biến đổi cơ cấu kinh tế- xã hội việt nam thời kỳ cận- hiện đại - Pdf 13

đại học quốc gia hà nội
Trờng đại học khoa học xã hội và nhân văn
Khoa lịch sử
đề tài: Giai cấp t sản mại bản Việt Nam thời kỳ 1954 - 1975
Chuyên đề:
Biến đổi cơ cấu kinh tế- xã hội Việt Nam
thời kỳ cận- hiện đại
Ngời hớng dẫn:
HN, tháng 11/2005
Mục lục
I. Mở đầu
II. Nội dung
2.1. Sự hình thành giai cấp t sản Việt Nam
2.1.1. Mầm mống chủ nghĩa t bản trong lòng xã hội Việt Nam trớc khi
thực dân Pháp xâm lợc
2.1.2. Sự hình thành giai cấp t sản Việt Nam
2.2. Khái quát về giai cấp t sản Việt Nam thời Pháp thuộc.
2.2.1. Có hay không có giai cấp t sản mại bản ở Việt Nam
2.2.2. Sự phát triển của giai cấp t sản Việt Nam
2.2.3. Đặc điểm giai cấp t sản mại bản Việt Nam
2.2.4 Thái độ của t sản mại bản đối với phong trào giải phóng dân tộc
của nhân dân ta.
2.3. Giai cấp t sản mại bản dới chế độ thực dân mới của Mỹ
2.3.1. Tình hình mới- những thay đổi mới
2.3.2. Những đặc điểm cơ bản của giai cấp t sản mại bản miền Nam
dới chế độ thực dân mới của Mỹ
2.3.3. Thái độ của giai cấp t sản mại bản đối với cuộc cách mạng giải
phóng của nhân dân miền Nam Việt Nam
2.4. Nhận xét về giai cấp t sản mại bản Việt Nam
3. Kết luận
Tài liệu tham khảo

ợc lại với lợi ích của dân tộc nên cùng với sự thất bại của đế quốc Mỹ, giai
cấp này cũng dần đi đến suy yếu và bị cách mạng tiêu diệt.
Khái niệm giai cấp t sản mại bản hiện nay đã trở thành một khái niệm
lịch sử, nhng do nó đã có những tác động không nhỏ đến lịch sử Việt Nam
trong một thời kỳ nhất định. Do đó, nghiên cứu về nó cũng nh những tác
động của nó một cách tích cực hay tiêu cực đối với toàn bộ tiến trình lịch sử
dân tộc thiết nghĩ cũng rất cần thiết, đặc biệt là với công cuộc đổi mới theo
định hớng xã hội chủ nghĩa của nớc ta hiện nay.
3
II. Nội dung
2.1. Sự hình thành giai cấp t sản Việt Nam
2.1.1. Sự hình thành mầm mống chủ nghĩa t bản trong lòng xã hội
Việt Nam trớc khi thực dân Pháp xâm lợc.
Kinh tế sản xuất hàng hoá đã xuất hiện từ lâu trong xã hội Việt Nam
nhng phải từ cuối thế kỷ XVI trở đi, kinh tế hàng hoá mới chiếm một địa vị
đáng kể trong lòng nền kinh tế phong kiến Việt Nam. Đó cũng là thời kỳ
kinh tế Việt Nam bắt đầu tiếp xúc phần nào với những hoạt động ngoại thơng
không chỉ với các nớc phơng Đông mà cả với một số nớc phơng Tây đang b-
ớc vào thời kỳ hình thành và phát triển kinh tế t bản chủ nghĩa.
Trong thế kỷ XVII- XVIII, ở nớc ta đã hình thành những thị trấn, thị tứ
quan trọng nh Hội An, Thăng Long, Gia Định làm cho những hoạt động
giao dịch với bên ngoài cũng trở nên thờng xuyên và rộng rãi hơn trớc, đặc
biệt là với các nớc t bản chủ nghĩa phơng Tây.
Nền sản xuất hàng hoá giản đơn đã mở rộng và thâm nhập vào nền
kinh tế phong kiến tự nhiên. Đây là một sự vận động tất yếu của nội lực nền
kinh tế, nhng với lịch sử phát triển của kinh tế Việt Nam ta không thể phủ
nhận vai trò của cha cố phơng Tây- những ngời trực tiếp du nhập và củng cố
phơng thức sản xuất mới t bản chủ nghĩa vào Việt Nam thông qua hoạt động
truyền giáo của mình. Do vậy, ở những nơi cửa biển hay các thành phố quan
trọng đã xuất hiện một hạng ngời chuyên làm nghề thơng mại- một tầng lớp

và dựa trên quan hệ lệ thuộc về thân thể. Quan hệ sản xuất hàng hoá và tiền
tệ ấy đã thúc đẩy hình thành những thị trờng địa phơng nhỏ hẹp đang trong
quá trình dần dần liên hệ với nhau thành một thị trờng mở rộng trong nớc và
một phần liên hệ với thị trờng nớc ngoài.
