Sự biến đổi cơ cấu giai cấp xã hội Miền Bắc - Pdf 29

1
MỤC LỤC
A. Mở đầu
B. Nội dung
I. Sự biến đổi cơ cấu giai cấp xã hội Miền Bắc trong thời kì 1954 -
1975
1. Khái quát cơ cấu giai cấp xã hội Miền Bắc trước 1954
2. Sự biến đổi cơ cấu giai cấp xã hội Miền Bắc trong giai đoạn 1954
– 1960
1.1 Cơ cấu giai cấp xã hội Miền Bắc trong những năm 1954 – 1957
1.2 Cơ cấu giai cấp xã hội Miền Bắc trong những năm 1958 – 1960
3. Sự biến đổi cơ cấu giai cấp xã hội Miền Bắc trong giai đoạn 1961
– 1975
3.1 Cơ cấu giai cấp xã hội Miền Bắc trong những năm 1961 – 1964
3.2 Cơ cấu giai cấp xã hội Miền Bắc trong những năm 1965 – 1975
II. Một số nhận xét về cơ cấu giai cấp xã hội Miền Bắc trong thời kì
1954 – 1975
1. Đặc điểm sự biến đổi cơ cấu giai cấp xã hội miền Bắc thời kì
1954 – 1975
2. Đặc điểm cơ cấu giai cấp xã hội miền Bắc 1954 – 1975
3. Đóng góp và hạn chế của cơ cấu giai cấp xã hội miền Bắc 1954 –
1975
4. Bài học kinh nghiệm
C. Kết luận
TÀI LIỆU THAM KHẢO
A. Mở đầu
1
2
1954 – 1975 là một thời kì đặc biệt trong lịch sử dân tộc và lịch sử
cách mạng Việt Nam. Với hiệp định Giơnevơ, sự nghiệp giải phóng dân tộc
của nước ta vẫn chưa dừng lại ở mốc năm 1954. Do âm mưu xâm lược của

tế xã hội phát triển. Từ đó, nó để lại cho Đảng ta nhiều bài học quý báu
trong quá trình Đổi mới ở nước ta ngày nay.
B. Nội dung
I. Sự biến đổi cơ cấu giai cấp xã hội Miền Bắc trong thời kì 1954
- 1975
1. Khái quát cơ cấu giai cấp xã hội Miền Bắc trước 1954
Nhìn chung, cơ cấu xã hội Việt Nam trước năm 1954 khá phức tạp
bởi sự phát triển không bình thường của xã hội Việt Nam dưới thời thuộc
địa và bởi tính khác biệt của nền kinh tế - xã hội hai vùng đối lập nhau
trong chiến tranh. Nhưng xét tới cùng thì cơ cấu xã hội Việt Nam trước
1954 là vẫn nằm trong khuôn khổ cơ cấu xã hội nông nghiệp bị ảnh hưởng
lớn bởi chiến tranh.
Về tổng số dân, sau tháng 7 – 1954, trên đại bàn miền Bắc có 13
triệu người
1
thuộc hàng chục dân tộc khác nhau sinh sống, nhưng đông nhất
là người Kinh chiếm hơn 85% dân số.
Nhưng, dân cư phân bố không đều giữa các vùng. Trong 13 triệu dân
thì có khoảng 12 triệu sống ở vùng nông thôn và chỉ gần 1 triệu người cư
trú ở địa bàn đô thị, chủ yếu là ở các thành phố lớn như Hà Nội, Hải Phòng.
Ngoài ra, dân cư cũng tập trung đông ở vùng đồng bằng, nhất là vùng đồng
bằng Bắc Bộ với hơn 8 triệu người sinh sống mà chủ yếu là người Kinh.
Ngược lại, vùng núi có diện tích rất lớn thì lại thưa dân, chỉ có các dân tộc
thiểu số sống.
Mật độ dân số miền Bắc trong nửa sau thập kỉ 50 khoảng 85
người/km2. Do đặc điểm phân bố dân cư không đều nên đồng bằng Bắc Bộ
là nơi có mật độ dân số đông nhất, trên 400 người/km2, riêng Thái Bình lên
1
Sách đã dẫn
3

