1
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
VŨ THỊ THANH THỦY
SỰ BIẾN ĐỔI TƯ TƯỞNG CHÍNH TRỊ- XÃ HỘI
CỦA TẦNG LỚP TRÍ THỨC VIỆT NAM TRÊN
VĂN ĐÀN CÔNG KHAI TIẾNG VIỆT TRONG
THỜI KÌ 1939- 1945
Luận văn Thạc sĩ Lịch sử
Mã số: 60 22 54
LUẬN VĂN THẠC SĨ LỊCH SỬ
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Phạm Hồng Tung
Hà Nội – 2009
1
M
1
- 5
- Pháp 5
1919- 1945 18
- Pháp 30
-
- 1945 42
1945 42
-
tháng 9- -3-1945) 48
2.2.1. Nhóm trí thức xã hội với hoạt động của Hội truyền bá chữ quốc
ngữ của Nguyễn Văn Tố 53
3
1. Lí d
Giai đoạn 1939- 1945 là một giai đoạn đầy biến động trong lịch sử Việt
Nam, với cuộc đấu tranh hết sức gay gắt nhằm giải phóng dân tộc khỏi ách
thống trị của ngoại bang, từ đó dẫn đến những cuộc đấu tranh trên lĩnh vực tư
tưởng và ý thức hệ, những sự tác động qua lại hết sức phức tạp của các
khuynh hướng tư tưởng khác nhau. Vì vậy, cục diện chính trị, văn hoá của
giai đoạn này càng thêm phức tạp. Đặc biệt từ khi Chiến tranh thế giới thứ hai
bùng nổ, cũng là thời điểm tư tưởng chính trị- xã hội của các tầng lớp nhân
dân, đặc biệt là tầng lớp trí thức có sự biến đổi sâu sắc, thể hiện trước hết trên
báo chí, văn học. Vậy sự biến đổi tư tưởng chính trị- xã hội của tầng lớp trí
Tuy nhiên hầu như chưa có một công trình nghiên cứu nào tập trung đi
sâu vào sự biến đổi tư tưởng chính trị- xã hội của tầng lớp trí thức Việt Nam
trong thời kì 1939- 1945 thông qua các tác phẩm của họ trên văn đàn công
khai tiếng Việt thời kì này. Luận văn này hy vọng góp phần khiêm tốn nhằm
đáp ứng được đòi hỏi đó.
Luận văn nghiên cứu về sự biến đổi tư tưởng chính trị- xã hội của tầng
lớp trí thức Việt Nam trong thời kì diễn ra Chiến tranh thế giới thứ II thông
qua các bài viết trên diễn đàn văn học, báo chí công khai tiếng Việt xuất bản
trong thời gian từ năm 1939 đến năm 1945.
u tr
Luận văn ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục có kết cấu gồm 3 chương:
Chương 1: Bối cảnh lịch sử
Chương 2: Quá trình biến đổi tư tưởng chính trị- xã hội của tầng lớp trí
thức Việt Nam trên văn đàn công khai tiếng Việt trong thời kì 1939- 1945
Chương 3: Một vài nhận xét
5
1 -
1.1.
- Pháp
Ngày 1-9-1939, Đức tấn công Ba Lan, chiến tranh thế giới thứ hai bùng
nổ. Ngày 3-9-1939 Anh và Pháp tuyên chiến với Đức. Chiến tranh nhanh
chóng lan ra toàn Châu Âu và sau đó là cả thế giới. Chiến tranh đã tác động
đến tình hình nước Pháp, chính phủ Daladier mạnh tay thi hành các biện pháp
đàn áp lực lượng dân chủ ở trong nước và phong trào cách mạng ở các nước
thuộc địa, trong đó có Việt Nam. Tháng 7-1939 Catroux được cử làm Toàn
quyền Đông Dương, triệt để thi hành các chính sách vơ vét, bóc lột Đông
Dương để phục vụ cho cuộc chiến tranh của nước Pháp đồng thời thi hành
Sự thất bại của thực dân Pháp trước quân đội Nhật là sự thất bại của
người da trắng trước người da vàng. Nó khiến cho nhân dân Việt Nam tin
tưởng hơn vào thắng lợi của cuộc đấu tranh chống thực dân Pháp. Vì vậy,
ngay trong tháng 9-1940, những cuộc đấu tranh vũ trang đầu tiên đã nổ ra, đó
là khởi nghĩa Bắc Sơn (27-9-1940), nhằm chặn đánh quân Pháp trên đường
rút chạy từ Lạng Sơn về Thái Nguyên. Cuộc khởi nghĩa tuy chỉ tồn tại trong
vòng một tháng, chỉ diễn ra trên phạm vi một huyện nhưng đã mở đầu phong
trào giải phóng của các dân tộc Đông Dương nói chung và dân tộc Việt Nam
nói riêng trong thời kì Chiến tranh thế giới thứ hai. Cùng thời gian này, Việt
Nam phục quốc đồng minh hội cũng tổ chức một cuộc nổi dậy ở Đồng Đăng
(Lạng Sơn). Ngay sau đó, khởi nghĩa vũ trang cũng nổ ra ở Nam Kì (23-11-
1940) và đến tháng 1-1941 cuộc binh biến của những binh lính người Việt
trong quân đội Pháp diễn ra ở Trung Kì.