Hệ quả tất yếu của tình trạng đó là mâu thuẫn giữa quan hệ sản xuất
phong kiến lạc hậu với sức sản xuất mới (mầm mống t bản chủ nghĩa) ngày
càng bộc lộ gay gắt. mặc dù trong lòng nền kinh tế phong kiến ấy đã hình
thành sức sản xuất mới, nhng về căn bản nó cũng là yếu tố kinh tế tiền t bản
và một số yếu tố mầm mống t bản chủ nghĩa bị kìm hãm một cách nặng nề.
Quá trình sức sản xuất mới ấy lớn dần lên mâu thuẫn càng sâu sắc với quan
5
hệ sản xuất phong kiến và chuẩn bị đập tan quan hệ ấy. Đó là quá trình tiến
bộ của lịch sử.
2.1.2. Sự hình thành giai cấp t sản Việt Nam
Ngay từ khi nền kinh tế hàng hoá bắt đầu manh nha xuất hiện ở nớc ta
thì kéo theo đó cũng xuất hiện một lớp ngời thoát ly khỏi sản xuất hàng hoá
đơn thuần. Đó là lực lợng t bản thơng nghiệp đầu tiên. Có thể tầng lớp này đã
xuất hiện từ rất sớm trong xã hội Việt Nam, bởi trong cơ cấu xã hội Việt
Nam cổ truyền, lớp ngời này đã đợc đề cập đến. Tuy nhiên, ra đời trong một
xã hội nông nghiệp cổ truyền với quan niệm Nho giáo nặng nề nên lớp ngời
này không đợc coi trọng thậm chí còn bị coi thờng và bị xếp vào hạng ngời
dới cùng trong kết cấu xã hội sĩ- nông- công- thơng.
Cùng với sự tách ra khỏi sản xuất nông nghiệp của một số ngành thủ
công đã dẫn đến chỗ phân hoá trong nông dân và những ngời sản xuất thủ
công. Trong xã hội phong kiến Việt Nam ở nông thôn đã xuất hiện một số
nông dân giàu có. Đó là mầm mống t bản trong nông nghiệp. Cùng với đó
cũng xuất hiện một số thơng nhân giàu có và cho vay nặng lãi đang trong
quá trình tích luỹ t bản nguyên thuỷ. đồng thời cũng xuất hiện một số rất ít
công trờng thủ công có mầm mống quan hệ sản xuất t bản chủ nghĩa.
Khi thực dân Pháp xâm chiếm và thống trị xã hội Việt Nam và chủ

dân tộc Việt Nam để thực hiện lợi nhuận cao nhất của nó. Chủ nghĩa t bản
Việt Nam không thể phát triển nhanh chóng. Nhng một mặt khác, khi chủ
nghĩa t bản đế quốc thâm nhập vào nớc ta, nó thúc đẩy cho nền kinh tế tự
nhiên cũ mau tan vỡ, biến nớc ta thành vòng khâu của thị trờng Thế giới,
tầng lớp vô sản làm thuê ngày càng nhiều, tầng lớp thơng nhân mở rộng
phạm vi kinh doanh. Tóm lại nó có tác dụng kích thích khách quan cho chủ
nghĩa t bản Việt Nam phát triển. Và t sản Việt Nam với t cách một giai cấp
xã hội ra đời là một tất yếu lịch sử.
2.2. Khái quát về giai cấp t sản mại bản Việt Nam thời Pháp thuộc.
2.2.1. Có hay không giai cấp t sản mại bản ở Việt Nam?
Khi đặt ra câu hỏi này điều mà chúng tôi muốn đề cập đến là có hay
không sự khác biệt giữa giai cấp t sản dân tộc với giai cấp t sản mại bản hay
không?
Nh chúng ta đã biết, đặc trng cơ bản nhất làm cơ sở cho sự khác nhau
giữa các giai cấp trong xã hội là quan hệ của họ khác nhau với t liệu sản
xuất, từ đó họ sẽ khác nhau về địa vị trong hệ thống sản xuất của xã hội,
khác nhau về vai trò trong tổ chức xã hội về lao động, khác nhau về phơng
thức hởng thụ nếu nói nh vậy thì sự phân biệt giữa t sản dân tộc với t sản
7
mại bản sẽ không giống nh sự phân biệt giữa giai cấp t sản nói chung và giai
cấp phong kiến. Vì t sản mại bản và t sản dân tộc đều chiếm hữu t liệu sản
xuất t bản chủ nghĩa, đều làm giàu bằng bóc lột giai cấp công nhân và nhân
dân lao động, đều có ý thức hệ giai cấp t sản, và tất nhiên, họ đều thuộc về
giai cấp t sản nói chung. Và nh thế thì có thể nào coi giai cấp t sản mại bản
nh là một giai cấp riêng biệt trong xã hội?