kiến.
2
Sách đã dẫn
3
Nguyễn Đình Lê, Biến đổi cơ cấu giai cấp xã hội miền Bắc 1954 – 1975, NXB Văn hóa thông tin, 1999,
tr13.
4
5
Trung nông, là tầng lớp có đủ ruộng đất canh tác, họ không làm thuê
cho ai và cũng không bị ai bóc lột. Trung nông là những hộ độc lập không
bị phụ thuộc vào phong kiến về kinh tế. Dựa vào mức thu nhập và tài sản,
trung nông được phân chia làm ba bộ phận nhỏ: trung nông lớp trên, lớp
giữa và trung nông lớp dưới. Nhìn chung đời sống trung nông rất khó khăn.
Bằng chứng là chính sách nhổ lúa trồng đay của Nhật khiến hầu hết tầng
lớp này khốn đốn.
Phú nông là tầng lớp khá giàu có ở vùng nông thôn. Đây là đối tượng
bị địa chủ kìm hãm nhưng bản thân họ lại bóc lột người khác. Tầng lớp này
có trong tay nhiều ruộng đất, đứng thứ hai sau địa chủ. Họ thuê người làm
và trả công nhưng nhiều khi họ cũng tiến hành phát canh thu tô. Ngoài ra,
tầng lớp này có khoản thu phụ từ chăn nuôi, trồng màu. Một điểm nữa là
phú nông ở đồng bằng Bắc Bộ thường xung túc hơn phú nông ở nơi khác.
Địa chủ là lực lượng bóc lột chủ yếu ở nông thôn với hình thức phổ
biến là phát canh thu tô. Ngoài ra do ảnh hưởng của yếu tố sản xuất mới,
tầng lớp này còn tham gia kinh doanh những mặt hàng như tư sản, thậm chí
cả việc hùn vốn với tư bản nước ngoài mở công ty. Nhưng đa số địa chủ ở
đây thuộc loại nhỏ. Căn cứ vào số lượng ruộng đất chiếm hữu, địa chủ Việt
Nam chia làm 3 loại: đại, trung và tiểu địa chủ.
Đại địa chủ thực sự là người giàu có. Họ chiếm hữu 50 mẫu. Dưới
tầng lớp này là địa chủ hạng vừa và nhỏ, họ khống chế số lượng ruộng đất
ít hơn và thường phục vụ cho bộ máy hành chính của chính quyền Pháp.

Công nhân có số lượng không nhiều. Trước chiến tranh thế giới thứ
hai ở miền Bắc có hơn 85.000 người làm việc trong các nhà máy, hầm mỏ.
Nhưng trong thời kì chiến tranh thế giới lần thứ hai và trong chín năm
kháng chiến chống thực dân Pháp số lượng công nhân bị giảm sút. Bên
cạnh lực lượng công nhân làm việc trong các xí nghiệp, nhà máy của tư bản
thực dân Pháp, còn có bộ phận khác sản xuất trong khu vực do Chính phủ
Việt Nam Dân chủ Cộng hòa kiểm soát.
4
Nguyễn Đình Lê – Trương Thị Tiến, Biến đổi cơ cấu kinh tế - xã hội Việt Nam 1945 – 1995, NXB
DHQGHN, tr 18.
6
7
Dù mới chỉ lãnh đạo xã hội về phương diện chính trị, nhưng lực
lượng công nhân trong khu vực giải phóng có vai trò to lớn trong sự nghiệp
kháng chiến, kiến quốc của dân tộc.
Nhìn chung, gần một thế kỉ cai trị của chủ nghĩa thực dân Pháp đã để
lại những hệ quả nặng nề cho tiến trình biến đổi lịch sử đất nước nói chung
và biến đổi cơ cấu xã hội nói riêng. Sự chi phối của cơ cấu kinh tế - xã hội
thực dân đã làm cho kinh tế Việt Nam càng trở nên què quặt, lạc hậu và
phụ thuộc hoàn toàn vào tư bản Pháp. “Tương ứng với nền kinh tế đó, các
giai tầng trong xã hội miền Bắc đã vận động và cũng phát triển không bình
thường, không dứt khoát như những quốc gia phương Tây trong quá trình
chuyển dịch cơ cấu xã hội từ xã hội nông nghiệp sang xã hội công
nghiệp”
5
. Xã hội Việt Nam vẫn là một xã hội nông thôn, nông dân và nông
nghiệp.
Do hoàn cảnh chiến tranh chống xâm lược nên trong thời kì 1945 –
1954, miền Bắc có hai hệ thống chính trị đối lập ở hai vùng: tự do, giải
phóng do Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa kiểm soát và bên kia