Như vậy là chỉ trong hơn ba tháng, đã có ba cuộc nổi dậy diễn ra ở ba
miền Bắc, Trung, Nam. Tuy bị thất bại nhưng “đó là những tiếng súng báo
7
hiệu cho cuộc khởi nghĩa toàn quốc, là bước đầu đấu tranh bằng vũ lực của
các dân tộc Đông Dương” [14, tr. 191].
Ở Việt Nam, dưới tác động của cuộc chiến tranh thế giới thứ hai và đặc
biệt là từ những chính sách cai trị của Pháp đã khiến xã hội Việt Nam biến đổi
về mọi mặt.
Về kinh tế, để phục vụ cho cuộc chiến tranh lâu dài, đế quốc Pháp đã
tăng cường động viên kinh tế trong nước cũng như thuộc địa. Ngay sau khi
Chiến tranh thế giới vừa bùng nổ, tháng 9-1939, Catroux đã ra lệnh tổng động
viên nhằm “cung cấp cho mẫu quốc tiềm lực tối đa của Đông Dương về quân
đội, nhân lực, các sản phẩm và nhiên liệu” [57, tr. 304]. Pháp đã thi hành
chính sách “kinh tế chỉ huy”, thành lập “Đại hội đồng kinh tế tối cao Đông
Dương”, “Bộ tham mưu kinh tế Việt Nam”, tăng cường vơ vét vàng bạc, tăng
thuế cũ, đặt thêm thuế mới, phát hành bạc giấy, tổ chức quốc trái lạc quyên,
đổ rác, thuế chó v.v… Có thể nói, thực dân Pháp đã không từ một thủ đoạn
nào để tăng cường bóc lột nhân dân Việt Nam. Thuế cưỡng bức đánh bạc là
xổ số Đông Dương, năm 1939 thực dân Pháp thu được 913.367$ thì đến năm
1944, đã lên tới 2.828.435$ [40,tr. 547], tức là gấp hơn 3 lần. Khi chiến tranh
vừa bùng nổ, chính quyền thực dân Pháp đã tổ chức hội “Pháp Việt bác ái”,
dùng danh nghĩa hội này để tổ chức những cuộc lạc quyên lấy tiền gửi sang
Pháp. Từ tháng 9- 1939 đến tháng 4-1940, chính quyền thực dân còn bắt buộc
các công chức phải trích một phần lương góp vào quỹ này. Số tiền nộp về quỹ
của nước Pháp ngày càng tăng lên. “Nguyên một năm 1939 đã phải nộp gần 5
triệu, năm 1942 gần 7 triệu, phần lớn chi tiêu về chiến tranh hay sắm vật liệu
cho công sở. Ngoài tiền nộp chính thức, nhân dân ta còn phải quyên tiền gửi
sang Pháp. “Tính đến tháng 3-1943, tổng số tiền quyên đã tới 73.000.000
phờrăng” [40, tr. 550].
9
Số tiền Pháp phải nộp cho Nhật hàng năm cũng tăng lên không ngừng.
“Năm 1940 nộp 6 triệu đồng, năm 1941- 58 triệu đồng, năm 1942- 86 triệu
đồng, năm 1943- 117 triệu đồng; năm 1944- 363 triệu, 1945- 90 triệu” [34, tr.