Nhng sinh ra trong điều kiện xã hội thuộc địa, t sản mại bản và t sản
dân tộc bên cạnh điểm giống nhau cơ bản, còn có những điểm rất khác nhau.
đó là quan hệ kinh tế và thái độ chính trị khác nhau đối với chủ nghĩa đế
quốc bên ngoài đang thống trị thuộc địa. Do đó, đã đa tới sự phân biệt giữa
giai cấp t sản mại bản và giai cấp t sản dân tộc.

bản phân biệt với giai cấp t sản dân tộc.
Từ sự phân biệt giai cấp t sản mại bản với giai cấp t sản dân tộc suy ra
rằng, giai cấp t sản mại bản ra đời phụ thuộc hai điều kiện cơ bản có liên hệ
khăng khít với nhau:
Một mặt t bản đế quốc tăng cờng đầu t vào thị trờng thuộc địa ở một
mức độ nhất định.
Mặt khác lực lợng t sản mại bản, do đầu t của đế quốc đợc tạo ra, phát
triển từ ít tới nhiều, hoạt động của họ từ chỗ lẻ tẻ đến chỗ thành một tập đoàn
có ý thức giai cấp của nó.
Nh vậy, quá trình sản sinh giai cấp t sản mại bản- kẻ đại lý trực tiếp
cho t bản đế quốc bên ngoài, khác hẳn quá trình sản sinh giai cấp t sản dân
tộc- kẻ đại diện thực sự cho chủ nghĩa t bản trong nớc. Bởi vì chủ nghĩa t bản
nớc thuộc địa, nửa thuộc địa nảy sinh cũng theo quy luật chung về sự ra đời
của chủ nghĩa t bản. nó do hai điều kiện cơ bản quyết định:
- Phải có một số t nhân tập trung đợc nhiều tiền của vào tay ở một giai
đoạn sản xuất hàng hoá tơng đối cao.
- Phải có những ngời tiểu sản xuất trở thành vô sản, tự do bán sức lao
động cho những kẻ đã tập trung đợc nhiều tiền của.
Hai điều đó không do chủ nghĩa đế quốc bên ngoài đẻ ra, nó đợc nảy sinh từ
trong sự phát triển của nội bộ nền kinh tế nớc đó, mặc dầu chủ nghĩa đế quốc
thống trị có ảnh hởng tới sự phát triển của chủ nghĩa t bản nớc thuộc địa, nửa
thuộc địa. Vì thế ở nhiều nớc, chủ nghĩa t bản đã nảy sinh trớc khi bị chủ
nghĩa đế quốc chiếm trị, tức là trớc khi có lực lợng t sản mại bản thì đã có
những t sản đại biểu cho nền công thơng nghiệp nớc đó rồi.
Sự khác nhau về điều kiện nảy sinh và quá trình phát triển của giai cấp
t sản mại bản và t sản dân tộc biểu hiện rằng sự hình thành của hai giai cấp
đó không có một mối liên hệ tất yếu, có thể đồng thời cùng xuất hiện nhng
cũng có thể xuất hiện sớm muộn khác nhau.
9
Nhng ở nớc ta, bộ phận giai cấp t sản mại bản chẳng những là một giai

Bớc sang giai đoạn từ đầu thế kỷ XX đến đại chiến thế giới lần thứ
nhất, tính chất tự nhiên của nền kinh tế Việt Nam bị lay chuyển, thị trờng mở
rộng từ Bắc vào Nam và đã trở thành một mắt xích trong hệ thống thị trờng
10
thế giới. Tầng lớp t sản dân tộc xuất hiện từ những thơng nhân phát đạt,
những đại địa chủ t bản hoá, những chủ xởng thủ công giàu có. Tiêu biểu cho
đám t sản này là Trơng Văn Bền, Bạch Thái Bởi, Nguyễn Thanh Liêm
Khi tầng lớp t sản dân tộc đợc kích thích phát triển hơn trớc, cũng là
lúc thực dân Pháp bắt đầu đầu t khai thác thuộc địa Việt Nam trên các mặt
công, nông, thơng nghiệp. Một số t sản mại bản cũng xuất hiện trong thời kỳ
này. Cùng với yêu cầu mở rộng khai thác công, nông, thơng nghiệp của t bản
Pháp đã làm cho một số thơng nhân, cai thầu Việt Nam trớc kia trở thành
một số thầu khoán lớn. Còn có vài nhà t bản đã chung vốn với t bản Pháp nh
Bùi Huy Tín, Đoàn Đình Nguyên, Lê Phát An
Trong đại chiến thế giới lần thứ nhất, hàng hoá Pháp và hàng Châu Âu
nhập cảng giảm sút trên thị trờng Việt Nam, thực dân Pháp cũng phải mở
thêm một số xí nghiệp ở thuộc địa để cung cấp cho nhu cầu kinh doanh của
chúng. Trong điều kiện đó t sản dân tộc cũng nh t sản mại bản đều tăng cờng
hoạt động bằng mở xí nghiệp, đầu cơ tích trữ, thầu khoán và họ đã rất phát
tài.