năm 1954 – 1957
a) Sự biến đổi cơ cấu giai cấp xã hội trong thời kì tiếp quản
(1954 – 1955)
Theo hiệp định Giơnevơ, Việt Nam tạm thời bị chia cắt làm hai
miền: miền Bắc (từ vĩ tuyến 17 trở ra) do Chính phủ Việt Nam Dân chủ
Cộng hòa kiểm soát, còn miền Nam do Pháp kiểm soát và đến 7 – 1956 sẽ
tiến hành tổng tuyển cử thông nhất nước nhà.
Nhưng trên thực tế trước khi rút quân, thực dân Pháp đã cố tình phá
hoại miền Bắc. Chúng đã cài lại lực lượng phản động ở miền Bắc, ra sức dụ
dỗ, cưỡng ép những công chức, nhân viên kĩ thuật, kĩ sư bác sĩ và giáo dân
vào Nam. Trên thực tế ở nhiều địa phương, hàng chục người nhẹ dạ đã rời
bỏ quê hương của mình ở miền Bắc để vào Nam.
Trước những tình hình đó, một cuộc đấu tranh để giữ người, giữ của
trong những ngày tiếp quản của nhân dân miền Bắc đã diễn ra quyết liệt.
Chính vì vậy, đã hạn chế sự di dân không tự nhiên từ Bắc vào Nam, thậm
8
9
chí một số lính Âu – Phi được vận động tuyên truyền đã định cư ổn định ở
miền Bắc.
Cũng trong thời gian này, miền Bắc cũng đón nhận hầu hết các cán
bộ công nhân viên, chiến sĩ trong các tổ chức quân – dân – chính – đảng ở
miền Nam tập kết ra Bắc. Nhưng việc hàng chục vạn nhân sự làm việc
trong bộ máy chuyên chế của chủ nghĩa thực dân Pháp vào miền Nam cũng
là một trong nhiều nguyên nhân ảnh hưởng tới sự biến đổi cơ cấu giai cấp
xã hội miền Bắc trong thời kì này. Tuy nhiên, dù được giải thể tại chỗ
nhưng tàn dư của xã hội thuộc địa vẫn chưa bị xóa bỏ hoàn toàn. Ngoài ra,
do chính sách phá hoại của Pháp nên nạn thất nghiệp diễn ra khá phổ biến.
Đó là thực trạng của miền Bắc sau năm 1954. Tất cả các vấn đề đó
đều ảnh hưởng tới cơ cấu kinh tế xã hội miền Bắc. Nhưng dưới sự lãnh đạo
của Đảng, miền Bắc cố gắng tiếp quản nhanh, ổn định đời sống cho nhân