349]. Số tiền đó thực dân Pháp lấy ở đâu ra? Chính là từ xương máu của nhân
dân Việt Nam nói riêng và nhân dân Đông Dương nói chung.
Hậu quả tất yếu mà nhân dân Việt Nam phải gánh chịu là một nền kinh
tế vốn đã lạc hậu, què quặt nay càng suy sụp, đổ nát, giá cả sinh hoạt đắt đỏ,
đời sống nhân dân ngày càng khó khăn nguy ngập. Nhưng với thực dân Pháp
thì: “Thất nghiệp, thất học, đói rét, yếu đau, chết chóc mặc kệ, miễn sao đục
khoét được nhiều tiền để kéo dài đế quốc chiến tranh” [14, tr. 37].
Về chính trị, “Đế quốc Pháp nhân dịp chiến tranh ra lệnh giải tán Đảng
cộng sản, khủng bố thẳng tay, xét nhà, bắt người, giam cầm các chiến sĩ cộng
sản cùng các phần tử cấp tiến trong dân chúng, khoá miệng và điều khiển tất
cả các cơ quan thông tin, giải tán những hội ái hữu tương tế, lập thêm những
sở mật thám chính trị” [14, tr. 35]. Ngày 4- 1-1940, Toàn quyền Đông Dương
Về văn hoá giáo dục, ngay khi vào Việt Nam thực dân Pháp đã xây
dựng một hệ thống giáo dục theo kiểu phương Tây nhằm loại bỏ ảnh hưởng
của Hán học, “khai hoá văn minh” và đào tạo ra một đội ngũ công chức phục
vụ cho bộ máy thống trị của chúng. Ở Việt Nam hệ thống giáo dục được thực
dân Pháp chia làm ba cấp: tiểu học, trung học, cao đẳng và đại học. Trong đó,
Pháp đã thành lập một số trường cao đẳng, dạy nghề như trường Pháp- Chính,
trường Cao đẳng Nông nghiệp, trường Y học Đông Dương…
Vào những năm 1940, để tranh thủ tầng lớp trí thức, lôi kéo tầng lớp
này khỏi ảnh hưởng của phát xít Nhật, thực dân Pháp đã cho mở thêm một số
trường cao đẳng như Cao đẳng Khoa học, Thể dục, trường Sĩ quan, trường
Cao đẳng kiến trúc… đồng thời lập Đông Dương học xá cho sinh viên các
11
trường ở. Tuy nhiên ngân sách giành cho giáo dục ngày càng giảm, những
năm 1940 chỉ đạt khoảng 7- 8% tổng ngân sách Đông Dương. Thực chất của
vấn đề là: “Chúng mở trường cao đẳng Khoa học hay mở rộng các trường cao
đẳng khác, chỉ vì một lẽ là chúng cần phải có một số viên chức giúp chúng
trong việc bóc lột, trong khi không thể đem người từ bên Pháp sang và cũng
là để trong tương lai cản trở không cho sinh viên Việt Nam được sang Pháp
du học. Còn đến việc mở các trường sĩ quan cho thanh niên trí thức Việt Nam
được theo học thì chẳng qua là vì hồi đầu chiến tranh, chúng muốn có người
đem lính ta sang Pháp đánh Đức, và sau này vẫn duy trì là để có đủ người chỉ
huy bộ đội đánh Nhật hộ chúng” [38, tr. 30-31].
Sớm nhận thấy tầm quan trọng của Đông Dương trong cuộc chiến tranh
của Nhật ở Châu Á, Nhật từng bước đẩy mạnh việc xâm chiếm Đông Dương,
đặc biệt từ tháng 10-1938 khi quân Nhật đã chiếm được Quảng Châu, áp sát
biên giới Việt- Trung. Lí do là tuyến đường sắt Hải Phòng- Hà Nội- Vân Nam
chính là một trong hai con đường giao thông huyết mạch cung cấp viện trợ
quân sự từ bên ngoài cho chính phủ Tưởng Giới Thạch. Mặt khác Đông
Dương với những tài nguyên thiên nhiên phong phú, đặc biệt là lúa gạo chính
một người lính, một viên đạn nào. Mặt khác, họ còn có thể lợi dụng được bộ
máy đàn áp, bóc lột mà thực dân Pháp đã dày công xây dựng gần một thế kỷ ở
Việt Nam để thông qua đó mà khai thác triệt để các nguồn lợi ở xứ thuộc địa
này phục vụ cho nỗ lực chiến tranh của Nhật Bản, mà lại còn tiết kiệm được
các khoản chi phí cho quản lý và cai trị nếu họ lật đổ thực dân Pháp. Cuối
cùng, thông qua việc dung dưỡng cho sự tồn tại của chế độ thực dân Pháp,
Nhật Bản còn tránh được những đụng độ, rắc rối về ngoại giao với nước Đức
phát xít và Liên Xô” [60, tr. 13].