Nhng cha bao giờ nhịp độ phát triển của lực lợng t sản dân tộc lại đợc
phát triển nhanh nh mấy năm sau thế chiến thứ nhất. Nguyên nhân là do chủ
nghĩa t bản đang có đà phát triển từ trong chiến tranh; sau đại chiến, quan hệ
hàng hoá tiền tệ càng ăn sâu vào kinh tế nông nghiệp, lôicuốn kinh tế nông
dân, địa chủ vào thị trờng, số ngời vô sản hoá rất đông, các phơng tiện giao
thông vận tải có nhiều, thành thị mở rộng và ngày càng tập trung. Cho nên có
nhiều thơng nhân giàu có lên, trở thành chủ xí nghiệp lớn nh chủ công ty
buôn Quảng hng long mở xởng làm đồ sắt, chế xà phòng với trên 100 công
nhân; chủ công ty buôn Liên thành có nhiều xởng chế nớc mắm
Về phía sản mại bản, lực lợng cũng phát triển thời kỳ sau chiến tranh.

dân ta của thực dân Pháp, giai cấp t sản mại bản ra đời, hình thành và phát
triển đều phụ thuộc vào chính sách kinh tế của chính quốc đối với thuộc địa.
Và nhìn một cách khái quát nhất t sản Việt Nam thời Pháp thuộc ta thấy nổi
bật lên ba đặc điểm cơ bản sau:
Thứ nhất: tuy giữ vai trò môi giới, đại lý cho t bản Pháp ở thuộc địa
song giai cấp t sản mại bản Việt Nam rất nhỏ bé và phụ thuộc.
Đối với thực dân Pháp, Việt Nam nói riêng và Đông Dơng nói chung
là thuộc địa khai thác. Nghĩa là chủ nghĩa t bản Pháp coi nớc ta vừa là nơi
cung cấp nguyên- nhiên liệu dồi dào cho nền công nghiệp chính quốc. Đồng
thời đó cũng là thị trờng tiêu thụ rộng lớn, đầy tiềm năng và cũng hết sức dễ
tính đảm bảo cho nền sản xuất trong nớc phát triển một cách bền vững, cầu
cân đối với cung. Đây đợc xem là cứu cánh cho nền công nghiệp lạc hậu của
12
Pháp lúc bấy giờ so với trình độ chung của Châu Âu khi mà một cuộc cách
mạng khoa học- kỹ thuật mới đang manh nha hình thành.
Hàng hoá Pháp bị chính ngời Pháp chối bỏ. Công nghiệp đình trệ, kinh
tế lâm vào khủng hoảng do cung vợt quá cầu. Do vậy mà sau khi hoàn thành
việc lập ách thống trị ở thuộc địa, thực dân Pháp đã ồ ạt đa hàng hoá của
mình vào Việt Nam.
Nhng đồng thời cũng do chính sách buôn tận gốc, bán tận ngọn
hòng thu đợc lợi nhuận tối đa và bóc lột triệt để đối với nhân dân ta mà thực
dân Pháp ở thuộc địa đã trực tiếp đứng ra nhập cảng và mở các đại lý bán
hàng. Cùng với đó là sự phát triển mạnh mẽ của hoạt động xuất khẩu hàng
nông sản và hàng thủ công của nhân dân ta. Thực dân Pháp ở thuộc địa đã
bảo trợ cho bọn t bản chính quốc nắm giữ độc quyền trong nhập và xuất cảng
cũng nh cho phép bọn chúng tự định giá cả cho mỗi mặt hàng nhập khẩu,
thảng hoặc mới nhả cho bọn t sản thuộc địa một chút quyền lợi nhng rất hạn
chế. Qua đó ta thấy, t sản mại bản Việt Nam không hề có đặc quyền đặc lợi
nào về kinh tế nên là một giai cấp hết sức nhỏ yếu trong xã hội.
Cùng với việc nắm giữ độc quyền trong xuât nhập cảng, chủ trơng của

cho một phơng thức sản xuất mới, tiến bộ, lại có mối liên hệ nhất định với
giai cấp địa chủ- đại diện cho phơng thức sản xuất lạc hậu, lỗi thời lúc bấy
giờ.
Vậy biểu hiện của mối liên hệ đó đợc thể hiện nh thế nào?
