hệ tư tưởng Nho giáo là bảo thủ, cố
chấp, hạn chế nên thành kiến với các nước phương Tây. Triều Nguyễn từ thờ
ơ, lạnh nhạt đến khước từ các đề nghị cải cách cũng như khước từ việc đặt
10
quan hệ ngoại giao với các nước phương Tây. Tuy nhiên, từ sau Đổi mới qua
hội thảo về triều Nguyễn, một số nghiên cứu mới đã chỉ ra rằng, nhà Nguyễn
đã có những cố gắng nhất định trong việc thực thi tư tưởng cải cách như cho
người đi học tập nước ngoài, tìm hiểu các kỹ nghệ phương Tây, ví dụ như đóng
thuyền theo kiểu phương Tây, cử người sang các nước phương Tây học hỏi…
tác phẩm Minh Mệnh chính yếu, Minh Mệnh đã thể hiện “ý thức xây dựng hệ
tư tưởng chính thống của vương triều họ Nguyễn. Đó là một hệ tư tưởng hoàn
chỉnh, được sáng tạo để đáp ứng các yêu cầu của thực tiễn đất nước và vương
triều, có tham khảo đến một mức nào đó kinh nghiệm lịch sử của dân tộc và
của Bắc sử” [140, tr. 109].
Học giả Du Minh Khiêm trong hai bài viết “Tư tưởng triết học của hoàng
đế Minh Mệnh triều Nguyễn Việt Nam” và “Minh Mệnh” đăng trên Truyện
bình về các nhà triết học nổi tiếng phương Đông, NXB Nhân dân Sơn Đông,
2000, tr. 215 - 234 cho rằng tư tưởng trị nước của Minh Mệnh là sự kết hợp
giữa tư tưởng kính trời và thiên nhân giao cảm, của vô vi và hữu vi. Tác giả
còn cho rằng Minh Mệnh là một ông vua rất tôn sùng Nho giáo, chú trọng lịch
sử và chuyên cần chính sự. Do đó dấu ấn Nho giáo trong tư tưởng của ông khá
rõ nét. Đây cũng là quan điểm đã được đông đảo học giả Việt Nam thừa nhận.
Nhưng khía cạnh đặc sắc riêng của tư tưởng Minh Mệnh chưa được chú ý làm
nổi bật. Trong luận án chúng tôi sẽ đi sâu hơn về khía cạnh đó.
Lê Cảnh Vững (2012), “Tư tưởng đề cao Nho giáo của vua Minh Mệnh
12
trong Minh Mệnh chính yếu”, Tạp chí Khoa học, Đại học Huế, tập 72A, số 3.
Theo quan điểm của tác giả, Minh Mệnh đã vận dụng, kế thừa các nội dung của
tư tưởng chính trị Nho giáo. Cụ thể như, Minh Mệnh chịu ảnh hưởng của tư
tưởng “Thiên nhân tương cảm” và “Thiên nhân tương dữ” của Đổng Trọng
Thư đời Hán. Bên cạnh đó, tác giả khẳng định tư tưởng Đức Trị của Nho giáo
đã được Minh Mệnh vận dụng trong quá trình trị vì đất nước, thể hiện ở các
luận điểm “ái dân”, “vua sáng tôi hiền” và “Đề cao vai trò của giáo dục và cầu
người hiền tài”. Có thể nói, bài viết của tác giả Lê Cảnh Vững đã chỉ ra được
các ảnh hưởng của tư tưởng Nho giáo đến sự hình thành tư tưởng chính trị của
Minh Mệnh. Tuy nhiên, trong bài viết tác giả thể hiện sự mâu thuẫn trong lập
luận. Một mặt ở phần đầu bài viết, tác giả khẳng định Minh Mệnh chịu ảnh
học. Song đến nay vẫn còn ít các công trình nghiên cứu sâu một cách hệ
thống, toàn diện về tư tưởng chính trị - xã hội của vị vua này. Chúng tôi xin
kể tên một số công trình nghiên cứu đề cập đến một vài khía cạnh trong tư
tưởng Minh Mệnh được công bố trong những năm gần đây: Nguyễn Minh
Tường (1996), Cải cách hành chính dưới triều Minh Mệnh 1820- 1840, NXB
Khoa học xã hội; Trần Văn Giàu (1996), Sự phát triển của tư tưởng ở Việt
Nam từ thế kỷ XIX đến Cách mạng tháng Tám, T.1, NXB Chính trị quốc gia;
Lê Sỹ Thắng (1997), Lịch sử tư tưởng Việt Nam, T.2, NXB Khoa học xã hội;
Nguyễn Lưu Lê, Phan Tấn Tô (1998), Vua Minh Mệnh và viện thái y triều Nguyễn,
NXB Thuận Hóa, 1998; Lê Thị Thanh Hòa (1998), Việc đào tạo và sử dụng quan
lại của triều Nguyễn từ năm 1802 đến năm 1884, NXB Khoa học xã hội;
14
Nguyễn Hoài Văn (2002), Tìm hiểu tư tưởng chính trị nho giáo Việt Nam từ
Lê Thánh Tông đến Minh Mệnh, NXB Chính trị quốc gia; Choi Byung Book
(2011), Vùng đất Nam Bộ dưới triều Minh Mệnh (1820 – 1841), NXB Thế
giới và Từ Văn Books.