Coi Đông Dương là một căn cứ hậu cần nên trong thời gian đầu, từ
13
tháng 9-1940 đến tháng 3-1945 thông qua bàn tay thực dân Pháp, Nhật đã tìm
mọi cách để vơ vét, bóc lột tối đa các nguồn tài nguyên ở Đông Dương. “Nhật
cũng yêu cầu chính quyền thực dân Pháp để 50% giá trị nhập khẩu và 15%
giá trị xuất khẩu của Đông Dương cho các công ty thương mại của Nhật. Hầu
như toàn bộ hàng xuất khẩu chính của Đông Dương trong hai năm 1942 và
1943 như than, sắt, kẽm, cao su, xi măng được xuất sang Nhật… Trị giá hàng
nhập từ Đông Dương sang Nhật lớn gấp nhiều lần hàng Nhật xuất sang Đông
Dương. Năm 1944, Nhật xuất sang Đông Dương 25.000 tấn hàng và nhập của
Đông Dương 1.400.000 tấn quặng và thực phẩm” [34, tr. 349]. Như vậy, chỉ
tính riêng khối lượng hàng hoá thì số hàng nhập từ Đông Dương vào Nhật đã
gấp 56 lần hàng Nhật xuất sang Đông Dương.
Do nhu cầu của chiến tranh, phát xít Nhật bòn rút đến cực độ về gạo,
ngô, đay… do nhân dân ta sản xuất ra. “Kể riêng gạo, năm 1940 Nhật đã thu
của ta 486.000 tấn; năm 1941: 585.000 tấn; năm 1942: 973.908 tấn, năm 1943:
1.023.471 tấn; năm 1944: 498.525 tấn, năm 1945: 44.817 tấn”[40, tr. 553].
“Kết quả là, trong giai đoạn này, thông qua nhiều thủ đoạn tàn bạo, từ thu
mua giá rẻ đến cướp đoạt trắng trợn, Nhật Bản đã khai thác được ở Đông Dương,
trong đó chủ yếu là Việt Nam, 2.675.000 tấn gạo chở về Nhật Bản và cung cấp
cho quân đội Nhật trên các mặt trận khác. Ngoài ra quân Nhật còn buộc chính phủ
chính phủ bù nhìn Trần Trọng Kim cùng hàng loạt các tổ chức, đảng phái
chính trị phản động như Đại Việt quốc xã, Đại Việt quốc gia liên minh (ở Bắc
Kì), Việt Nam quốc gia độc lập, Nhật- Việt phòng vệ đoàn (Nam Kì) nhằm
tạo ra chỗ dựa về xã hội và chính trị cho việc thống trị của mình. Chỉ riêng
Bắc kì đã có hơn 30 tổ chức thân Nhật [37, tr. 28]. Ngoài ra, chúng sử dụng
bộ máy thông tin tuyên truyền, xuất bản sách báo để lừa phỉnh tầng lớp thanh
niên, gây tâm lý “bài Pháp, phục Nhật, sợ Nhật”, đồng thời sử dụng lực lượng
15
quân sự tiến công, vây quét các chiến khu và cơ sở cách mạng của ta. Về kinh
tế, với chính sách “lấy chiến tranh nuôi chiến tranh”, chúng cướp đoạt trắng
trợn tài sản của nhân dân, chiếm các cơ sở kinh tế của Pháp, in nhiều giấy bạc
để tung ra thị trường vơ vét nguyên liệu hàng hoá, lương thực. Nhật quy định,
ngoài Nông phố Ngân hàng được quyền thu thóc cho quân đội Nhật, không ai
được tích trữ quá hai tấn thóc và một tấn gạo, không ai được buôn hay tải gạo
trên 50 kg. Nhật cho in thêm hai tấn giấy bạc để Nông phố Ngân hàng đi mua
vét hết gạo trong dân, giữ độc quyền về thóc gạo và bằng mọi cách cướp thóc
của dân. Chúng bắt nhân dân ta nhổ lúa trồng đay phục vụ chiến tranh, tăng
thuế, thu thóc, thu bông, đay nặng nề hơn trước. Năm 1944-1945, miền Bắc
mất mùa, đói kém, Chính phủ Trần Trọng Kim hứa lo việc tổ chức đưa thóc
gạo từ Nam Kỳ ra tiếp tế cho miền Bắc, nhưng cho tới ngày 1-7-1945 “dân
đói miền Bắc vẫn không trông thấy một hạt gạo miền Nam; có khác gì đứa trẻ
mong mẹ về chợ khóc sướt mướt để đợi một hơi sữa, cứ bị người ta dối hoài”
[42, tr. 9].