Trớc hết đó là xu thế t sản hoá địa chủ. Nguyên nhân của tình trạng
này là sau khi đợc thực dân Pháp nhợng cho nhiều đồn điền rộng lớn, địa chủ
phong kiến trở nên giàu có. Cùng với đó là tốc độ phát triển khá nhanh của
nền kinh tế hàng hoá đã cuốn hút họ vào thị trờng, hàng năm thu đợc rất
nhiều tiền bạc. một vài ngời trong số họ đã bỏ tiền ra mở xí nghiệp sản xuất
hay các cửa hàng buôn thóc gạo bán cho t bản ngoại quốc xuất cảng, hoặc
chung vốn với các công ty thầu khoán. tức là trong số địa chủ phong kiến,
một số đã trở thành t sản mại bản nh Lê Quang Liên, Lê Quang Ngà, Pierre
Phơng
Cùng với đó là xu hớng địa chủ hoá t sản. Với chế độ địa tô phong
kiến nặng nề mà thực dân Pháp vẫn tìm cach duy trì ở thuộc địa, trung bình
từ 50%- 70% hoa lợi. Các nhà t sản nhận ra rằng, bóc lột theo lối phong kiến
chẳng những nhàn rỗi hơn, chắc chắn hơn, cần ít tiền vốn mà còn kiếm đợc
nhiều lời, thậm chí còn nhiều hơn là buôn bán. Đặc biệt là trớc sự độc quyền
buôn bán của t sản Pháp trên thị trờng đã hạn chế kinh doanh của t sản mại
bản. Do vậy mới có tình trạng nhiều nhà t sản khi kinh doanh thành đạt ở
14
thành thị lại bỏ tiền ra mua đất ở nông thôn để lập đồn điền, trang trại, duy
trì hình thức pháp canh thu tô phong kiến.
Nh vậy có thể đi đến kết luận về đạc điểm của giai cấp t sản mại bản
Việt Nam thời Pháp thuộc là hởng chung lợi nhuận cao nhất với t bản lũng
đoạn ngoại quốc, nhng lại rất nhỏ bé về kinh tế, hèn yếu về chính trị và có
liên hệ với địa chủ phong kiến. Đó là kết quả tất yếu do chính sách thống trị
của thực dân Pháp đem lại. Những đặc điểm này sẽ thay đổi lớn trong giai
đoạn lịch sử tiếp theo.
2.2.4. Thái độ của t sản mại bản đối với phong trào giải phóng dân

trị của bọn t sản miền Bắc đã không còn nữa. Nên trong khi bọn tàn quân
Pháp hối hả rút quân khỏi nớc ta thì bọn t sản mại bản miền Bắc cũng hối hả
chạy vào Nam. Do vậy trong thời kỳ này chúng tôi chỉ tập trung chủ yếu
khảo sát về giai cấp t sản mại bản ở miền Nam nớc ta, bởi ở miền Bắc kể từ
1954 trở đi và đặc biệt là sau cải cách ruộng đất, về cơ bản giai cấp t sản mại
bản đã bị tiêu diệt.
Nếu nh đế quốc Pháp trớc đay cai trị Việt Nam bằng một bộ máy nhà
nớc thực dân có các viên chức ngời Pháp trực tiếp nắm giữ trong các ngành
hành chính và chuyên môn. và bằng cách cớp đoạt thuế má, trực tiếp nắm
độc quyền quan thuế, do đó trực tiếp độc quyền kinh doanh nông, công, th-
ơng nghiệp, tài chính, tiền tệ Thì ngày nay ở miền Nam Việt Nam đế quốc
Mỹ lại dùng viện trợ và một bọn cố vấn Mỹ, biến miền Nam Việt Nam
thành thuộc địa của chúng. Thêm vào đó, chúng tạo ra ở miền Nam một
chính quyền tay sai với danh nghĩa độc lập, dùng chính quyền đó phục vụ
chính sách xâm lợc gây chiến tranh, cớp đoạt lợi nhuận cao nhất của nó.
Viện trợ Mỹ chính là một công cụ của chủ nghĩa thực dân mới.
Dới tác động của viện trợ Mỹ, miền Nam đã biến thành một căn cứ
quân sự của Mỹ:; hàng hoá viện trợ Mỹ tràn ngập thị trờng miền Nam, bóp
chết nền công thơng nghiệp dân tộc. Do viện trợ Mỹ mà miền Nam phảI h-
ớng việc xuất nhập khẩu theo chiều phiến diện là buôn bán và phụ thuộc vào
Mỹ, phải đảm bảo mua hàng của t bản Mỹ với giá cao và bán hàng cho Mỹ
với giá rẻ hơn ở thị trờng thế giới. Viện trợ Mỹ là công cụ đã biến miền
Nam thành căn cứ quân sự, thuộc địa, phụ thuộc vào đế quốc về mọi mặt
quân sự, kinh tế, chính trị; nhà nớc cộng hoà độc lập miền Nam là công cụ
chính sách thống trị của Mỹ.
Trong điều kiện đế quốc Mỹ dùng hình thức thực dân kiểu mới đẻ biến
miền Nam thành thuộc địa kiểu mới của chúng thì những đặc điểm của giai
cấp t sản mại bản Việt Nam tức là giai cấp chủ yếu làm đại lý cho đế quốc
16
Mỹ, đã có những biến chuyển khác so với thời thuộc Pháp. Những chuyển

tay sai bán nớc để làm giàu trên mồ hôi, xơng máu của đồng bào ta.