Về phạm vi nội dung nghiên cứu, phần lớn trong các công trình nêu
trên các học giả đều quan tâm những vấn đề rộng hơn và trong đó có liên
quan đến tư tưởng chính trị - xã hội của Minh Mệnh. Bên cạnh đó, các nội
dung khác trong tư tưởng của ông ít được đặt làm chủ đề riêng để các học giả
trong và ngoài nước nghiên cứu. Đến nay trong tìm hiểu của chúng tôi thì
còn ở mức độ không được coi là trọng tâm chủ đạo trong các công trình này.
Trong công trình Lịch sử tư tưởng Việt Nam, tập II, của tác giả Lê Sỹ
Thắng chủ biên được NXB Khoa học xã hội, Hà Nội xuất bản năm 1997 là
một trong những nghiên cứu có giá trị về tư tưởng của Minh Mệnh. Trên cơ
sở phân tích nội dung tác phẩm Minh Mệnh chính yếu, tác giả khẳng định vấn
đề cơ bản xuyên suốt trong tư tưởng chính trị của Minh Mệnh là: Đạo làm vua;
Có thể nói đây là công trình nghiên cứu có giá trị về tư tưởng chính trị Nho
giáo của Minh Mệnh, góp phần khẳng định vị trí, vai trò của Minh Mệnh
trong lịch sử tư tưởng Việt Nam. Tuy nhiên, đối tượng nghiên cứu của công
trình này là tư tưởng chính trị Nho giáo nên tác giả chủ yếu tập trung vào sự
vận dụng Nho giáo trong tư tưởng Minh Mệnh. Do đó, các nội dung độc đáo,
có khía cạnh mới trong tư tưởng Minh Mệnh như chính sách văn hóa, tôn giáo,
đạo đức… hầu như chưa được chú trọng đến trong luận án này.
16
Bên cạnh đó, còn có các công trình nghiên cứu chỉ mới tập trung đến một
số mặt khác của tư tưởng chính trị - xã hội thể hiện trong tư tưởng Minh
Mệnh. Trong số đó, trước hết phải kể đến Luận án Tiến sĩ Sử học Công cuộc
cải cách hành chính dưới triều Minh Mệnh (1820 – 1840) của Nguyễn Minh
Tường, bảo vệ năm 1994 tại Viện Sử học, Trung tâm khoa học xã hội và nhân
văn quốc gia. Mặc dù trọng tâm nghiên cứu của luận án là công cuộc cải cách
hành chính của Minh Mệnh nhưng trong công trình này, tác giả đã chỉ ra mối
liên hệ chặt chẽ giữa tư tưởng chính trị của Minh Mệnh và cuộc cải cách hành
chính do ông đề xướng. Theo phân tích đó, Nguyễn Minh Tường cho rằng, tư
tưởng chính trị của Minh Mệnh quyết định nội dung, cách thức tiến hành công
cuộc cải cách hành chính. Ông cho rằng, nội dung tư tưởng chính trị của Minh
Mệnh bao gồm ba yếu tố sau đây: 1. Độc tôn Nho giáo, Nho học; 2.Đề cao
Pháp trị; 3.Tiếp nối tư tưởng củng cố nền thống nhất quốc gia và yên dân. Theo
quan điểm của tác giả luận án, các nội dung trong tư tưởng chính trị trên đây
của Minh Mệnh được thể hiện rõ nét thông qua các chỉ, dụ, chính sách, biện
pháp cải cách.