Vì vậy, dưới ách cai trị của Nhật- Pháp, xã hội Việt Nam ngày càng có
sự phân hoá sâu sắc, không chỉ có giai cấp công nhân, nông dân ngày càng
khổ cực mà các tầng lớp tiểu tư sản, phú nông, địa chủ, viên chức đều bị phá
sản và khánh kiệt.
Đời sống nông dân kiệt quệ. “Vụ mùa năm 1944, chỉ sản xuất được một
triệu tấn thóc so với các năm bình thường từ 1938 đến 1943 là 1.088.700 tấn
người” [40, tr. 570]. Mặc dù cho tới năm 1939, tầng lớp này không đến nỗi
thiếu thốn về kinh tế so với các giai cấp khác do có lương tháng nhất định,
nhưng “Thực ra người công chức không bao giờ được thoả mãn với đời sống
của họ vì phần họ bị thực dân Pháp khinh miệt, phần thì cũng cùng làm một
việc mà lương của thực dân nói chung lại hơn gấp tới 9, 10 lần” [38, tr. 126].
17
Và khi chiến tranh bùng nổ, giá cả sinh hoạt leo thang nhanh hơn gấp nhiều lần
tỷ lệ lương tăng khiến đời sống của công chức lâm vào cảnh thiếu thốn. “Xét về
lương chính, một người thư ký tập sự năm 1940 được 456$ một năm, đến năm
1945 được 1.026$ như vậy là lương tăng được 2,2 lần. Nhưng giá gạo chính
thức đã tăng từ 10$10 đến 53$00 như vậy là giá gạo đã tăng lên 5,3 lần. Nếu kể
giá gạo thị trường năm 1945 lên tới 700$, 800$ một tạ thì ta sẽ còn thấy giá gạo
đã tăng lên tới 70, 80 lần nữa” [38, tr. 126]. Như vậy là lương tháng của họ
năm 1940 mua được 376 kg gạo thì đến năm 1945 chỉ mua được 161 kg gạo
theo giá chính thức và 12,2 kg theo giá trị trường. Rõ ràng đây là mức thu nhập
không đủ nuôi sống một người chưa nói đến việc người công chức đó phải nuôi
sống cả một gia đình và chăm lo việc học hành của con cái họ.
Tầng lớp trí thức tự do bao gồm các giáo viên trường tư, các nhà viết
văn, viết báo, các luật sư… Đội ngũ này ngày càng phát triển, “cho tới 1944,
số người Việt Nam sống bằng nghề viết văn lên tới độ 1.000 và người dạy học
tư độ 3.000 người” [24, tr. 1]. Trước sự biến động của giá giấy khiến giá báo
tăng, cộng với thu nhập trong chiến tranh của các tầng lớp đều giảm sút nên
lượng độc giả ngày càng bị thu hẹp khiến “Thần chết với lưỡi liềm ác nghiệt
như đang chờ sẵn trước ngưỡng cửa các nhà báo hàng ngày, hàng tuần và các
nhà xuất bản, nhà văn để gieo rắc vào đó sự khủng bố và đe doạ cuộc sống
còn của họ, trong từng giây từng phút” [65, tr. 5].