Tuy nhiên, do chính sách độc chiếm toàn bộ nền kinh tế thuộc địa và
cai trị bằng cả một bộ máy hành chính, quân sự của thực dân Pháp, nên giai
17
cấp t sản mại bản Việt Nam không trực tiếp tham gia nắm chính quyền.
Chúng hầu nh chỉ hoạt động đợc trong các ngành xuất nhập khẩu, đóng vai
trò đại lý cho các công ty t bản thực dân. tuy vậy hoạt động của chúng trong
các ngành này cũng bị hạn chế.
Nhng từ sau năm 1954, thay chân thực dân Pháp ở nớc ta, áp
dụngchính sách thực dân kiểu mới tại đây, Mỹ đã chọn giai cấp t sản mại
bản, bọn quan liêu, quân phiệt làm chỗ dựa chủ yếu của chính quyền tay sai
thực dân mới. Để thực hiện ý đồ này, chúng dốc sức xây dựng một cơ sở hạ
tầng cho chủ nghĩa thực dân mới, mở rộng các thành phố, thị xã, xây dựng ở
miền Nam cơ sở vật chất và kỹ thuật bớc đầu của chủ nghĩa t bản nhằm tạo
nên một cơ sở kinh tế cho giai cấp t sản mại bản tay sai Mỹ.
Sự phát triển của giai cấp t sản mại bản ở miền Nam trong 20 năm qua
gắn chặt với viện trợ Mỹ, với chiến tranh xâm lợc của Mỹ. chính sách viện
trợ thơng mại hoá và chính sách kinh tế phục vụ chiến tranh xâm lợc của
Mỹ là vú sữa nuôi béo bọn t sản mại bản miền Nam. Chiến tranh càng lớn,
quân đội viễn chinh Mỹ và ch hầu vào miền Nam càng đông, viện trợ Mỹ
đổ vào càng nhiều thì t sản mại bản miền Nam càng phát triển. Quá trình
hình thành và phát triển đội ngũ t sản mại bản quan liêu, quân phiệt, tay sai
Mỹ là một quá trình mâu thuẫn, chèn ép, đấm đá nhau kịch liệt, một quá
trình cá lớn nuốt cá bé. Bọn có thế lực, bám vào Mỹ- Ngụy, đợc Mỹ- Nguỵ
hà hơi tiếp sức, làm cai thầu phục vụ chiến tranh xâm lợc của Mỹ thì càng
tập trung và càng có nhiều điều kiện để lũng đoạn nhiều ngành kinh tế, trong
đó đa số là bọn xuất thân từ địa chủ phong kiến, hoặc từ tầng lớp sĩ quan cao
cấp, hoặc từ tầng lớp quan lại, công chức cao cấp của chế độ thực dân.
Ra đời từ viện trợ Mỹ, phất lên từ cuộc chiến tranh xâm lợc thực dân
mới, lại đợc Mỹ nâng đỡ, mặc sức cho làm giàu, nên ngay từ đầu giai cấp t

loại mại bản đặc biệt, một tầng lớp kinh doanh chủ yếu là buôn ngời và buôn
lậu. Hơn bất kỳ một bọn nào khác trong giới cầm quyền, chúng đợc chủ Mỹ
o bế, cng chiều. Nó đã chèn ép tất cả các đảng pháikhác, nắm trọn quyền
hành. Đó là các thiếu uý hay trung uý phờng trởng, đại tá tỉnh trởng và đô tr-
ởng Sài Gòn, là bọn tớng t lệnh các quân khu trong bộ quốc phòng, bọn tham
mu quân nguỵ. Chúng khống chế, nẵm giữ việc tổ chức từ các quán bar, nhà
chứa cho đến ngành kinh doanh hoá chất, xuất nhập khẩu, các ngân hàng lớn
và là chùm những vụ buôn lậu khủng khiếp. Cấp càng cao, quyền càng lớn,
buôn bán càng mạnh thì của cải càng nhiều.
Từ chỗ cùng cầm quyền, có quyền lợi gắn bó với nhau, gắn bó với Mỹ,
bọn mại bản quan liêu quân phiệt trở thành công cụ đắc lực của chủ nghĩa
thực dân mới Mỹ.
19
- Giai cấp t sản mại bản miền Nam nắm độc quyền kinh doanh trong
mọi ngành kinh tế, khống chế các cơ sở sản xuất, lu thông, phân phối quan
trọng.
Ngay từ thời Diệm, bằng chính sách viện trợ thơng mại hoá dành cho
bọn tay sai trung thành nắm độc quyền nhập cảng, làn môi giới trong việc
bán hàng viện trợ, hởng hoa hồng tới 25% giá hàng, đồng htời tổ chức ra các
công ty hỗn hợp, Mỹ đã sớm tạo ra giai cấp t sản mại bản, con đẻ của đồng
đô la.