Với các dẫn chứng sắc bén, lập luận thuyết phục, tác giả đã chứng minh
thành công cuộc cải cách hành chính Minh Mệnh là hệ quả của việc thực hiện
tư tưởng chính trị của vị vua này. Đặc biệt, tác giả nhấn mạnh tư tưởng yên dân
của Minh Mệnh và xem đó là sự kế thừa giá trị truyền thống của dân tộc. Tuy
dày công tập trung khảo cứu chính sách của các vua trong đó có vua Minh
18
Mệnh về Công giáo, góp phần tái hiện diện mạo tư tưởng về tôn giáo của vị
vua Nguyễn này trong lịch sử. Cuốn sách gồm 2 phần nội dung lớn, phần 1 là
Công giáo Việt Nam thế kỷ XVII - XVIII, phần 2 là Công giáo thời kỳ triều
Nguyễn (1802 - 1883). Trong cuốn sách này, tác giả đi từ việc xác lập tiến
trình truyền bá của Công giáo qua các thế kỷ XVII, XVIII và XVIII, đồng
thời khảo cứu các hoạt động của Công giáo tại Việt Nam cũng như phản ứng
của người dân và ảnh hưởng của các chính sách về Công giáo của các triều
vua trong 3 thế kỷ này. Ở phần 2, tác giả đã khái quát về bối cảnh chính trị, xã
hội, tôn giáo của Việt Nam thế kỷ XIX, các hội nhóm Công giáo khác nhau có
mặt tại Việt Nam và hoạt động truyền giáo cùng phản ứng của người Việt Nam,
các vua Nguyễn với Công giáo.
Qua công trình nghiên cứu Công giáo Việt Nam thời kỳ triều Nguyễn (1802 1883) của Nguyễn Quang Hưng, chúng ta thấy được những nhận định mới khách
quan hơn của tác giả đối với các chính sách cấm đạo Công giáo của các vua
Nguyễn nói chung và Minh Mệnh nói riêng. Điều đáng ghi nhận nữa trong công
trình này là tác giả bằng các cứ liệu lịch sử mới được công bố đã có ý chứng minh
Minh Mệnh không “đáng” được gọi là một “Neron của Việt Nam”, bằng những
dẫn chứng cụ thể về số người bị tàn sát và so sánh với vị vua Neron, so sánh
những con số cụ thể ở các triều vua khác của nhà Nguyễn sau ông.
Cùng đề cập đến tư tưởng Minh Mệnh về Công giáo, Lê Tuấn Đạt trong bài
viết “Thái độ của Minh Mạng với Công giáo” đăng trên Tạp chí Nghiên cứu
Tôn giáo, số 4, 2007 cho rằng, cần xem xét thái độ của vị vua này đối với
Công giáo trong bối cảnh khu vực và trong nước. Đồng thời, tác giả cũng
khẳng định, khi xem xét chính sách cấm đạo của Minh Mệnh, cần thiết phải
tính đến việc một ông vua sùng Nho giáo trong môi trường văn hóa Đông Á.
19
chính của Minh Mệnh - thành công và hạn chế”. Đứng từ lập trường khoa học
hiện đại, tác giả cho rằng: “Tư tưởng củng cố đế nghiệp phong kiến đã lỗi
thời trước yêu cầu phải mở cửa nhìn rộng ra thế giới cả phương Đông lẫn
phương Tây” [136, tr. 25], song sự phân tích của ông khách quan đánh giá
những thành công trong cải cách hành chính của Minh Mệnh ở một số mặt
như sau: “Thành công nhất hay cũng có thể nói là cống hiến lớn nhất cho lịch
sử dân tộc của cải cách hành chính dưới triều Minh Mệnh là việc thống nhất
phân cấp quản lý hành chính và phân chia địa giới hành chính từ tỉnh đến xã
trong cả nước mà di sản tích cực còn để lại cho đến hiện nay” [139, tr. 230].
Bên cạnh việc ghi nhận những mặt thành công đó, tác giả cũng đưa ra
nhận định về các mặt hạn chế trong tư tưởng và cải cách của Minh Mệnh: (1)
- không đổi mới được tư duy, vẫn duy trì tư duy bảo thủ, lạc hậu của phong
kiến Tống Nho, trong bối cảnh yêu cầu phải chuyển sang canh tân theo hướng
tư bản chủ nghĩa. (2) - Mới chỉ chú trọng vào củng cố vương quyền hơn là cải
thiện dân sinh, mục tiêu cải cách đáng lẽ phải lấy kinh tế - xã hội làm hàng
đầu. (3) - Tư tưởng củng cố đế nghiệp phong kiến đã lỗi thời trước yêu cầu
phải mở cửa nhìn rộng ra thế giới cả phương Đông lẫn phương Tây. Tức là vấn đề
cần phải đặt ra vấn đề cải cách mô hình, thể chế đáp ứng yêu cầu thời đại.
Ở một phần khác, tác giả lại nhận định, dựa trên các kết quả đặt trong
tương quan so sánh với các cuộc cải cách và đổi mới trong lịch sử Việt
Nam, có thể thấy cải cách của Minh Mệnh quả là còn “chưa được” như một
cuộc “đổi mới”, chứ chưa nói gì tới một cuộc “cách mạng”. Nhưng ông
nhấn mạnh, nếu xét tới bối cảnh lịch sử một thời kỳ dài từ thế kỷ XVI –
21