Công việc làm ăn của tầng lớp tiểu thương, tiểu chủ cũng chịu tác động
từ nền “kinh tế chỉ huy” của thực dân Pháp với hàng trăm thứ thuế bất công
vô lý cũng gặp vô vàn khó khăn.
riêng. Tại nhiều nước Châu Âu, các Đảng cộng sản đã được thành lập như ở
Hunggari, Đức, Ba Lan, Phần Lan… Tháng 3-1919, Quốc tế Cộng sản được
thành lập, đề ra đường lối, trực tiếp chỉ đạo, giúp đỡ phong trào cách mạng
19
của các nước thuộc địa và phụ thuộc chống lại sự nô dịch của chủ nghĩa tư
bản phương Tây.
Đó cũng là bối cảnh thuận lợi cho phong trào cách mạng Việt Nam phát
triển. Trong cao trào đấu tranh đòi tự do dân chủ thời kì này, tầng lớp trí thức
Việt Nam chính là những người đi tiên phong.
“Bản yêu sách của nhân dân Việt Nam” được Nguyễn Ái Quốc thay
mặt những người Việt Nam yêu nước tại Pháp gửi tới Hội nghị Versailles đã
thực sự gây tiếng vang lớn. Bên cạnh đó, hoạt động của người Việt Nam tại
nước ngoài, chủ yếu là ở Trung Quốc cũng đã có sự tác động lớn đến đồng
bào trong nước. Năm 1923, tổ chức Tâm tâm xã được thành lập tại Quảng
Châu- Trung Quốc với sự tham gia của một số thanh niên Việt Nam yêu
nước. Tâm tâm xã chủ trương “Liên hiệp những người có trí lực trong toàn
dân Việt Nam, không phân biệt ranh giới đảng phái; miễn là có quyết tâm hi
sinh tất cả tư ý và quyền lợi cá nhân, đem hết sức mình tiến hành mọi việc để
khôi phục quyền làm người của người Việt Nam” [51, tr. 66]. Có thể nói đây
là tổ chức chính trị đầu tiên của tầng lớp thanh niên trí thức Việt Nam. Tuy
lập trường chính trị còn non nớt nhưng hoạt động của Tâm tâm xã đã góp
phần thức tỉnh tinh thần yêu nước của nhân dân Việt Nam. Đặc biệt, cuộc
mưu sát Toàn quyền Meclanh của Tâm tâm xã năm 1924 tuy không thành
công, nhưng “tiếng bom của Phạm Hồng Thái đã nhóm lại ngọn lửa chiến
đấu…., nó báo hiệu bắt đầu thời đại đấu tranh dân tộc, như chim én nhỏ báo
hiệu mùa xuân” [54, tr. 67].
Năm 1925, Hội Việt Nam cách mạng thanh niên được thành lập, với
nòng cốt là nhóm Cộng sản đoàn, chính là những thanh niên tích cực trong
Tâm tâm xã được Nguyễn Ái Quốc lựa chọn và tổ chức tuyên truyền giác ngộ.
nhà xuất bản đầu tiên của những sách yêu nước ở nước ta từ cuối năm 1926
21
đến đầu năm 1928. Năm 1927 Cường học thư xã thành lập ở Sài Gòn cũng
thuộc loại nhà xuất bản kiểu như Nam Đồng thư xã, do Trần Huy Liệu làm
chủ nhiệm. Năm 1928, Quan hải tùng thư thành lập ở Huế, xuất bản những
sách tiến bộ và có xu hướng xã hội chủ nghĩa, tuyên truyền cho chủ nghĩa duy
vật biện chứng, gồm biên soạn và dịch thuật, do Đào Duy Anh làm chủ
nhiệm”[31, tr. 29-30]. Nam Đồng thư xã đã chọn in, xuất bản những sách biên
khảo của các chính khách tiến bộ của phương Tây, Trung Quốc, Ấn Độ cũng
như của các nhà trí thức Việt Nam. Đó là các tập sách phổ thông nhằm nêu
“gương thành bại” của cách mạng thế giới, gương anh hùng cứu nước, cứu
dân như các sách: Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh, Tôn Dật Tiên với chủ
nghĩa Tam Dân, Một bầu tâm sự… “Tác dụng của Nam Đồng Thư Xã thật
đáng ghi nhận. Các nhà sáng lập Thư Xã đã biết lợi dụng văn xuôi quốc ngữ
thời kì này đã khá phát triển để phổ biến và cổ vũ tư tưởng yêu nước qua
những “tác phẩm dài hơi” có chứa đựng hệ thống lý luận, có sự phân tích tổng
hợp các lý thuyết cách mạng, và rõ ràng là nó tuyên truyền đắc lực hơn so với
các bài thơ ca tuyên truyền ngắn gọn của các nhà yêu nước những năm đầu
thế kỷ XX” [31, tr. 37- 38].