Về sau, chiến tranh càng mở rộng, viện trợ Mỹ ném vào miền Nam
ngày càng nhiều thì đám ngời toàn quyền chi phối miếng mồi béo bở ấy càng
phất lên nhanh chóng. Nói cách khác, bằng các biện pháp chính trị, kinh tế,
xã hội, kết hợp với việc nâng đỡ, giành cho t sản mại bản miền Nam những
đặc quyền, đặc lợi, những chế độ u đãi, trong kinh doanh xuất nhập khẩu,
trong việc làm cai thầu chiến tranh, chủ nghĩa thực dân mới Mỹ đã duy trì đ-
ợc một tầng lớp t sản mại bản thân Mỹ có thế lực về chính trị, có nhiều
quyền lực về kinh tế, nắm độc quyền kinh doanh các ngành kinh tế, nắm giữ
hầu hết tất cả các cơ sở sản xuất, lu thông, phân phối quan trọng, lập thành

quyền thành tay chân, thành chỗ dựa cho chúng tuỳ tiện kinh doanh, gây tội
ác với nhân dân.
2.3.2.2. Đặc điểm 2: Thế lực kinh tế của giai cấp t sản mại bản, nhất
là bọn mại bản thân Mỹ, đã phát triển mạnh
Từ chỗ cầm quyền, nắm độc quyền về chính trị, giai cấp t sản mại bản
ở miền Nam càng có điều kiện phát triển thế lực về kinh tế.
Trong thời kỳ kháng chiến, mọi nguồn nhân lực, vật lực của cả nớc
đều dồn cho chiến tranh. Vì vậy, nền công nghiệp dân tộc bị giảm sút, thị tr-
ờng nguyên liệu và tiêu thụ ở nông thôn hầu nh bị cắt đứt với thành thị. Còn
ở thành thị, do dân số tăng cao bởi sự tập trung của quân đội viễn chinh Pháp
và bọn ngụy binh, ngời ở nông thôn cũng chạy ra thành thị nhiều, nguôn tiêu
thụ hàng hoá rất lớn, mà ở thành thị lại ngập tràn hàng hoá ngoại. tình hình
đó tạo ra một số t sản mại bản làm giàu lên nhanh chóng nh: Mai Văn Hàm,
Nguyễn Văn Chung, Vũ Ngọc Tiến, Trần Văn Chi
Sau khi hoà bình lập lại ở miền Bắc, hầu hết bọn t sản mại bản chạy
vào miền Nam tiếp tục kinh doanh với đế quốc. Miền Nam trở thành nơi tập
trung tất cả bọn t sản mại bản.
Nhng cũng từ sau khi hoà bình lập lại, đế quốc Mỹ hất cẳng Pháp khỏi
miền Nam Việt Nam, viện trợ trực tiếp cho chính quyền miền Nam. Với
hình thức thực dân kiểu mới của Mỹ, giai cấp t sản maị bản càng có khuynh
hớng phát triển, nhất là bọn mại bản thân Mỹ.
21
Viện trợ Mỹ một phần là vũ khí và quân dụng, còn phần lớn là
hàng hoá ế thừa của Mỹ đa vào dới hình thức viện trợ thơng mại hoá. Hàng
hoá viện trợ trung bình chiếm 80% tiền viện trợ. Giá cả mọi thứ hàng hoá
viện trợ do t bản lũng đoạn Mỹ quy định cao hơn giá cả trên thị trờng quốc
tế. Nhng dới danh nghĩa lừa bịp đợc chính phủ hai bên cộng tác để quy định
ở mức phải chăng. Nh vậy, đối với đế quốc Mỹ, chúng đã thực hiện đợc lợi
nhuận cao nhất. Hàng hoá đó đa vào miền Nam, xxa bán đấu thầu, mức độ
lãi đợc quy định chính thức là bán buôn đợc hởng tới 25% giá hàng nhập tới

miền Nam đã chủ trơng phát triển lực lợng t sản mại bản dới hình thức những
công ty kinh doanh hỗn hợp. Nhằm một mặt, bọn chúng ngày càng tăng cờng
đầu t vào miền Nam và buộc chính quyền miền Nam mời chúng vào đầu t,
nhng một mặt khác để lừa bịp rằng miền Nam có độc lập, để hoà hoãn bớt
mâu thuẫn giữa t sản miền Nam và t sản ngoại quốc, đồng thời để tạo chỗ
dựa cho chúng, cho nên chúng đã có chủ trơng ấy. Tuy thức chất của những
công ty hỗn hợp ấy phần lớn vốn là của t bản ngoại quốc, quyền quản lý nằm
gọn trong tay bọn t bản ngoại quốc, nhng về danh nghĩa đợc quy định lừa bịp
trên giấy tờ rằng vốn của t sản Việt Nam phải chiếm đợc 51% và ngời chủ
tịch, quản lý, hơn nửa nhân viên ban quản trị thuộc về ngời Việt Nam. Dù bộ
mặt thật của những công ty hỗn hợp có thế nào chăng nữa, với chủ trơng lập
các công ty hợp doanh của bọn đế quốc sẽ dẫn đến kết quả tất nhiên là lực l-
ợng t sản mại bản ngày càng tăng lên. Đã có một số công ty hỗn hợp Mỹ-
Việt ra đời. Trong số 40 công ty Mỹ mới thành lập từ năm 1955 có nhiều
công ty Mỹ- Việt. Và trong kế hoạch xây dựng hay dự án xây dựng mà chính
quyền miền Nam đề ra còn có nhiều công ty khác nữa.