nông dân cũng “trở thành” thợ thủ công trong lúc nông nhàn. Ước tính
trong năm 1955 ở miền Bắc có khoảng 350.000 thợ thủ công.
Lực lượng tiểu thương thay đổi cũng không đáng kể, có khoảng
225.000 người buôn bán nhỏ sau tiếp quản miền Bắc. Lực lượng tiểu
thương hoạt động đôc lập, đa số buôn bán nhỏ lẻ. Ở thành thị là buôn
chuyến, còn ở nông thôn là buôn kiểu hàng rong.
Giai cấp tư sản có sự biến chuyển. Nhiều tư sản lớn người Việt và
người Hoa di chuyển vào Nam theo thực dân Pháp. Lực lượng tư sản còn
lại được chia làm hai loại: công nghiệp và thương nghiệp. Ngoài ra, có
nhiều hộ khác chuyên cho vay nặng lãi và dịch vụ cầm đồ hoạt động chủ
yếu ở các thành phố lớn. Nhưng nhìn chung tư sản người Việt không đông,
phần nhiều là tư sản người Hoa.
Giai cấp công nhân công nghiệp chiếm tỉ lệ khá cao, tập trung chủ
yếu trong 13 ngành công nghiệp. Với số lượng 18.577 người, họ là lực
lượng lao động trong các ngành thuộc công nhiệp Trung ương và địa
phương. Công nhân lao động trong các cơ sở của tư nhân cũng tăng lên vài
vạn người. Vì tư sản Việt Nam không lớn số đơn vị thuê từ 100 công nhân
trở nên rất ít. Bộ phận tư sản và công nhân trong cơ sở sản xuất tư doanh
tập trung chủ yếu trong khu vực công nghệ thực phẩm.
Bộ phận cư dân nông nghiệp vẫn là lực lượng xã hội đông đảo nhất
trong toàn bộ hệ thống kết cấu xã hội miền Bắc. Tầng lớp địa chủ có biến
đổi ít nhiều so với trước. Tuy thế lực và uy tín của họ không còn như trước
10
11
và dù tài sản của họ đã giảm hàng trăm ngàn hecta ruộng đất nhưng họ vẫn
chiếm hữu số lượng ruộng đất rất lớn.
Tầng lớp phú nông trong thời gian này thay đổi không đáng kể. Lực
lượng này chiếm 1,6% dân số nông thôn với 4,7% diện tích ruộng đất.
Tầng lớp trung nông chiếm 36,4% dân số và chiếm hữu 39% ruộng
đất ở nông thôn. Đây là lực lượng ít bị xáo trộn nhất trong xã hội.

nhiêu,sử dụng thế nào (tự làm lấy, thuê người làm, hoặc phát canh thu tô),
mà định họ thuộc hạng bóc lột, bị bóc lột hay tự lao động”
7
.
Công cuộc cải cách ruộng đất được dựa trên nguyên tắc cơ bản là: 1.
Khẳng định quyền sở hữu tối cao về ruộng đất là của Nhà nước và của toàn
dân; 2. Có phân biệt đối xử đối với các gia đình địa chủ trong quá trình thu
ruộng đất và các tài sản khác của họ để chia cho nông dân; 3. Phương thức
cấp ruộng đất là căn cứ vào tổng diện tích vốn có của mỗi địa phương, cố
gắng chia tương đối đồng đều diện tích canh tác giữa các hộ; 4. Ưu đãi đối
với những người tham gia cách mạng, thoát li bằng cách chia một phần đất
cho gia đình họ đang canh tác ở quê.
Quá trình cải cách ruộng đất trong giai đoạn này có ý nghĩa đặc biệt
to lớn, lâu dài trong tiến trình phát triển nông nghiệp, nông thôn miền Bắc,
đồng thời tạo nên bộ mặt mới trong cơ cấu xã hội nông thôn khu vực này.
• Biến đổi cơ cấu giai cấp xã hội ở vùng nông thôn trong cải cách
ruộng đất:
Cuộc cải cách ruộng đất diễn ra liên tục và quyết liệt từ 1955 đến
1957. Dưới sự chỉ đạo trực tiếp của các đội cải cách, hơn 3.300 xã lần lượt
thực hiện cải cách ruộng đất. Cuộc cải cách này đã lôi cuốn khoảng
2.400.000 hộ vào cuộc vận động chưa từng có trong lịch sử nông dân và
nông thôn Việt Nam.
Từ thấp lên cao, cải cách ruộng đất phát triển khắp nơi, qua năm đợt
liên tiếp. Đợt năm có quy mô rộng lớn nhất, là cuộc “tổng phản công” vào
7
Sách đã dẫn.
12
13
giai cấp địa chủ. Chính khi phong trào đang diễn ra ở đỉnh cao nhất thì
những thiếu sót, sai lầm của công cuộc được bộc lộ rõ rệt nhất.