Một điều có ý nghĩa quan trọng hơn, đó là qua những hoạt động của
mình, Nam Đồng Thư Xã đã thu hút đông đảo giới sinh viên, trí thức cộng
tác… Và Nam Đồng Thư Xã đã trở thành cái nôi cho sự ra đời của Việt Nam
quốc dân Đảng- một trong ba tổ chức cách mạng xuất hiện ở Việt Nam những
năm 20 của thế kỷ XX, bên cạnh Hội Việt Nam cách mạng thanh niên và Tân
Việt cách mạng đảng.
Đến cuối những năm 20 của thế kỉ XX, ba tổ chức cách mạng này có sự
phân hoá, trên cơ sở đó hình thành ba tổ chức cộng sản là An Nam cộng sản
đảng, Đông Dương cộng sản đảng và Đông Dương cộng sản liên đoàn. Hội
nghị hợp nhất các tổ chức cộng sản đã được triệu tập với sự chủ trì của
23
đấu tranh giai cấp, do đó cũng đánh giá không đúng khả năng cách mạng của
giai cấp tiểu tư sản, mặt tích cực của giai cấp tư sản dân tộc, không thấy được
khả năng phân hoá và liên minh với một bộ phận của giai cấp địa chủ trong
cuộc cách mạng giải phóng dân tộc. Chính vì vậy, trong cao trào cách mạng
1930-1931, có một khẩu hiệu được đưa ra là “Trí, phú, địa, hào. Đào tận gốc,
trốc tận rễ”. Chính khẩu hiệu này cũng như việc đặt mâu thuẫn giai cấp lên
hàng đầu đã khiến một bộ phận lớn tầng lớp tiểu tư sản, trí thức, tư sản dân
tộc, trung tiểu địa chủ không có cơ hội được đóng góp sức mình cho cách
mạng, thậm chí còn là kẻ thù của cách mạng.
Những hạn chế này đã được Đảng dần khắc phục trong các giai đoạn
cách mạng sau.
Trong thời kì đấu tranh phục hồi cách mạng 1932-1935, tầng lớp trí
thức đã hăng hái tham gia, tiêu biểu là cuộc đấu tranh trên văn đàn công khai
giữa hai trường phái: “Nghệ thuật vị nghệ thuật” và “Nghệ thuật vị nhân
sinh”, trong cuộc tranh luận về “Thơ mới”, “Thơ cũ”. Đây là cuộc tranh luận
sôi nổi nhất trong lịch sử văn học Việt Nam đầu thế kỉ XX. Với sự biến
chuyển của thời cuộc đã khiến tầng lớp nhà văn, nhà thơ- một bộ phận quan
trọng của giới trí thức băn khoăn trước câu hỏi: Các nhà văn, nhà thơ có tham
gia vào cuộc đấu tranh của nhân dân dưới sự lãnh đạo của Đảng hay không?
Hoài Thanh đã viết: “Một đằng bị các chính phủ độc tài kiềm chế, một đằng
bị lợi dụng để làm công việc tuyên truyền, hai đằng đều bị mất tự do cả hai.
Mà văn hoá thiếu tự do chẳng khác gì người ta thiếu không khí: không sao có
thể sống được” [48, tr. 100].
Trong khi đó, phái Nghệ thuật vị nhân sinh cũng đưa ra hệ thống quan
điểm của mình, khẳng định rằng nguồn gốc của nghệ thuật là lao động, nghệ
thuật sinh ra để phục vụ cho lao động của con người, nghệ thuật là một sản
phẩm của sinh hoạt xã hội, là thượng tầng kiến trúc nên có tính giai cấp.