Trong số những công ty hỗn hợp, ngoài bọn t sản mại bản t nhân bỏ
vốn, bọn Diệm còn nấp dới hình thức vốn của Nhà nớc nhng dùng tiền Mỹ
viện trợ đầu t vào công nghiệp. Tính đến đầu năm 1960, tổng số tiền chính
quyền Diệm đầu t vào sản xuất công nghiệp lên tới 1800 triệu đồng miền
Nam, trong đó phần của viện trợ Mỹ chiếm trên một nửa. Nhng những xí
nghiệp của Nhà nớc lại sẵn sàng bán lại cho t bản ngoại quốc. Rút cục đó chỉ
là hình thức trá hình của t bản ngoại quốc đầu t.
Tóm lại, đứng riêng về mặt kinh doanh mà nói, giai cấp t sản mại bản
miền Nam nhờ dựa vào các đế quốc, nhất là Mỹ nên đã phát triển hơn trớc.
Phát tài nhất là bọn t sản mại bản thân Mỹ.
Cần nói ngay rằng, giai cấp t sản mại bản không có thế lực kinh tế
riêng mà dựa vào thế lực kinh tế của Mỹ. Nói cách khác, chúng làm giàu
không phải bằng quá trình tích luỹ giá trị thặng d mà là nhờ vào chính sách
23

2.2.2.3. Đặc điểm 3: Giai cấp t sản mại bản liên hệ khăng khít với
giai cấp địa chủ phong kiến; đặc biệt hai bộ phận t sản mại bản thân Mỹ và
đại địa chủ phong kiến phản động thân Mỹ chỉ là một.
24
Trong điều kiện thuộc địa miền Nam còn tồn tại di tích phong kiến thì
đế quốc Mỹ cũng nh đế quốc Pháp trớc kia đều duy trì một cách nhân tạo
quan hệ bóc lột phong kiến đó. Bởi vì, duy trì chế độ chiếm hữu ruộng đát
phong kiến là bần cùng hoá nông thôn, phục vụ cho chính sách bắt phu, thuê
mớn công rẻ mạt, xây dựng căn cứ quân sự Mỹ, củng cố thế lực giai cấp địa
chủ nắm chính quyền ở nông thôn, đàn áp phong trào đấu tranh của nhân dân
Viẹt Nam, kìm hãm sự phát triển của nền công, thơng nghiệp dân tộc.
Chính sách cải cách điền địa của Mỹ- Diệm cho phép địa chủ cớp đoạt
lại ruộng đất của nông dân đã đợc chia trong thời kỳ kháng chiến, cho binh
lính đàn áp nông dân và thu tô cho địa chủ đã biểu hiện rõ rệt nhất rằng: đế
quốc Mỹ quan tâm đặc biệt đến việc củng cố thế lực giai cấp địa chủ. Trên cơ
sở đều là chỗ dựa của đế quốc Mỹ, hai giai cấp mại bản và địa chủ đều gắn
bó với nhau. Và cũng nh dới thời Pháp thuộc, mối liên hệ mại bản- địa chủ
còn thể hiện ở chỗ có một bộ phận mại bản và địa chủ đều kinh doanh theo
lối mại bản, đều có ruộng đất phát canh thu tô.
Nhng trong tình hình miền Nam hiện nay, giữa giai cấp t sản mại bản
và địa chủ, đặc biệt là bộ phận t sản mại bản thân Mỹ và đại địa chủ phản
động thân Mỹ có mối quan hệ khăng khít với nhau. Mối dây liên hệ ấy cũng
do đặc điểm quan liêu hoá của giai cấp t sản mại bản tạo ra. Hai bộ phận t
sản mại bản và đại địa chủ thân Mỹ nắm chính quyền cũng nh quyền lợi,
cùng chung vận mệnh, cùng chung mục đích chống lại cách mạng dân tộc
dân chủ ở miền Nam. Một nhân tố tăng cờng sự cấu kết giữa t sản mại bản,
đại địa chủ miền Nam là chính sách ruộng đất của đế quốc Mỹ, tạo nên xu h-
ớng mại bản hoá trong một số địa chủ.
Trớc kia, trong thời Pháp thuộc, đế quốc thực dân tạo nên chế độ
ruộng đất tập ở Nam Bộ nhằm mục đích thu mua nông phẩm với giá rẻ.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status