Hồ Chí Minh: Toàn tập, NXB Chính trị quốc gia, HN, 1996, tập 8, tr139.
13
14
226.150 người và 247.730 người vào cuối năm1957. Lực lượng này cũng
tham gia vào hai nhóm ngành: sản xuất vật chất và không sản xuất vật chất
và so với thời gian trước lực lượng lao động trong hai nhóm này đều tăng,
nhưng tỉ lệ tăng trưởng ở khu vực sản xuất vật chất nhanh hơn so với khu
vực không sản xuất vật chất.
Khu vực sản xuất được chia làm 5 nhóm chính: công nghiệp, kiến
trúc, vận tải – bưu điện, thương nghiệp và nông trường quốc doanh. Trong
3 năm này, lực lượng lao động trong các nông trường quốc doanh là tăng
nhanh nhất.
Lực lượng lao động trong các nông trường là bộ phận chủ yếu của
lực lượng nông nghiệp quốc doanh với nhiệm vụ là xây dựng các khu trung
tâm kinh tế - xã hội cho vùng miền núi, tạo lập mô hình sản xuất lớn xã hội
chủ nghĩa, đồng thời là củng cố an ninh.
Trong khu vực kinh tế Nhà nước, vào đầu thời kì khôi phục kinh tế,
công nhân ở khu vức kiến trúc đông nhất, nhưng sau đó số lượng công
nhân viên trong khu vực công nghiệp tăng lên.Ngoài các lực lượng trên,
còn có một bộ phận công nhân viên làm việc trong các cơ sở công nghiệp
tư doanh.
Lực lượng tiểu thương phát triển khá nhanh vài năm sau khi hòa
bình được lập lại. Từ năm 1955 – 1957, số hộ kinh doanh tư nhân, nhất là
tầng lớp tiểu thương, tiểu chủ phát triển rất nhanh ở cả vùng nông thôn và
đô thị. Đến cuối năm 1957, có 78.456 cơ sở buôn bán với khoảng 230.000
thương nhân, đa số là người buôn bán nhỏ.
Giai cấp tư sản Việt Nam tuy ít về số lượng, nhỏ về vốn kinh doanh,
nhưng trong ba năm khôi phục kinh tế, một số hộ đã giàu có hơn, có hơn
chục cơ sở thuê trên 100 công nhân.
So với trước ngày hòa bình lập lại, xã hội miền Bắc đã đổi khác. Sự

Sau cải cách ruộng đất, ở nông thôn miền Bắc có hiện tượng “vượt
cấp”, đa số hộ cố nông trước đây đã trở thành bần nông và tầng lớp bần
nông cũ đã vươn lên thành trung nông lớp dưới.
Tuy nhiên, do kĩ thuật canh tác lạc hậu, phụ thuộc vào tự nhiên nhiều
nên thường xuyên xảy ra mất mùa, không đủ ăn. Trước tình hình đó, nông
dân miền Bắc được đưa vào các hợp tác xã nông nghiệp. Riêng ở vùng
rừng núi, vì công cuộc cải cách ruộng đất chưa tiến hành nên cuộc vận
9
Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ III, NXB Sự thật, HN, 1960, tập
1, tr 54
15


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status